ẨN SĨ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước

Chương con truyện Ẩn sĩ - Chương 11 - Chương 14

Chương 11: Hồng Hà Si Mị thượng

Bấy giờ, cậu tú Nhĩ đã theo lão đạo sĩ cả thảy gần ba tháng, đối với lão đạo cũng hiểu rõ hơn không ít. Thời gian ba tháng này, ngoại trừ việc đi về nơi môn phái lánh đời của lão, đôi thầy trò còn tranh thủ dạo một vòng vùng Hà Ninh trừ tà bắt ma, theo lão đạo nói thì đấy là hạ sơn tạo phúc cho dân chúng, nhưng cậu tú thừa biết rằng đấy chính là đi kiếm chút tiền nhang khói.

Lại nói môn phái của lão đạo sĩ vốn gọi là Thái Vi, mà lão tự vỗ ngực xưng là Thánh địa Đạo gia của cả Lĩnh Nam, nhưng cậu tú lại bĩu môi, vì đúng nơi ấy từng là Thánh đại Đạo gia thật, nhưng từ thời Thánh Tông Hồng Đức vốn dĩ nước ta độc tôn Nho giáo, nên Thái Vi cũng lùi dần vào vũ đài lịch sử.

Đến tận đời lão đạo sĩ tổng cộng qua bốn mươi hai đời, mà hơn ba mươi đời đều là độc đinh- thầy trò rau cháo nuôi nhau. Nghĩ đến đây cậu tú lại ngán ngẩm- Đạo gia vốn suy tàn, có mấy môn phái được như pháp tràng Nội Đạo Tràng trong xứ Thanh Hoa, mấy vạn tín đồ, giáo chủ lại được tôn làm Thượng Sư, còn Thái Vi thì đúng là nghèo hàn đến mức dột nát.

Vừa đi vừa suy nghĩ, bỗng nhiên cậu tú sững người, bấy lâu nay cậu đi theo lão đạo sĩ cũng không phải nằm không, đã học được một ít chân truyền của lão- mà theo lão là công phu Đạo gia truyền thời Chử Đạo Tổ tới nay, cậu khịt khịt mũi, rồi nhìn quanh quất. Tức thì lão đạo sĩ liếc sang, cười nửa miệng rất tà dị. Cậu tú hiểu ý liền nhìn xuống tay lão, thấy ngón trỏ tay phải lão áp sát vào Hợp Cốc, liền lẳng lặng nuốt những lời định nói vào lòng. Bởi vì, đây chính là ám hiệu riêng của Thái Vi, nghĩa rằng- “Xương cứng” trước mặt, không được đánh động.

(Xương cứng chính là yêu vật tu vi không tầm thường, có thể mang phép biến hóa, có sức phiên giang đảo hải, lại mang trong mình thần thông. Thường thường, môn nhân Thái Vi khi gặp yêu vật hạng này, thường thường bày trận pháp để phòng yêu vật có thể tẩu thoát).

Bấy giờ cậu tú Nhĩ cũng lẳng lặng theo đoàn người xếp hàng lên thuyền, những năm đầu Đồng Khánh nào đã có cầu Long Biên, nên người dân ven Nhĩ Hà đều phải đi lại bằng thuyền. Việc đi lại bằng tuyền đò lúc bấy giờ ở sông Nhị Hà cũng vô cùng bất tiện, mùa Thu Đông còn đỡ được phần nào, tuy có hơi lạnh nhưng cũng không tới mức nguy hiểm. Nhưng khi Hạ về, tiết Đại Thử mang theo lũ về, cả dòng Nhĩ Hà đục ngầu, sống lớn gầm thét. Bấy giờ triều đình ngoài việc phải ra sức tu chỉnh đê điều, lại càng phải khuyến cáo người dân không nên vượt sông. Nhưng hiềm nỗi "Dân dĩ thực vi thiên"- Vì tiền liều cả mạng, nên mỗi năm Nhĩ Hà thường thường luôn có tai nạn luôn luôn, ngư phủ sống quanh sông lại có quan niệm "Người rơi xuống nước lật thuyền là do Hà Bá muốn kẻ này xuống làm người hầu, cứu kẻ này là đắc tội với Hà Bá". Vậy nên số người vong mạng dưới sông thật không thể đếm xuể.

Khi cả hai bước lên con thuyền lớn để vượt sông, cậu tú cùng lão đạo sĩ không nói không rằng lùi dần về phía mạn thuyền, cả hai nhẹ nhàng không làm ai chú ý. Cậu tú Nhĩ mới thì thầm nói khẽ:

– Con thấy khi chúng ta bước lên thuyền này, tự nhiên lạnh lẽo bất thường, lại mang theo hơi lạnh vương vất mùi tử khí. Ắt hẳn có quỷ quái làm trò quỷ quái...

– Không chỉ là hơi lạnh, mà cả con thuyền này e chẳng phải thứ nên xuất hiện ở đây...
Lão đạo sĩ vẫn treo nụ cười nửa miệng trên môi mà thì thầm đáp lại, nhưng hơn ai hết trong lòng lão bất an lạ kỳ. Loại bất an này đến từ tiềm thức, tựa hồ mỗi khi trước tai họa đến, mọi loài vật đều có linh cảm- linh cảm của người tu Đạo càng mạnh mẽ.

Con thuyền nhẹ nhàng rẽ sóng vượt qua lòng sông Nhị Hà, lúc này trên thuyền đủ loại hành khách, trẻ có, già có, đàn ông có, đàn bà lại càng nhiều. Họ trò chuyện với nhau ồn ào, rôm rả đến nhức cả tai, bỗng nhiên có một thiếu phụ chun chun mũi, rồi hỏi lớn:

– Trên thuyền có mùi gì lạ quá?? Như mùi … ưm..như mùi thịt thối vậy??

Tức thì cả thuyền im bặt, như đồng tình với người thiếu phụ. Tuy nhiên, trong giây phút này, sự yên lặng thật đáng sợ, không gian tĩnh lại tựa hồ có thể nghe được âm thanh của trái tim đang đập. Người thiếu phụ cũng nhận ra vẻ bất ổn, liền dáo dác nhìn xung quanh, tức thì nhận lại hàng chục ánh mắt lạnh băng đổ dồn vào mình.

Ả sợ hãi quá, bật ngã ngay xuống lòng thuyền.

Bấy giờ một người hành nam khách đứng tuổi mới đứng dậy, trên thân hình người này bỗng trở nên trương phình ra gấp rưỡi, làn da vốn hồng hào lại trắng bợt đi như ngâm nước lâu ngày, rồi trở nên nhớp nháp, tanh tưởi. Rồi làn da như bột bông phèn gặp trời nóng, nó nhão ra, chảy xuống lòng thuyền, từng đàn dòi bọ trắng nhung nhúc tuôn ra từ lớp da hư thối ấy. Người thiếu phụ thét lên, bò dần xuống cuối thuyền, hiển nhiên nhận ra cuối thuyền vẫn còn hai người đàn ông bình tĩnh lẳng lặng đứng nhìn, liền liều mạng bò tới nhằm nắm lấy cọng rơm cứu mạng này.

Không gian như đặc quánh lại, bấy giờ cậu tú liền nhận ra cả con thuyền lớn ban nãy liền mất đi màu sơn sáng bóng, dần chuyển sang màu nâu xỉn, mang theo mùi mục nát sộc thẳng vào mũi, còn bấy nhiêu hành khách trên thuyền, ngoại trừ hai thầy trò cậu cùng thiếu phụ kia. Dĩ nhiên lại là một đám không phải “người”.

Thiếu phụ bấy giờ đã núp sau lưng hai thầy trò, tuy sợ hãi đến gần chết, nhưng trong tình cảnh này, tư duy con người lại càng trở nên tỉnh táo, liền hỏi vu vơ hai người:

– Chúng là thứ gì?

– Là Vong hồn táng mạng dưới sông này, hay còn gọi là Ma da!

Lão đạo sĩ cau mày trả lời, rồi lão tiện tay quơ quơ mạn thuyền vài cái, bẻ một miếng gỗ ở thành thuyền- chất gỗ vốn mủn nát niền bở ra như xốp, thoắt cái đã bị lão bẻ mất một mảng to như cái rổ rồi!

Lão vân vê miếng gỗ mục rồi thủng thỉnh nói:

– Thuyền này mục nát không phải do dầm trong sông nước, mà là do bị hút Mộc khí của gỗ nên mủn nát. Bọn mi cũng không khác, vong mạng mà Linh đài chưa cạn đã tắt, tinh khí không còn, hẳn là do Võng Lượng?

Chương 12: Hồng Hà Si Mị thượng (tiếp)

Khi lão đạo sĩ nhắc đến hai từ “Võng Lượng”, tức thì đám hành khách kia bắt đầu gào rú, con thuyền liền tròng trành như sắp lật. Nhưng tuyệt nhiên mặt sông vẫn phẳng lặng như không nổi bất cứ sóng gió gì. Bất ngờ, cả đám hành khách kia thân thể bắt đầu trương phềnh lên, mặt mũi chúng lúc này không còn là dáng vẻ của con người nữa.

Chúng lồi lõm, nát bươm vì bị cá rỉa tứ tung, hơn nữa rời bọ nhung nhúc chui từ chỗ hở thịt, thật khiến người khác buồn nôn. Chúng từ từ lết đến gần ba người, mỗi bước đi liền rơi rớt từng miếng thịt thối, mắt chúng nhìn chăm chăm vào ba con người đang sống trước mặt. Thều thào những tiếng khó nghe, bởi vì cả hàm và quai miệng của chúng đã đứt lìa, chỉ còn lủng lẳng gắn với cái sọ bằng ít thịt nát, nên họng không mấy khi phát ra âm thanh.

Lão đạo sĩ cũng không tỏ vẻ kinh sợ, lão liền lục tay nải đeo cạnh người, rút ra mấy tấm bùa vẽ chu sa. Tức thì gắn thêm vài viên Thần Sa đặt trên mùa, ném về phía lũ ma da. Bọn ma da sau khi dính phải bùa, liền quằn quại đau đớn, chúng điên cuồng càng bò nhanh hơn về phía đuôi thuyền, nhưng không được mấy bước thì thân thể chảy nhũn ra, chỉ còn là bộ xương dính gân thịt nhầy nhụa mà bò, còn thịt thì nhão nhoẹt trên lòng thuyền không ngừng tan chảy.

Cả ba người thở phào, tưởng chừng qua được một kiếp, bỗng nhiên cậu tú Nhĩ bỗng thấy tay phải nhơm nhớp, hóa ra trên bàn tay cậu tựa vào mui thuyền từ nãy tới giờ không phải là gỗ, mà là thịt thối y như thịt của lũ Ma da kia. Hoặc có lẽ, thịt lũ ma da kia chảy xuống, hoàn toàn bị con thuyền ma này hút hết rồi. Và nó từ một con thuyền ma làm bằng gỗ, giờ trở thành một con thuyền ma làm từ thịt xác thối…

Lão đạo sĩ tức thì hiểu rằng:”Cả con thuyền này vốn dĩ là một thể với lũ ma da kia. Dù dùng bùa làm tan chảy hết thịt rữa trên người chúng, thì cũng không có tác dụng gì với con thuyền này!” 

Lão liền ra hiệu với cậu tú, cả hai ôm theo người thiếu phụ kia bỏ thuyền nhảy xuống sông. bởi vì, con thuyền kia sau khi trở thành một xác thuyền thịt nát, thì số thịt nát mang theo dòi bọ ấy hình thành xúc tu thịt như con giun lớn, đã vươn tới cả ba người.

Lúc này, khi cả ba nhảy ùm xuống nước, bỗng nhiên gió lớn từ đâu thỏi thốc tới, cả lòng sông bắt đầu nổi lên sóng nước. Còn thuyền lắc lư chao đảo, rồi lật ngửa lên, chìm xuống lòng sông sâu thẳm. Cậu tú chưa kịp mừng thầm thì hốt nhiên một lực kéo mãnh liệt kéo mạnh vào chân, làm cậu mất đà chìm hẳn xuống nước. Không kịp ngưng nghỉ, cậu vội nhìn thì ra dưới bắp vế cậu có hai bộ thi thể rữa nát đang túm chặt, không ngừng kéo xuống. Thì ra con thuyền ma quái chìm xuống, là lúc mà bọn Ma da sẽ trơ về với lòng sông, nơi chúng mang theo oán hận vô tận mà vong mạng. 

Cậu tú không kịp nghĩ ngợi gì, vội nín thở mà lấy từ tay nải một đống chai lọ hồ lô, tất cả đều là dược liệu từ tà mà lão đạo sĩ đã đưa cho trước khi lên thuyền, đổ hết ra. Dược liệu hòa tan trong nước sông, làm màu nước xung quanh đục ngầu, hai con ma da đang ôm lấy chân cậu tú có vẻ đau đớn không cùng, da thịt vốn đã rữa nát liền như bị thiêu cháy, mỗi phần thịt rữa đều sủi bọt lên miếng bọt biển nhúng nước vậy, rồi từ từ đen cháy hết cả. Rồi hóa thành hai bộ xương trắng hếu chìm xuống dòng nước. Cậu tú được giải thoát, vội ngoi lên mặt sông nhìn tứ phía xem.

Bỗng cậu phát hiện lòng sông bấy giờ xuất hiện một vùng nước đen kịt, cậu lặn xuống cố nhìn vào phía vùng nước. Ở đấy có hai thứ, là lão đạo sĩ và một vật tựa như khối thịt, nhưng lại có một khuôn mặt giống người ở bốn phía. Cậu tú mới sực tỉnh, hóa ra nó chính là Võng Lượng trong lời của sư phụ. Cả con thuyền mà ấy chính là Võng Lượng- nó hóa trang thành thuyền buồm chuyên trở người qua sông, đến giữa dòng người này không để ý, liền nhân cơ hội lấy mạng người.
Trương Bình Tử Tây Kinh phú có từng ghi “Võng lượng la quỷ thần, ngụ trong gỗ đá. Tương truyền rằng thời Thương, có nho sinh tên Lượng, bỏ bê nghiệp đèn sách, chỉ vui thú thói phấn hoa, sau say rượu ngã sông mà chết. Oan hồn y vất vưởng không tan, nhập vào gỗ đá dưới sông mà hóa thành Lượng. Lượng trời sinh quái ác, nhằm người yếu bóng vía mà ăn thịt người ta. Lại có thói ẩn mình sâu kín mà rình. Nên tục thêm tên là Võng- tức là núp như cái bóng. Võng Lượng sau này được thờ như thần sông”.

Cậu tú cố gắng vớt được người thiếu phụ lên bờ, rồi đứng trên bờ mà lo lắng nhìn xuống. Tự biết tài phép mình chưa đủ, xuống nước chỉ hiềm vướng tay vướng chân lão đạo sĩ. 

Bỗng “Ầm … Ầm..” hai tiếng lớn, lòng sông như bị rạch ra bằng lưỡi dao vô hình, rồi Võng Lượng thét lên một tiếng như tiếng trẻ con khóc, nó quay người nhìn chằm chằm vào lão đạo sĩ đang huyền phù ở mặt nước, sau đó không cam lòng lặn mất. 

Dù chỉ nhìn thoáng qua, nhưng cậu tú biết ắt hản nó đã ăn không ít đau khổ, thân thể nát ra thành nhiều mảnh, từng tảng thịt thối trôi từng mảnh dập dờn trên mặt nước, năm khuôn mặt người giờ chỉ còn hai. Tức thì cậu tú lao xuống bơi dìu lão đạo sĩ, vì lão cũng đã mệt lử người, dáng vẻ không tốt lắm.

Bấy giờ, người thiếu phụ đã tỉnh, ả ngơ ngác nhìn xung quanh, ánh mắt vẫn hốt hoảng như chưa tỉnh cơn ác mộng. 

Nhận thấy lão đạo sĩ đang thở hắt từng hơi yếu đuối, ả liền sắm sửa lại quần áo, đon đả mời cậu tú và lão đạo sĩ về nhà,. Cậu tú vẫn dùng dằng chưa quyết, vì nghĩ làm phiền người ta là không nên, nhưng ả thiếu phụ mời chào gắt gao quá, lại thấy sư phụ mình đang mệt nhọc mà tạm thời lịm đi. Cậu tú liền cõng lão đạo sĩ theo chân ả thiếu phụ kia rảo bước đi về phía trước, mà không để ý rằng ánh mắt của á khẽ lóe lên sáng rức, miệng cười cười…

Chương 13: Hồng Hà Si Mị hạ

Cậu tú xốc lão đạo sĩ lên vài lần nữa, để chắc chắn lão không tuột. Người lão nhũn như chi chi, hơi thở lúc có lúc không, vẻ mặt trắng bệch như sắp đứt hơi. Cậu tú thấy thế hốt hoảng lắm, liền giục giã ả thiếu phụ nhanh chân thêm một chút. Người thiếu phụ cũng cười cười đon đả đáp lại, ả dẫn cậu tú xuyên qua lũy tre tiến vào một thôn xóm nhỏ. Thôn xóm này tịch mịch lạ thường, buổi chiều nhưng vắng lặng tựa như đêm khuya canh năm vậy.

Đường làng không một bóng người, thậm chí ngay cả một con gà, con chó cũng không thấy. Cậu tú thấy làm lạ, đang định hỏi thì ả thiếu phụ như là biết ý, liền quay sang cười tủm tỉm rồi đáp:

– Bấy giờ vào vụ Chiêm, nên người ta ra đồng hái gặt cho được ngày cậu ạ! Làng giờ vắng như chùa bà Đanh thế này đấy!

Trăm việc thì việc có ích nhất là đọc sách, mà vô dụng nhất cũng chỉ là đọc sách! Cậu tú Nhĩ vốn là loại “Học trò dài lưng tốn vải”, nào có biết vụ mùa gì đâu. Vậy nên, nghe ả thiếu phụ nói thế cũng bùi tai, bao nhiêu nghi ngờ vứt hết ra khỏi đầu, gật gù lia lịa rồi tiếp tục cõng lão đạo sĩ theo bước chân ả đi về cuối thôn.

Đến trước một căn nhà to, ả thiếu phụ khẽ khàng mở cổng mời cậu tú vào. Đến đây thì cậu tú cũng sửng sốt, căn nhà gạch bảy gian to, mái ngói tường hoa, xung quanh là hàng dâm bụt cùng trà mạn xanh ngắt. Vào thời buổi này, nhà gỗ ở vùng quê đã được xem là phong lưu, vậy thì ắt hẳn chủ của căn nhà gạch này cũng thuộc dạng có máu mặt lắm. Vừa nghĩ cậu tú vừa lẽo đẽo bước vào, bấy giờ đã xẩm tối, mặt trời dần xuống núi, ánh sắng cuối ngày vừa đủ để gà có thẻ lên chuồng, còn mắt người đã bắt đầu nhấp nhem. Tuy nhiên, vừa bước qua cánh cổng, cậu tú bỗng thấy lạnh toát sống lưng. Một cảm giác lạnh lẽo chạy dọc từ chân lên đỉnh đầu, khiến da đầu cậu gai lên, tóc gấy dựng lên hết. Hơi lạnh len lỏi không biết từ nơi nào xoắn tới thân hình cậu, tựa như có hàng ngàn lưỡi dao cạo sáng loáng rờ rẫm khắp thân thể.

Cậu tú đang hoảng hốt, đứng như trời trồng trước cổng nhà thì bỗng có người vỗ vai cậu một cái. Cái vỗ vai bất ngờ khiến cậu giật thót, suýt buông cả tay đang cõng sư phụ trên lưng, cậu quay phắt sang thì ra là ả thiếu phụ. Rõ ràng là ả thiếu phụ đi trước cậu cả vài thước, không ngờ một phút bần thần mà ả lại có thể đi vòng sau lưng cậu được rồi.

Ả thiếu phụ thấy cậu tú bần thần, liền ngọt ngào nói với cậu:

– Cậu tú sao thế? Tôi đợi mãi mà không thấy cậu với cụ đâu! Giờ cậu đưa cụ lên nhà trên nghỉ nhé, tôi làm cơm ngay bây giờ!

Rồi chẳng nói chẳng rằng, ả vừa mời vừa đẩy cậu tú lên bằng nhà trên bằng được. Nhà trên trong căn nhà bảy gian thường là nhà thờ, chỉ khi có khách quý thì chủ nhà mới mời lên, cậu tú lúc đầu cũng ái ngại từ chối, nhưng ả thiếu phụ muốn đền ơn cứu mạng của hai thầy trò nên nhất quyết bắt cậu lên phản giữa nhà để ngồi. 

Cậu tú vừa bước vào gian giữa, thì cái cảm giác lạnh lẽo kia lại xộc thẳng vào cậu. Dù mới đầu tháng mười nhưng cậu tú đã thấy hơi lạnh về như tiết Hàn thử, cậu Nhĩ vội lục tay nải lấy cái áo choàng khoác vội cho lão đạo. Sau đó liền lấy chiếc đỉnh đồng đen ba chân của sư phụ, đốt lên một mảnh Kỳ Nam nhằm xua đi hơi lạnh, cũng xông khí hương trầm cho sư phụ mau tỉnh.Đang loay hoay bấm huyệt cho lão đạo, cậu Nhĩ liền nghe tiếng thiếu phụ gọi lên khe khẽ, đang định đáp thì bỗng thấy ả đã mon men đứng trước cửa rồi.

Cậu tú bỗng hốt hoảng, vừa rồi nghe tiếng ả gọi, cậu nghe đoán ít ra ả cũng đang ở giếng dưới nhà, cách vài chục thước nữa. Vậy mà vừa dứt lời ả đã ở trước cửa, là cậu đoán nhầm, hay ả vốn có vấn đề gì chăng? Cậu không dám khinh suất cử động, vội vàng nín thở, vì ả thiếu phụ vừa bước vào nhà thì ánh mắt đảo khắp phòng, nhưng kỳ lạ là ả như không nhìn thấy hai thầy trò. Ánh mắt ả thiếu phụ trở nên đỏ rực, mặt mũi méo mó, hung quang trong mắt tràn ra, ả nhảy bổ về phía chỗ phản lớn nơi cậu tú và sư phụ đang nằm nghỉ.

Cậu tú thấy thế định trở thân ngăn trở thì từ đàng sau có một cánh tay khô gầy bịt miệng cậu, một cánh tay nó túm vào vai giật ngược người cậu về sau. Trong cơn kinh hãi, cậu chợt nhân ra đấy là sư phụ, liền thở hắt ra một hơi. Lúc này ả thiếu phụ gần như không còn hình người nữa, khắp người nó bắt đầu mọc lông tơ màu xám xịt, móng vuốt dài ra, ánh mắt màu đỏ rực như lửa đèn. Sau cú vồ hụt, nó lại gào rít trong nhà, nghĩ rằng hai kẻ kia đã bỏ trốn mất dạng, con quái vật không nghĩ ngợi gì vội vọt ra ngoài.

Lúc này, cậu tú mới hết sợ hãi. Quay sang nhìn sư phụ thì thấy lão đã tỉnh táo, lão lúc này mới mặc áo bào dài vào, quát khẽ:

– Ngươi quả thật không biết sợ là gì! Vừa trừ xong yêu vật, há làm sao có thể theo kẻ lai lịch bất minh thế này!
Cậu tú cũng biết mình sai, nên không dám cự cãi. Lúc này cậu đánh bạo hỏi dò:

– Trong yêu vật đấy không khác người thường, lại không có tà khí! Lúc đấy tâm thần con đương bấn loạn, nên mới đi theo ả! Nhưng quả thực kỳ lạ lúc đấy con cảm thấy yêu vật này rất giống người thường, không biết duyên cớ ra sao?

Lão đạo lúc này đã sửa soạn lại xong, lão phẩy phẩy tay về phía đỉnh nhỏ mấy cái, hương Kỳ Nam đang tụ lại thành cái kén khói quanh hai thầy trò bỗng tản ra, bay lờ lờ khắp căn nhà, tạm thời xua tan đi cái lạnh. Lão cười gằn một tiếng, tiếp lời:

– Nó nào có phải yêu quái yêu vật gì chăng mà có tà khí quấn thân! Nếu vi sư không nhầm, nó chính là Sơn thần chi nô, là linh bộc, nô bộc của Tản Viên thánh nhân- danh xưng Si Mị. Cũng đừng tưởng Si Mị nào cũng giống nhau, Xuân Thu có viết: “Si là thần núi, hình thú. Mị là quái vật sinh ra từ đá!”. Thái Vi chúng ta từ xưa tới nay đã sưu tầm được 142 chủng Si Mị, tiễu trừ Si Mị hàng ngàn hàng vạn, nhưng mỗi đầu Si Mị là khác nhau. Tốt nhất không được khinh địch.

Cậu tú lúc đầu mới âm thầm ân hận, thì ra mình bị yêu vật lường gạt, chút nữa hại cả sư phụ. Bỗng chốc khói tầm tan hết khắp căn phòng, liền hiện ra cảnh tượng kinh dị đến tột cùng. 

Bộ trường kỷ bên trái gian phòng có năm cái xác người- có già trẻ lớn bé, trai gái nam nữ đều có. Và tất cả đều một thảm trạng trước khi chết, làn da khô quắt như mất nước, cả người nhũn ra, mắt bị móc mất. Cậu tú cố nén sợ hãi đi lại gần quan sát, thì mới phát hiện ra máu của toàn bộ năm người này đã bị hút sạch, gân cốt trong người bị tán cho nát vụn hết. 

Điều đáng kinh tởm hơn, là phía sau đầu như bị xé toang ra, toàn bộ não tương đều bị hút sạch. Cậu tú vừa sợ vừa giận đến run người, không ngờ đầu Si Mị này lại ra tay tàn độc đến thế, sau đó cậu bỗng giật mình- cả làng này không có chút sinh khí, chẳng lẽ là bị đầu Si Mị này tàn sát hết rồi chăng?

Bấy giờ lão đạo mới nhanh lại chỗ cậu, lão cũng hơi giật mình nhưng vội kéo cậu tú, khuyên bảo:

– Rất nhanh đầu Si Mị kia sẽ quay lại, nhanh đi khỏi chỗ này trước. Âm Địa bực này ở lại không phải là điềm hay, chúng ta đợi trời sáng sẽ quay lại…

Chương 14: Hồng Hà Si Mị hạ (tiếp)

Cậu tú với lão đạo sĩ vội vàng chạy nhanh về phía rìa làng, lúc này cả hai chạy không ngưng nghỉ. chạy được tầm hơn một canh giờ, cả hai ngồi xuống thở dốc. Đang nghỉ ngơi thì bỗng nhiên gió lạnh thổi thốc tới, theo đó là một mùi vị bất an khó diễn tả được. Lão đạo sĩ nhíu mày, liền ngay đó cắn ngón tay trở tay trái, vẽ lên gốc cây chò đối diện một đạo phù văn, sau đó niệm chú:

– Lĩnh Nam thiên vi Hồng Bàng nhân, La Bình lâm chủ vi Sơn Tiêu chi binh! Khởi… Khởi… Khởi.

Tức thì từ trong cây chò đối diện bỗng nứt dần ra, rồi từ chỗ nứt có một dị vật bò ra. Thoắt cái, từ hình dạng nhỏ như bàn tay người lớn, nó đã lớn như thổi cao gần ba trượng, mặt mũi dữ tợn, hai hàng răng nanh dài như lưỡi dao. Thân thể cao lớn dị thường, lông dài màu xanh như rêu, trên đều có sừng như sơn dương, lại chĩa nhánh như hươu, thân thể to lớn nhưng hai tay lại dài giống vượn, mắt có tới sáu con, nhưng lại ba cặp thì có hai cặp mắt như mắt mèo, còn đôi mắt còn lại đồng tử vàng khé, sọc dài như mắt rắn. Không cần bàn cãi nữa, cậu tú biết rừng đây là Linh vật mà người ta ngày đêm đồn thổi, Sơn Tiêu!

Lúc này đầu Si Mị kia đã đuổi tới, cậu tú lúc này mới nhìn rõ được chân thân của nó. Si Mị mang cánh dơi, chân dê, đuôi như đuôi hổ đập đi dập lại xuống đất. Ả có khuôn mặt mèo nhưng lại có tai trâu, vuốt dai nửa gang tay người, tuy thân thể có lông mao màu xám, nhưng ẩn hiện ở dưới lại là một tầng lân phiến thật dày như con tê tê. Cậu tú hit lạnh một hơi, rõ ràng đây là đầu lĩnh của Si Mị, Tu La Kiền Si.

Lại nói về Kiền Si, trong Kinh Phật có viết “Khi Đức Phật ngồi tham ngộ dưới gốc cây Bồ Đề, Ác Ma Thiên có đến quấy quá Ngài, hắn cùng Ngài đấu trí đấu Pháp liền thua. Nhưng thủ hạ của hắn trốn thoát có Thiên ma Ba Tuần cùng Tu La Kiền Si”. Còn Thái Vi có viết “Kiền Si là đầu lĩnh của chư thiên Si Mị. Si Mị oán khí tích dày, lại không có Thần để tu luyện, không sinh Linh đài, không tạo Nguyên Anh. Nhưng Kiền Si vào ngày Hạ nguyên (Tết Trùng Thập) mà lợi dụng Âm Dương giao hòa, cướp đoạt đi Dương khí mà trở Kiền!”. Vậy nên dù lý giải theo Phật hay Đạo thì Kiền Si pháp lực không thể nghi ngờ được.

Kiền Si và Sơn Tiêu đều có thân dựa nuí, lấy sơn linh thạch khí mà nâng cao pháp lực. Hai chủng này không giống như Si Mị và Võng Lượng lãnh thổ địa bàn xa nhau, tạm thời mà cấu kết- chúng nhìn thấy nhau như nhìn thấy tử địch thiên sinh. Hơn nữa Kiền Si vốn là ma vật tự tu mà thành, còn Sơn Tiêu là sơn linh dưới trướng của Mẫu Thương Ngàn La Bình thánh mẫu, vốn chính tà đối lập, chúng liền lao vào nhau mà tử chiến.

Kiền Si cùng Sơn Tiêu mạnh mẽ không hợp lẽ thường, chúng lại chiến đấu không màng sinh tử, nên cả một cùng rừng núi như có cơn bão tó đi qua, bạt thành từng mảnh. Tiếng động vang lên ồn ã như tiếng sấm, gió thổi cùng tiếng rít gào khiến người khác sợ đến nhũn gối. Cậu tú ngoảnh lại thấy bọn chúng đang lao vào nhau cắn xé nhau như mãnh thú. Cả hai thứ yêu vật vốn dĩ hình thể to lớn hơn con người rất nhiều, giờ hung tính trỗi dậy khiến chúng không ngại triển hết thực lực, liền hóa lớn lên mà tiêu diệt tử địch.

Lúc này lão đạo mới kéo cậu tú, cả hai tiếp tục chạy sâu vào rừng, men theo sao Bắc Đẩu mà chạy ngược ra. Sao Bắc Thần chiếu sáng cả mảnh trời phương Bắc, cả hai liền chạy theo hướng Nam, lúc này lão đạo mới âu sầu mà nói:

– Kiền Si này không biết đã ăn bao nhiêu người, không phải tám chục cũng đến cả trăm! Giờ yêu khí nó đã trở nên quá tà dị rồi, đừng thấy Sơn Tiêu đang đánh ngang tay, chẳng qua là cái vỏ thôi, chúng ta mau chạy về phương Nam. Vi sư ắt có cách tiêu diệt yêu nghiệt đấy.
Chạy thêm hai ba dặm nữa, cả hai thầy trò đều thở không ra hơi. Đến lúc này lão đạo sĩ mới cười lớn, vội vàng nói với cậu tú Nhĩ:

– Nguyên Nhĩ, con mau lấy Chu Sa, cốt Xương Bồ, Kim Đồng mẫu, Thủy Liên sương rắc một vòng thành hình mũi tên cho ta. Lại thêm lấy chỉ ngũ sắc bện thật chắc thành hình mũi tên đặt lên. Ta nghĩ trận chiến bên kia đã ngã rồi, chuẩn bị vẫn hơn.

Rồi lão lại lấy tiền đồng ra rải khắp thành hình một mũi tên nữa, cậu tú nhìn kỹ mới phát hiên ra không phải là Gia Long thông bảo thường thấy, mà là một đồng tiền cổ, tuy vậy nó vẫn phát ra ánh đồng đến mê người. Lão đạo sĩ lúc này mới cười cười nói:

– Tiền đồng vì sao lại được dùng để trừ tà biết không? Người ta nói, tiền đồng qua tay nhiều người, nhiễm dương khí nặng nên mới được dùng để trừ tà. Đúng một phần thôi, đồng là con của hoàng kim, mà kim khắc tử vật, nên ta mới dùng đồng! Đồng tiền này là Càn Phù thông bảo, đúc thời Lý, đến nay gần một ngàn năm hun đúc linh khí, không thể coi thường đâu.

Rồi lão mới thở hắt ra, đi một vòng cảm thán:

– Chỗ mà chúng ta đang đứng có thể trước là một trọng thập quý phúc đại phong thủy, chính là Long Hổ cao tủng. Thế này chính là tả Thanh Long hữu Bạch Hổ, cung nhau ôm địa thế. Nhưng chắc lũ Tây dương đã cho nổ gò Thanh Long để làm gì đó, nên giờ thành kiểu Thanh Long phi khứ- Thanh Long tùy thời mà bay. Lại thêm gò Bạch Hổ vốn là chủ hành Kim, thế vốn đang dung hòa lại bị phá, nên sát khí càng nặng. Con nhìn địa thế phía trước, cả khoảng rừng bị phá đi non nửa, giống hệt thế Xung xạ Sát. Kiền Si mà tới, ta ắt xạ Kim Đồng ngũ sắc tiễn.Vừa nhắc liền tới, cơn gió tanh tưởi từ đâu lùa về, thốc bay cả hai thầy trò lùi ra sau cả mét, từ sau con gió Kiền Si đang dần tiến tới. Sau cơn kịch chiến người nó thảm hại vô cùng, hai cánh dơi một cánh bị mất, một cánh nát bươm. Con mắt trái bị móc ra, toàn thân đầy má, mà cánh tay trái bị cụt phân nửa. Cậu tú vô cùng chấn động, càng chấn động hơn nữa là trong tay nó cầm một cái đầu toàn máu, là đầu của Sơn Tiêu. Trông thấy cả hai sư đồ, Kiền Si trong mắt ánh lên vẻ hung tàn, liên cầm đầu Sơn Tiêu lên mà cắn một cái, máu mé phút ra, rồi nó nhìn về phía hai người như đe dọa. Lúc này lão đạo sĩ lại bấm quyết, giọng khàn khàn.

– Xích Quỷ tinh dạ chiếu thập nhị bát tú… Hồng Bàng nhân thụ Xích Quỷ quang vĩnh tỏa…

Tức thì cậu tú có cảm giác từ sao Xích Quỷ có một luồng sáng tụ vào người lão đạo, rồi lão bấm quyết lần nữa,ảnh sáng đấy từ người lão đưa vào trong hình tiễn mà cậu tú đã xếp trước đó. Lcs này Kiền Si mới hốt hoảng, vội lao vào, thì dưới ảnh sáng từ người lão đạo, Chu Sa, Xương Bồ, Kim Đồng, Thủy Liên nhanh chóng bị hòa tan ra. Gò Bạch Hổ bên phải phát ra tiếng gầm như hổ gầm, tiếng gầm lớn dần rồi thoắt cái không khí như ngưng đọng. Từng khí lạnh từ gò Bạch Hổ bay ra, như hư như thực bàng bạc, cậu tú từng đi vào trong khu kháng chiến Cần Vương, từng nhìn thấy người chết, thấy chiến trường. Cậu biết rõ đấy là sát khi ngưng thực từ gò Bạch Hổ. Bấy giờ mũi tên nhuộm đỏ ánh sáng màu huyết của sao Xích Quỷ, quay tròn rồi như có một cánh cung vô hình, nó bị kéo lại.

Kiền Si biết nguy hiểm tới gần, liền quay đầu định bỏ chạy.

Lúc này cánh cung vô hình bỗng như buông ra, mũi tên bay như sao băng lao thẳng về phía nó. Theo nó là cả một cơn lốc sát khí nhưng tụ của khu tuyệt địa phong thủy “Thanh Long phi khứ, Bạch Hổ bất viên nhu, Xung xạ Sát. Liền Si vừa chạy

ưa được chừng trăm trượng mũi tên đã phá gió, trong ánh mắt tuyệt vọng của nó, mũi tên bắn thủng thân thẻ, cùng gió lốc như xoáy nát phần còn lại.

Lúc này, lão đạo mới thở dài một hơi, lão bỗng cảm thấy mát lạnh. Sờ lên thì thấy lạnh lạnh, ra là lão vận quá nhiều linh lực nên quá sức, đã phát triển tới mức phản phệ, máu mũi liền trào ra.

Lão chỉ kịp quay ra nói vội một câu với cậu tú: “Trở về tông môn!” rồi ngất lịm.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước