ẨN SĨ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Ẩn sĩ - Chương 6 - Chương 10

Chương 6: Câu hồn quỷ 2

Lần này cụ Nhĩ đi khá lâu, hơn một tháng, nghe nói cụ về thăm môn phái cũ của cụa ở mạn Ninh Bình, nhưng đồng môn giữ lại nên cũ trễ nãi như vậy. Vừa về đến làng, cụ Nhĩ bỗng sửng sốt, rồi lấy cái La Bàn ra xoay xoay một chút, rồi bước nhanh về phía cánh đồng chung của làng, lúc này hầu như tất cả dân làng đều tập chung ở đấy cả. Cụ đi đến thì mọi người đều dạt cả ra cho cụ đi vào, cụ hỏi thăm thật kỹ rồi thở dài. Lúc này sau khi biết chuyện gia đình cô Huy thì cụ cũng giật mình lắm, vội rút ra một quyển thẻ tre, rút ra một thẻ rồi lấy thổi lửa từ ông mồi châm vào thẻ tre. Lúc này thẻ bùng lên cháy như tẩm dầu lạc vậy, cụ mới cầm mẩu tre cháy dở ném xuống sông, lầm nhầm mấy câu, lúc này thẻ tre rơi xuống sông vẫn tiếp tục cháy mạnh rồi trôi ngược dòng ra gần giữa sông. Cụ mới quay sang bảo các mấy bác trong làng bơi thuyền ra chỗ ấy vớt xác chú Huy lên, lúc thuyền ra giữa dòng thì mặt sông quanh đấy hai mét sủi bọt tăm lên, một mảnh sông đang xanh biếc chuyển sang màu đỏ lựng như phù sa, rồi sác chú Huy nổi lên từ đáy sông, mặt bị nước vào phù ra, nhưng không che hết vẻ quỷ dị trước khi chết của chú: Vẫn mắt lồi như gần rơi ra, lưỡi thè hẳn ra dài cả nửa gang tay, và vẫn giữ nụ cười ám ảnh trước lúc nhảy sông đấy.

Cụ Nhĩ nhìn thấy xác của chú Huy liền đứng yên lặng nhìn chăm chăm vào, cụ đang suy nghĩ cái gì đấy, sau đấy cụ quay sang hỏi cụ An:

– Nghe nói hôm nhà cô Huy treo cổ chết cụ ở đấy phỏng”

Cụ An gật đầu, rồi kể lại tỉ mỉ một lần cho cụ Nhĩ nghe, càng nghe lông mày cụ càng nhíu lại, cụ Nhĩ mới thở ra một hơi nói.

– Thôi hỏng, lần này việc khó rồi!

Nghe cụ Nhĩ nói thế ai cũng lo lắng, sau một hồi thì cụ Nhĩ mới tiếp lời, cụ bảo:

– Các cụ nhầm đây là do có con ma Thần Vòng nó xui cô Huy treo cổ nên mới đào đất ba thước tìm Thần Vòng, nhưng tôi suy đoán thì đây không phải Thần Vòng gì cả, các cụ bị nó đánh lừa rồi!

Cụ An thấy thế biến sắc, mới quay sang thảng thốt:

– Tôi có cho người cắt dây, đào dưới phần xác, có điểm nào sai hả cụ?

– Tôi e đây là Quỷ Câu Hồn, chứ chẳng phải Thần Vòng gì, ma Thần Vòng chỉ là Á Quỷ làng nhàng dụ dỗ người ta treo cổ mà chết lúc người ta đang bấn loạn, con con Câu Hồn Quỷ này thì khác, nó rút từ từ phần hồn phách của người ta. Con người có ba hồn bảy phách, nó đánh lừa mà khiến người ta tự giao ra hôn cho nó, nó huyễn hoặc người ta tự mình tìm chết. Mà còn độc địa hơn, Câu Hồn Quỷ giống như Hắc Bạch Vô Thường, đến trong minh minh, chỉ khác rằng Hắc Bạch Vô Thường là Dẫn Hồn Quỷ sứ, chuyên nhiệm vụ đưa hồn phách người tận dương thọ xuống Âm tào địa phủ để thưởng thiện phạt ác, tiến nhập Luân hồi, còn Câu Hồn Quỷ thì dụ dỗ người nhẹ dạ, nhằm cướp lắm hồn người ta, để làm nô bộc cho nó, hoặc làm thức ăn nuôi dưỡng nó, hoặc đôi khi chỉ lấy hồn phách người ta chỉ vì sở thích của nó, muốn chơi đùa! Vậy nên, Câu Hồn Quỷ vừa tà ác vừa gian trá, rất khó đối phó!!!

Nghe cụ Nhĩ nói thế dân làng ai cũng run lên vì sợ, hồi ức vê Quỷ Di Ái vẫn chưa phai nhạt chút nào, cụ Nhĩ lại đăm chiêu, thì lúc này bỗng nghe tiếng cười the thé vang lên, mọi người nhìn xung quanh thì không thấy phát hiện được gì, bỗng lúc này xác chú Huy giật giật mấy cái, rồi bò nhanh rồi nhảy tủm một cái xuống sông. Hành động nhanh quá khiến cho tất cả dân làng đều giật mình không kịp ngăn cản gì hết, lúc này cụ Nhi cũng không kém phần sửng sốt. Cụ liền bảo mọi người về hết, nhất định trong chiều nay tất cả phải có mặt đông đủ ở sân Đình, có lẽ mọi chuyện đã đi qua chiều khống chế của cụ!

Tối đến sân Đình đông nghẹt người, lần này thì có lẽ dân làng đã qua một lần tổng duyệt nên khá là nghiêm chỉnh, cụ Nhĩ mới hắng giọng nói to:

– Tôi không ngờ mọi chuyện nó lại rối rắm như thế này, e rằng Quỷ Câu Hồn nó đã mạnh lắm rồi, vậy nên phải có sự giúp sức của cả làng thì mới ổn việc được. Bây giờ tôi chỉ nói như thế này, Quỷ Câu Hồn không sợ Phù chú, không sợ Dương khí, vậy nên ta có tìm vật có tính kỵ tà cũng không ăn nhằm gì. Các chú thím cứ cứ tìm cho tôi các thứ sau: Gạo nếp, gỗ táo già, chông tre, cùng máu gà. Ngoài ra cho tôi mượn chín con chó mực! Cùng cái vạc đồng của Đình, còn lại thì cả làng cứ an tâm, tôi tất có an bài sau!Cụ An mới boăn khoăn hỏi gấp:

– Cụ biết nó ở đâu hay sao?

– Lúc nãy, khi tôi đốt thẻ tre, lửa và muội than đã bám vào xác chú Huy, tôi chỉ cần bấm độn là sẽ tìm được nó ngay, cụ cứ yên chí!

SAu mỗi ngày một việc, thoắt cái chuẩn bị xong, cụ Nhĩ bấm độn đốt tay, rồi nhờ dân làng mang hết đồ tới gốc cây bông giữ đồng Than, ai cũng khí hiểu sao lại nơi này, cụ Nhĩ vừa bày biện vừa giải thích:

– Tất cả mọi sự đều không thoát khỏi được Dịch, tôi thấy nhà cô Huy nó dụ 3 người treo cổ, không khác gì ba dấu Khôn, Khôn tức là Đất. Vì treo cổ nên chân cách xa Đất, nên đồ hình là hình Khôn, oán khi tụ dưới Đất, mà do Câu Hồn Quỷ đã dụ ba mạng người chết, toàn là trẻ con và phụ nữ, nên nó nặng về phần âm. Cần phần Dương để trung hòa, vâỵ nên cần chú Huy bị nó dẫn chết ở dưới nước, cốt để âm khí thêm nặng oán khí thêm tinh, nhưng lại phải có nộ khí, sự giận dữ của người sắp chết làm giả Nghiệp hỏa, mới trung hòa Âm Dương được! Quẻ này là quẻ thứ ba mươi sáu: Địa Hỏa Minh Di- Tả Ao tiên sinh dịch nghĩa là “Mặt trời (Ly) lặn xuống đất (Khôn) thì gây ra Bóng tối (Minh) gây ra đau thương, mất mát, chết chóc… Suy ra đúng là hợp với sự nhà chú Huy…

Nói rồi cụ nhanh tay đóng cọc gỗ táo xuống đất, chia thành Lưỡng Nghi, Lục Hợp, Bát Quái, Cửa Cung bốn trận tất cả 108 cọc, sau đấy lấy chỉ ngũ sắc cẩn thận buộc lên từng cọc, vòng quanh đấy cụ rắc gạo nếp thành một đường nhỏ dài nối các cọc với nhau, Tiếp đến cụ nhờ người chôn ống tre đựng huyết gà xuống các vị trí khác nhau! Sắp xếp xong xuôi đâu đấy, cụ chỉ giữ lại mấy người con trai tuổi Thìn và Dần, đưa cho họ mỗi người bốn túi Càn Khôn rồi bôi máu gà khắp người, sau đấy cụ đứng đợi một mình ở đấy. Đúng như cụ dự đoán, tầm hai giờ sáng có một bóng đen lững thững đi chầm chậm lại gần cây bông, lúc nó tiến lại gần thì mới nhận ra đây là chú Huy, nhưng người chú đã bắt đầu rữa nát, thịt da trên người sau khi ngâm nước hai ba ngày vừa trương lên vừa mủn ra, lại bốc mùi tanh thối nồng nặc khiến người ta phải nhíu mũi. Nó vừa đi vừa cười khe khe, rồi giương mắt nhìn cụ Nhĩ, nói bằng một cái giọng khiến người ta cảm thấy ghê sợ:

– Cút điii…. Tao không muốn giết màyyyyy
– Đừng giả bộ vô can, không ngờ Quỷ Câu Hồn lại xuất hiện trắng trợn như mi, mi giết người làm vui, bôi nhọ chức danh Quỷ Sứ, lại còn dám lộng ngôn?

Nói rồi cụ lấy nắm đậu binh ra, ném về phía con quỷ. Con Quỷ cũng khôngnói nhảm nhiều, liền lao vút lại phía cụ Nhĩ, nó thè cái lưỡi dài ngoằng ra, há to miệng cắn một ngụm vào đám Đậu binh, ngay lập tức cắn mất một húm, Cụ Nhĩ cũng ko chịu kém, ngay khi nó nuốt Hồn binh, cụ bấm quyết làm lích nổ một cái, khiến con Quỷ trong xác chú Huy nổ bay mất nửa mặt. Nó gào rú lên một tràng dài, rồi phun một đám máu ra, từ đám máu hóa thành một đám quỷ đói, quỷ lùn, ma xó lao hết vào đám Đậu, tuy đám đậu tinh nhuệ nhưng ma xó ưu thế là đông, nó kềm chế lũ Hồn Binh của cụ Nhĩ, con Quỷ thấy thế liền móc vào bụng, rút ra một cái xương sườn, hà một hơi rồi lại liếm một cái, đàng sau nó hiện ra hơn chục cái vong. Nhưng cụ Nhĩ chỉ cần đảo mắt là thấy được cô Huy cùng hai đứa con trai của cô ấy, con Quỷ cười the thé rồi chỉ tay vào cụ Nhĩ, lầm bầm vài câu niệm chú! Cụ Nhĩ cũng không hoảng hốt, liền bấm quyết hét lớn.

– Tam Tà Thiên Địa Nhân, Thiên chi Thương Khung, Càn sinh chi vị Thánh! Địa chi Huyền Hoàng, Khôn diễn hóa chư Ma. Nhân chi vạn vật chi linh, thương sinh vận vật chi tà, Hồng Mông chi bất khí vị tức, Quỷ Thần chi bất vị thượng giai. Thiên Nhai quy vị bách lẻ bát cấm! Thiên Cang tam thập lục Cương! Địa sát thất thập nhị Sát! Sát SÁt SÁt!!!

Cụ Nhĩ vừa niệm xong pháp chú, thì từ một trăm linh tám cọc gỗ hiện lên ba mươi sáu hào quang màu đỏ nhạt, bảy mươi hai hào quang màu tím lam, bay về phía La Bàn của cụ, cụ tung cái La Bàn lên rồi ngồi xếp bằng xuống, sau đấy dùng phần cạnh sắc của LA Bàn rạch một đường dài trên tay, nhỏ lên La Bàn rồi niệm tiếp:

– Thiên Địa Huyền môn vô vi bất định, Lưỡng Nghi Âm Dương chi Âm trạch Dương Khí, Hắc Bạch Vô Thường Dẫn Hồn Quỷ sứ chi Âm Dương Hoàng Tuyền chưởng khống giả! Ta- Thái Vi đạo môn chi Thiên Nam Hộ Đạo giả, thỉnh Vô Thường hiện! Xuất Xuất Xuất!

Đàng sau lưng cụ xuất hiện một cánh cửa to, cánh cửa này hư hư ảo ảo, từ từ cánh cửa mở ra, xuất hiện hai bóng người cao lớn. Người bên trái áo trắng tóc trắng, lông mày trắng mắt đỏ, người bên phải tóc đen, áo đen, mắt trắng- hai kẻ này là Hắc Bạch Vô thường. Khi hai kẻ này xuất hiện, Quỷ Câu Hồn liền hoảng sợ, hắn gào thét rồi bắt đầu niệm chú gọi thêm càng nhiều vong, quỷ đói, hắn thét lên:

– Hắc Bạch Vô thường lại nghe theo một tên phàm nhân ư? Dẫn Hồn sứ giả của Diêm Vương như bọn mi thật danh khả hư truyền! Lũ phế vật!

Hắc Bạch Vô Thường lẳng lặng đứng cạnh cụ Nhĩ, yên lặng chờ đợi, lúc này cụ Nhĩ từ từ huyền phù so với mặt đất, liền đưa tay tung nhẹ chiếc La Bàn về phía con quỷ, nhất thời con Quỷ phun một đám máu đen, rồi nhân lúc cụ không để ý bay vút ra ngoài. Nó bay nhanh như con chim cắt, nếu không có chuẩn bị trước thì lúc này nó đã tẩu thoát, nhưng lúc này thì từ hai mười sáu cọc tre huyết gà tạo thành một vòng đổ nhạt, thành một màng nhỏ khiến con Quỷ không thoát ra được, nó gào thét, cắn xé nhưng không qua nổi cái vòng mỏng manh ấy.

Lúc ấy, Hắc Bạch Vô Thường mới nhẹ nhàng lướt tới, Hắc Vô Thường cầm xích, Bạch Vô Thường cầm liêm đao! Bạch Vô thường cầm đao gặt nhẹ một cái, đầu của xác chú Huy rơi xuống, từ cổ chú bay ra một làn khói đen, Hắc Vô Thường liền tung xích trói ngay con quỷ lại. Sau đấy chúng quay lại thì đậu binh và La Bàn chứa Linh khí của cụ Nĩ đã giải quyết hết đám vong quỷ kia rồi. Hai tên Vô Thường liền gật nhẹ đầu, rồi mang tên Câu Hồn Quỷ qua cánh cửa kia, nó từ từ khép lại!!!

Cụ Nhĩ thở dài, huýt sáo to cho mấy bác dân làng ra thu dọn bãi ngổn ngang, sau này cụ mới thuật lại: Hắc Bạch Vô thường là sứ giả mang hồn người chết về Âm phủ, là Quỷ Dẫn Hồn. Quỷ Dẫn Hồn chỉ có hai đứa, còn Quỷ Câu Hồn là một Á Quỷ tu luyện đã lâu, luyện thành thần thông, có phép câu hồn, chuyên dùng hút đi hồn phách của con người! Vậy nên, nếu gặp nơi nào cảm thấy tâm trí bản thân mình hơi mộng mị, cẩn thận, có thể có Quỷ Câu Hồn!!

Cụ bấm quẻ ra chỗ chết nhà cô Huy là quẻ ba mươi sáu Địa Hỏa Minh Di, vậy nên cụ xếp trận theo thẻ thứ năm Thủy Thiên Như, quẻ này hàm ý là “Lợi thiệp đại xuyên”- “Mọi chuyện hung hiểm, đều hóa lành cả”, lợi thế đại Cát mà hóa nguy thành an. Lại nói, cụ Nhĩ tìm gỗ táo già là có mục đích cả, nếu ai chưa biết thì người xưa có câu “Táo già hóa Vàng Tâm”- Vàng tâm là loại gỗ quý dùng để đóng bài vị, bàn thờ, có tính thanh không kỵ tà, dùng an dưỡng đi hồn. Nhưng do khá quý nên cụ Nhĩ lấy gỗ già thấy, dùng để an tĩnh hồn vong quỷ, ma đói mà Quỷ Câu Hồn đã giết chết, sau đấy từ từ suy yếu nó rồi mới có thể tiêu diệt được.

Có thể nói, Ma Thần Vòng, Ma Da cũng có thể là Quỷ Câu Hồn cấp thấp, nếu chúng tu luyện, bắt thêm nhiều người mà ko nguyện ý luân hồi, thì sẽ trở thành Quỷ Câu Hồn thật sự!

Chương 7: Thiên trùng quỷ

Năm năm lăm năm sáu là thời hỗn loạn nhất ở đất nước ta, lúc này miền Bắc mới xây dựng được chế độ, đi đâu cũng giăng khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam”, thành thử hầu như mười phần thì tám phần thanh niên rời quê đi chiến trường hết. Bỏ lại quê một mảnh tiêu điều, xác xơ, nói là hỗn loạn, vì thời này thật đúng là thời “Ma quỷ sống chung với người”. Khói lửa chiến tranh lan tới, người chết như rạ, lại thêm nạn đói, dịch bệnh vong quỷ càng nhiều, thanh niên lại đi hết, chỉ còn người già trẻ em nên làng quê càng thiếu đi sinh khí, ma quỷ càng lúc càng làm bậy. Nhưng hầu như cái gì riết cũng quen, người ta quen dần với ma quỷ, những ma đói, Thần vòng, ma da,.. người ta coi như đồ trẻ con, nhưng chỉ có một thứ khiến ai nhắc tới cũng phải run rẩy, chính là Trùng- Trùng tang- nó như ám ảnh tâm trí mỗi người, cắn rứt linh hồn người ta. Khiến ai ai cũng sợ hãi, lo sợ!

Tháng sáu năm nhăm sáu, cả làng lại nô nức tiễn thanh niên vào B- hầu như cảnh tượng của mọi vùng quê miền Bắc những năm tháng ấy- vui vẻ lắm, như ngày hội làng khi xưa, ai cũng vui mừng, háo hức, vì được góp phần sức cho đất nước. Mới được vài tháng, thì có tin từ chiến trường báo về, anh Tú cháu cụ An hi sinh- anh mới đi được ba tháng- vào trong chiến trường đã ngã bệnh sốt rét, cuối cùng không qua được! Cả làng như chết sững, ai nấy đều buồn, vì anh Tú xưa nay được lòng cả làng lắm, vừa đẹp trai lại học giỏi, anh được trường Đại Học giữ lại nhưng quyết ý vào Nam, ai ngờ anh mới đi được vài tháng mà đã thành ra cơ sự ấy! Những năm ấy thì liệt sĩ chết trên đường hành quân, hay chết trận trên chiến trường người ta đều không có gửi được di hài về, họa may là một số đồ dùng cá nhân, hay vài bộ qần áo, kèm theo giấy Báo tử. Cả nhà anh khóc lên khóc xuống, ngày chôn anh ai nấy cũng buồn, riêng cụ Nhĩ đứng một góc đăm chiêu lắm, ai cũng nghĩ cụ thương anh Tú, vì ngày xưa cụ cưng chiều anh Tú như cháu cụ- hai ông cháu quấn quít lắm. Rồi cụ Nhĩ thở dài, đi về, bóng lưng cụ đi lạc trong ráng chiều…

Rồi bẵng đi vài tháng, tuy mọi người vẫn tiếc anh Tú lắm, nhưng rồi bận bịu tăng gia sản xuất nên dần cũng quên bẵng đi. Rồi càng ngày làng càng có nhiều việc lạ, dạo gần đây cá từ dưới sông cứ đến khoảng đầu giờ chiều là nhảy lên mặt nước liên tục- giống như thiếu khí vậy. Dân làng thấy lạ rồi cũng tặc lưỡi nghĩ là do mấy ngày này sắp có giông, nên cá thiếu khí nhảy lên đớp khí. Nhưng rồi hai ba ngày cá vẫn nhảy, mà giời thì chẳng có con mưa nào cả, đến hôm cuối thì nguyên khúc sông chảy qua làng cá nhảy lên bờ ngáp ngáp, ộc máu đen như mực tàu rồi chết. Dân làng đã hãi lắm rồi, đánh bạo vào hỏi cụ Nhĩ thì cụ chỉ lắc đầu đáp:

– Tôi cũng không rõ ràng lắm, bắt quẻ thì vẫn là quẻ “U nhân trinh cát”- hẳn là chưa có việc gì bất lợi với làng ta!! Khó hiểu quá!! Thôi các anh chị cứ về lo làm ăn, có gì tôi sẽ báo lại ngay!

Tất cả nghe cụ Nhĩ nói vậy thì cũng an tâm lắm, hồ hởi về nhà thì lại thấy gà vịt ủ rũ hẳn đi, rồi một vài đàn thì chết rũ cả. Nghĩ là có dịch nên ai đấy cũng chỉ mang đám gà vịt ra ngoài hào tre vứt hết thôi. Rồi một đêm nọ chú Tị mới nửa đêm trốn qua hào tre để đào đám vịt gà chiều nay làng mới vứt về làm thịt, chả là túng quá làm liều, chú nghĩ là ra đào về làm thịt rồi mang ra chợ Huyện bán kiếm ít tiền mua ngô mua gạo. Vừa trèo qua lũy đất thì chú bỗng thấy phía trước có bóng người. Chú ngơ ngác ngước lên thì thấy một bóng người cao lớn, chú giật mình nên đánh tiếng hỏi:

– Ai đấy?

Thì người kia không đáp, chỉ đứng lẳng lặng nhìn chú, ánh mắt đỏ ké nhìn chăm chăm chú như con thú hoang vậy. Chú run lắm rồi, lúc này chú mới để ý là chú đang ở trên cái lũy đất, mà từ cái lũy đất đến cái hào tre của làng chênh nhau cả mét. Thế chẳng ra “cái đứa” trước mặt chú nó phải cao gần ba mét cơ à? Nghĩ đến đây chú sợ hãi lắm, người cứng đờ lại, lại thấy mắt nó đỏ ké như hòn than, chú như không thở được! Lúc này thì cái bóng đen như lướt trên mặt đất từ từ tiến lại phía chú, nó há mồm rộng, cái mồm từ từ há ra rồi kéo rách toạch cả khoang miệng, đỏ lòm lòm như chậu máu lớn. Chú Tị lúc này điếng người rồi, sắp ngất thì nó từ từ giơ tay lên, tay nó dài ngoằng ngoẵng như cái đòn gánh, vừa gầy vừa xương lại trắng ởn- trắng như củ dong riềng- vừa dài lại thon thon béo múp míp như con nhộng. Nó quơ tay lại phía chú Tị định túm lấy thì chú đờ người quên không bám vào cái cọc tre cốt củ lũy đất, thế là chú ngã lăn xuống bãi cỏ. Cái bóng kia với tay bắt hụt vào khoảng không, nó liền thét lên một tiếng rú dài rít lên như tiếng sáo tre vậy, nghe vừa đanh vừa khô vang khắp làng, lúc ấy chú Tị mới định thần nhìn vào mặt nó, tuy là nó trắng ởn với cái miệng gần như rách toạc kéo xuống cổ nhưng chú vẫn nhận ra mang máng- nó giống hệt anh Tú. Một lần nữa, chú lại đờ người, lúc này cái “thứ kia” quay lại nhìn chú, mắt nó đỏ rực lên, rồi nó lại rít lên một tiếng nữa, gầm gừ ngoài lũy đất giống như có một thứ gì ngăn cản không cho nó vào vậy, lúc này sợ quá chú ngất đi.Lúc chú tỉnh lại thì chú đã ở nhà rồi, quây quanh chú là dân làng, cả làng nghe tiếng rít thì mới đốt đuốc chạy ngay ra. Ai ai cũng hoảng, vì lúc ra lũy đất thấy chú bất tỉnh rồi, hơi thở thì vào ít ra nhiều, may có cụ Nhĩ châm cứu cho một hồi. Lúc này chú mới thở hắt ra nói thều thào:

– Thằng Tú… nó…về…nó ở ngoài hào làng…nó định.. bắt cả cháu…

Nhà cụ An nghe thế sửng sốt lắm, mẹ anh Tú thì gào khóc lên. Cụ Nhĩ nghe vậy thì mới hỏi kỹ chú Tị, lúc nghe đến lúc da “nó” trắng ởn lại béo múp như con nhộng, cụ Nhĩ hoảng hốt lại thúc cụ An gọi hết nhà cụ lại cho kiểm tra. Cụ Nhĩ liền bắt mọi người trong nhà cụ An quệt lên ấn đường một đám bột đỏ, rồi quẹt lên lòng bàn chân nơi huyệt Dũng Tuyền, nơi trán ở Mi tâm, rồi lòng bàn tay tổng cộng năm điểm. Rồi cụ niệm chú, lúc này bắt đầu có khói bốc lên từ đám bột đỏ, cả nhà cụ An mới hãi lắm, vì đám bột đỏ của nhà cụ còn nguyên, chỉ có đám bột nơi mi tâm của em trai anh Tú là bắt đầu bốc khói như bị đốt, nó dần đen kịt lại. Cụ An sợ hãi quá, liền hỏi cụ Nhĩ việc này cớ ra làm sao, thì cụ Nhĩ mới lắc đầu đáp:

– Nói cụ bỏ quá cho, tôi vừa dùng phép “Sa Giả Thiên Nhãn” để nhìn mệnh của cả nhà cụ! Phép này Chu Sa quết ở năm huyệt Dũng Tuyền ở hai chân, Hợp Cốc ở tay, cùng với mi tâm, tựa như một vòng ngũ hành luân chuyển- từ tinh khí tiết ra để đoán lấy số mệnh. Dựa vào phép này, tôi e thằng Tú thành Trùng rồi- nó có lẽ về bắt từng người nhà cụ. Mà người dính họa này đầu tiên chắc là thằng Tuấn mất thôi!Nghe đến trùng thôi mà cả làng ai cũng tái mặt, vì vong quỷ thì cũng chỉ một hai người thôi, nhưng trùng thì khác. Nó không có cách nào tránh, nó như con dòi trong xương, bám theo cả dòng họ, có thể làm cả họ tuyệt tự, bắt dần bắt mòn từng người cho tới người cuối cùng. Lúc này cụ An sợ hãi lắm, cụ lo cho cả họ hà mình, lo cho thằng cháu chưa hiểu chuyện đứng cạnh bên. Cụ Nhĩ thì đứng suy nghĩ một lúc, lúc này cả làng đứng quanh không ai dám thở mạnh, thì cụ Nhĩ mới lắc đầu bảo cụ An:

– Việc này khó! Cụ nghe lời tôi trước cứ về nhà đã, tôi xét thì thằng Tú nó chưa về bắt người ngay đâu, vì qua phép tôi thấy mới tắt mệnh ở mi tâm, chỉ khi tắt đi Sa mệnh ở Dũng Tuyền thì mới gấp. Tôi phải cẩn thận lo liệu mới được, tôi sẽ mời sư huynh của tôi về, cụ cứ an tâm!

Cụ An nghe thế chỉ biết thở dài, lúc này cụ Nhĩ mới bảo cả làng tản đi, rồi cụ lại trầm ngâm ngồi dưới ánh đèn một lúc.

Từ lúc nghe tin có trùng, dân làng đóng cửa lên đèn sớm, trẻ con không được ra ngoài chơi đêm nữa. Vì cứ đến giữa đêm từ ngoài làng vọng về tiếng tru rít vang vọng giữa đêm. Ai đấy đều nơm nớp lo sợ…

Rồi sư huynh cụ Nhĩ cũng đến sau đấy một ngày, cụ Nhĩ cười cười rồi ra tận cổng làng đón. Cụ Nhĩ gọi dân làng ra sân Đình rồi cười bảo:

– Xin thưa dân làng, đây là sư huynh tôi- cũng là chưởng môn của phái chúng tôi hiện nay. So với sư huynh thì Ấn Pháp của tôi không khác gì ánh đom đóm. Có ngài ấy, mọi người cứ an tâm.

Chương 8: Thiên Trùng quỷ (hậu)

Sư huynh cụ Nhĩ nghe thế liền lắc đầu, cười mỉm liên tục. Cụ râu tóc bạc trắng, cũng khoác chiếc áo bào đạo sĩ dài, sau lưng áo có hình Âm dương ngư, nhìn xêm xêm tuổi cụ Nhĩ thôi nhưng cụ có vẻ béo tốt hơn một chút. Cụ Nhĩ liền nói tiếp:

– Sư huynh tôi luyện pháp “Bế Ngôn”- không nói chuyện được nên dân làng chớ trách. Bây giờ việc gấp không nhiều lời, tôi cần mười hai cái chum, mỗi chum chứa xương của mười hai con giáp. riêng chum nào làng ta không tìm được xương thì cứ để đấy mặc tôi! Kiếm thêm cho tôi ba mươi sáu ông đầu rau- "là viên đất đặt trên bếp mà ngày xưa miền Bắc hay dùng"- chủ yếu để giữ lại tro bếp với lửa tàn, sau dễ nhóm lửa! Cùng rượu gạo loại mạnh, tốt nhất là loại rượu gạo sủi tăm đấy nhé!

Rồi cụ Nhĩ quay sang nhìn chăm chú sư huynh cụ một lúc, sau đấy cụ liên tục gật đầu, tỏ ý đã hiểu, rồi cụ lại quay sang bảo tiếp:

– Tôi xin làng ta cho tôi xin các thứ sau: Địa tương thủy, Nước mưa mới hứng chưa dùng; Diêm tiêu; Lửa hương đèn chưa tắt; Dao chọc tiết thật sắc; Đề ngựa; Gỗ lim ngâm; Ngọn cây đa; Đất sét đỏ cùng Phù sa! Xin làng nhanh chóng tìm cho!

Mãi một ngày sau cả làng mới tìm được đủ hết cho cụ Nhĩ, cụ liền lấy Chu Sa ra quết lên một mảnh xương trâu, rồi lấy mực tàu vẽ thành từng miếng vảy như vảy rắn, bỏ vào chum có chữ “Rồng”. Xong xuôi đâu đấy cụ quay sang bảo với cụ An:

– Tối nay có gì cũng không được mở cửa đâu cụ nhé, nhất là không được để nhang trên bàn thờ các cụ tắt- không là khước trạch các cụ không về được. Với lại nhang ở Thổ Địa nữa cụ ạ, nếu không là trùng lọt vào nhà đấy! Cuối cùng là mấy ngọn nến mà tôi đã thắp ở tứ chi thằng Tuấn cũng không được tắt, là Mệnh đăng của nó cả đấy, tắt một cái sau rắc rối lắm!

Nói rồi cụ cùng sư huynh cụ đi ra khỏi làng, bước vội ra ngoài cánh đồng Than. Bấy giờ cụ đi chôn mười hai cái chum thành một vòng tròn, mỗi chỗ cụ bỏ thêm một chút mực Tàu, rồi rắc Thần Sa nối chúng lại với nhau. 

Còn chôn mười thứ kia thành hai đoàn, một đoàn gồm Địa tương, Diêm tiêu, Dao chọc tiết, Gỗ lim, Đất sét cụ chôn thành một ngôi sao năm cánh, cụ tưới lên đấy một chút huyết gà. Rồi còn năm thứ kia cụ chôn thành một vòng bên trong nữa. Xong xuôi đâu đấy cụ đứng đợi một lúc, lúc này sư huynh cụ nhíu mày, giơ tay lên bấm độn vài cái. Rồi cụ rút từ tay nải ra một cái thẻ tre, một cái bút lông, cụ đang định viết thì bỗng nghe tiếng rít vọng lại… 

Một bóng đen lướt tà tà mặt đất về phía hai cụ, cụ Nhĩ lẫn sư huynh cụ đều biến sắc mật. Vì không chỉ một bóng đen, mà là một đám, chúng bay lờ lờ mặt đất như cơn gió, thoát từ phía xa mà đã xuất hiên gần sát cạnh hai người rồi. Lúc này sư huynh cụ mới thở hắt một hơi, nói với cụ:

– Thiên Trùng!!!

– Tôi tính sai rồi! Ắt hẳn là Thiên Trùng Quỷ mới bắt nhiều Trùng quỷ thế này bắt người! E là không dễ đối phó đâu! Thiên Trùng từng là Quỷ Sứ, Phán Quan của Âm Ti nhưng lại sa đọa mà tu luyện trái đường, mê hoặc vong hồn kẻ xấu số mà về bắt thân nhân người ta, từ đấy kiếm Số vận, Huyết khí,…Nhìn số Trùng Quỷ này, e rằng Thiên Trùng đã tu luyện lâu lắm rồi!

Sư huynh cụ Nhĩ không nói không rằng, giơ ngon tay trỏ lên nói lớn:
– CẤM!

Tức thì đám Trùng quỷ đứng yên lại như bị thứ gì trói lại, miệng mở to rú rít lên ghê gớm! Cụ Nhĩ cũng không đứng không, Cụ liền tung nắm Đậu binh ra, sau đấy rút chiếc La Bàn rồi hét lên:

– Thiên Can thập nhị linh, Đại Chi thập chi hồn. Thập Nhị Chân Dương chi Tứ Quý vi Trận! Kết lục lục tam thập lục tiểu trận!! Khai Khai Khai!!! Thập Chi Sinh Hồn Chi Nguyên Âm vi Ngũ Hành chi trận! Thi triển ngũ ngũ nhị thập ngũ tiểu trận! Kết Kết Kết!

Tức thì từ hai luồng sáng, một đỏ cam một xanh bạc bay về phía cụ, luồng sáng màu đỏ bay về phía Đậu Binh, màu xanh bạc thì chia về phía cụ Nhĩ và sư huynh cụ. Lúc này đám Trùng Quỷ như phát điên, chúng cắn xé ròi lao về phía cả hai người, sắc mặt sư huynh cụ tái nhợt hẳn đi, cụ Nhĩ thấy thế liền tung cái La Bàn về phía đám Trùng Quỷ. 

La Bàn màu đỏ sậm lao như thiêu thân về đám bóng đen, tức thì có tiếng xì xèo như đốt cháy, cùng tiếng rú lên thảm thiết, tiếng rít gào căm hận, cụ Nhĩ cố gắng giữ thân mình đứng vững. Sư huynh cụ nhíu mày, từ trong tay cụ kéo ra một luồng sáng màu tím nhạt pha lẫn đỏ cam, cụ chỉ về phía đám Trùng Quỷ đang bị giữ lại, khẽ nói:

– Trảm!

Luồng sáng bay vụt nhanh qua đám bóng đen, tức thì chém chúng thành hai nửa, từ thân mình chúng rơi xuống đất từng mảng trắng ởn như củ dong riềng, khi rơi chạm đất thành những con Trùng béo mũm mĩm, to ệch, trông như những con mỗi chúa cực lớn bò lổm ngổm khắp mặt đất!Hai cụ thở hắt một hơi thì lúc này bỗng nghe tiếng cười khanh khách, từ đám bóng đen vọt ra một bóng người. Bóng người này nhỏ thó, hai tay dài hơn hông, đứng lom khom như thể một cụ già còng lưng vậy. Khiếp sợ nữa là gần như nó không có mặt, hoặc chính xác hơn là mặt nó đen kịt, không có mắt mũi mồm miệng, chỉ có một mảng hư vô. Cụ Nhĩ mới giật mình, hỏi dò:

– Thiên Trùng Quỷ???

Tức thì mộtt tiếng cười lại vang lên, nó bỗng phất tay, cả đám Trùng Quỷ đang bò lổm ngổm dưới đất bỗng lao về phía hai cụ như tên bắn, cụ Nhĩ đang cả kinh thì sư huynh cụ khẽ phất tay, nhẹ nhàng nói:

– Vệ!

Tức thì đám Trùng Quỷ lao lại như va phải một bức màn, rồi mắc ở đấy nổ tung lên, bay ra hàng đám nhớt xanh bốc khói thum thủm, hai cụ thở dài một hơi.

Lúc bấy giờ, cụ Nhĩ liền tung chiếc La Bàn về phía Thiên Trùng, miệng bấm quyết. Từ mười hai cái chum lại bốc lên một làn khói tía, mười hai làn khói hiển hiện mười hai thiên can, tiếng gầm rú của chúng hòa lẫn vào nhau. Rồi tất cả đều lao vào đám khói xanh do đám Trùng vừa tỏa ra. Tức thì đám khói xanh như mỡ gặp chảo nóng, tan ra với tốc độ mắt thường cũng có thể nhìn thấy được. Trong làn khói xanh vang lên từng tiếng Két..két.. két rợn người như tiếng xương vỡ vụn, rồi ngọn lửa xanh thanh lãnh bỗng bùng lên như lửa cháy trên cánh đồng cỏ khô.

Xong xuôi đâu đấy đợi đám khói tan bớt thì không thấy con Thiên Trùng đâu nữa.

Sau lúc về làng, cụ Nhĩ kể Thiên Trùng Quỷ là loại Quỷ tu từ những vị Quan gia dưới trướng các Thánh, các Vương cõi âm, lợi dụng được phép tu của Âm Ty nên sai khiến được Vong Quỷ. Chúng luyện vong thành hình những con Trùng rồi sai Trùng về bắt người, bắt càng nhiều thì càng mạnh! Còn về sư huynh cụ Nhĩ, cụ luyện thuật “Pháp Ngôn”- luyện thành “Ngôn xuất Pháp tùy” mọi câu nói đều thành pháp thuật, nên phải Bế Khẩu, đây cũng là một trong ba độc môn của Thái Vi. 

Còn về việc chôn các chum thì lấy xương của các mười hai con giáp tức mười hai thiên can. Thái Vi tương truyền rằng Thập nhị Thiên can qua được ải Trời, có thể chịu tải được linh khí, có tư cách tu hành. Phàm vạn vật sinh linh trong cõi trời đất này, trừ con người là vạn vật chi linh, trừ phi cầm ác điểu ngẫu nhiên may mắn, thì đa số yêu vật sinh linh đều tu luyện từ Mười hai con giáp này.

Còn về sự thay thế xương Rồng bằng xương Trâu và Chu sa, Tây Bình thư có kể lại "Quỳ là thần thú chỉ có một chân, đầu trâu chân trâu, tiếng kêu như Sấm nổ. Sau này kết hợp với Long sinh Long Ngưu, Long Ngưu lại kết hợp với Bạch Thụy sinh Ngưu" Vậy nên, có thể nói trong Ngưu có huyết mạch của rồng, lại dùng Chu Sa vẽ vảy rồng miễn cương cũng có thể thay thế được.

Rồi sau đó sư huynh cụ rời đi, cụ thở dài, rồi bắt đầu kể cho dân làng nghe về môn phái của cụ- Đạo quán Thái Vi!

Chương 9: Sâm lâm hổ yêu

Sau khi giam trùng ở Đồng Than xong, cụ Nhĩ cùng sư huynh cụ mệt mỏi lê bước về làng. Bấy giờ, làng cửa nẻo đóng chặt, phụ nữ và trẻ em thì được tập hợp ở Đình làng, còn chỉ có đám thanh niên đốt đuốc đứng ở cổng làng trông ra cánh Đồng. Thấy bóng hai cụ thất thểu đi về làng, mọi người túa ra, cụ Nhĩ bấy giờ sắc mặt tái nhợt, chỉ thở hắt ra rồi ngã quỵ xuống. Mọi người thấy thế hoảng hốt đưa hai cụ về lại Đình, xông bò kết, bóp rượu một hồi lâu thì hai cụ mới sực tỉnh. Bấy giờ sắc mặt cụ Nhĩ mới phục hồi chút huyết sắc, cụ nhấp một ngụm rượu cho ấm người, rồi thều thào nói như tự hỏi bản thân:

– Không ngờ vẫn mang được bộ xương già này về làng! Mệnh lớn thoát chết lần nữa chăng?

Rồi cụ nhìn về phía xa xăm, thở dài. Sư huynh cụ bấy giờ cũng đã tỉnh lại, ngồi trầm ngâm rồi quay sang nhìn cụ, hỏi:

– Niệm?

– Đúng thế sư huynh, tôi đang nghĩ về Đạo ngôn của Sư phụ lúc ta mới nhập môn, e rằng sắp ứng nghiệm rồi!

*****

Năm ấy, sau khi vua Hàm Nghi thảo chiếu Cần Vương, sĩ phu Bắc Hà cùng Ngài kháng chiến mười năm, cuối cùng thất bại vì phản trắc. Mười năm, cậu tú Nhĩ từ khi đầu còn để chỏm cũng lớn lên trở thành một thanh niên mười bảy tuổi. 

Vừa đậu Tú Tài kỳ thi Hương ở trường thi Vinh, cậu liền bỏ kỳ thi Hội năm ấy vượt đèo trèo dốc về Tân Sở thì nghe tin dữ, liền thay đổi lộ trình, đi ra Bắc tìm về nơi căn cứ cuối cùng của cuộc khởi nghĩa- Yên Thế. Khi ấy cậu tú Nhĩ rời làng, ông Cử cha cậu tức đến nổ phổi, thằng con ông nuôi lớn bằng đầu bằng cổ, chỉ mong nó học dăm ba chữ Thánh hiền rồi ra làm quan, rạng rỡ tông tộc họ hàng.Cuối cùng nó bỏ lên rừng làm giặc cỏ, quản chi Hàm Nghi, giờ là năm Đồng Khánh nguyên niên, có Chủ thượng nào phải chui rừng chui rú đâu? Chỉ có Hoàng đế ở trong Cấm thành với Tây chứ còn ai nữa.

Cậu tú Nhĩ đi theo một đoàn thương lái bông đi từ Thừa Thiên ra Hà Nội, vốn là cậu đi một mình nhưng dọc đường đến Thanh Hóa thì gặp thương đoàn này, cả đoàn tải hàng đi thì người trong đoàn bị sốt rét nặng. Lúc ấy tưởng cửu tử nhất sinh thì gặp được cậu tú Nhĩ, vốn học được ít tâm đắc về thuốc Nam ở quê, cậu tận tình chạy chữa, sau đấy kết đoàn cùng đám người này. Vừa để dễ dàng chiếu cố nhau, vừa an toàn khi đông người vượt rừng núi không gặp phỉ, gặp cướp hay thú dữ gì.

Bấy giờ nước ta vẫn còn hoang sơ lắm, núi rừng còn lắm beo hổ, nên người ta phải kết thành đoàn đông người mới dám vượt núi vượt rừng. Bấy giờ mới sang Thu, đoàn thương lái đi tới Tam Điệp rồi, ông trưởng đoàn mới thở hắt một hơi, nói lớn:

– Giờ tới Tam Điệp rồi phỏng, vậy đầu Đông là ta chắc chắn tới được Hà Nội! Tối nay ta nghỉ ở đây, ngày mai lên đường sớm nhé các bác?

Nghe thế cậu Tú cũng chỉ cười cười, bấy lâu nay cậu chỉ quen ở nhà ăn no mặc ấm, nay ngủ ngoài trời, lại giữa rừng thế này thì có gì thú hơn. Cả đoàn người giả gianh, căng lều, ăn no rồi để lửa tại đấy đi ngủ. Ở nơi rừng rú hoang vu này, chỉ có tiếng gáy đêm của cú từ xa vọng về, tĩnh mịch đến đáng sợ. Cậu tú nằm thấp thỏm mãi, vừa thiếp đi một lúc thì nghe tiếng sột soạt, cậu hé mắt ra thì thấy một người đàn ông đồng hành đang mò mẫm đi ra ngoài. 

Chắc mẩm người này đi vệ sinh, cậu lại nhắm mắt, chừng chục phút sau không thấy người kia quay lại, cậu tò mò dậy thì hoảng hốt: Cả lều năm sáu người nãy ngủ cùng cậu đều không một ai còn ở đây. Cậu Tú cũng sợ hãi, liền lồm cồm bò dậy, vén lều nhìn ra bên ngoài, rồi cậu sang bên lều của chủ đoàn, khẽ khàng hỏi:
– Chú Vinh! Chú Vinh ơi! Cháu bảo cái này!

– Cái gì vậy cậu Tú? Tôi ra ngay đây!

Rồi ông chủ đoàn chui ra, nghe cậu Nhĩ kể lại, liền giật mình lắm. Sắc mặt ông tái mét lại, mồm lắp bắp nói:

– Nói dại mồm, hay là bị Ma rừng nó dẫn đi rồi?

Sau khi bàn bạc một lúc cả hai người quyết định đốt đuốc đi tìm năm sáu người kia, cả hai chắc mẩm họ chỉ đi loang quanh rồi lạc đường không tìm được về trại. Dặn dò sơ sơ người nhà đi cùng, ông trưởng đoàn xốc lại quần áo, cầm thêm con dao rựa đi cùng cậu tú vào sâu trong rừng.

Buổi đêm ở rừng tĩnh mịch đến lạ kỳ, ở ngài có đám lửa trại nhìn vào tối hun hút khiến con người e sợ chùn chân bước tới. Đám lửa trại ở ngoài rừng, hai người liền cầm dao phát một đường nhỏ len vào, lần theo dấu chân mờ mờ dưới đất mà mấy người kia để lại đi sâu vào trong. Trong rừng cây cối rậm rạp khiến không khí như đặc quánh lại, nồng lên mùi ẩm thấp lân mùi lá mục, tán cây lại dày khiến ánh trăng không thể len qua kẽ lá, làm cho ánh đuốc chỉ nhấp nhem khoảng một sải tay. Cậu tú Nhĩ lúc này đảo mắt nhìn xung quanh, nhăn mũi hỏi:

– Chú có ngửi thấy mùi gì không? Cháu thấy có mùi tanh tanh, mà nó nồng lắm, không biết có ở gần đây không?

– Cậu tú ngửi thấy gì à, tôi không ngửi ra? Trưởng đoàn chun mũi hít hà xung quanh, nhưng tựa như không ngửi ra gì, liền quay lại đáp.

Lúc này mặt bác Vinh trưởng đoàn thương lái mới tái lại, mặt cắt không còn giọt máu, cậu tú thấy lạ mới quơ tay lại lắc lắc, miệng hỏi lớn:

– Cái gì thế chú? 

Rồi không đợi bác đáp cậu quay đầu lại nhìn. Mặt cậu cũng tái mét ra, sâu khỏi ánh đuốc là những đốm sáng đỏ chóe như ánh đom đóm lớn, nó cứ lập lòe như nhìn chăm chăm vào hai con người. Mồ hôi mẹ, mồ hôi con thi nhau chảy ra, lúc này thì một tiếng loạt tiếng cười khanh khách như đánh thẳng vào phòng tuyến tâm lý cuối cùng của họ- tiếng cười vừa ghê rợn, vừa ma mị lại vang lên giữa rừng sâu khiến cả hai người gần sụm cả hai đầu gối xuống, không đứng vững nổi.

Những ánh đốm đỏ ấy nhấp nháy, lại nghe tiếng soàn soạt, tựa như cái gì đang đạp cây mà tới, lại có hơi gió mang theo khí tanh tưởi tới buồn nôn từ đây lướt tới, làm hai người càng ngày càng sợ hãi.

Lúc này thì từ bìa rừng vọng ra một tiếng gầm như sấm, tất cả đốm sáng kia bỗng nhiên tắt ngúm hết, cả khoảnh rừng lại trở nên tĩnh lặng. Rồi sau đấy vài phút, một tiếng thét xé gan xé ruột vang lên, lảnh lót xuyên qua tán lá. Chú Vinh đứng phắt dậy, lao ngay ra phía đấy, miệng hét lớn:

– Con tôi…

Cậu tú cũng giật mình vùng chạy cầm đuốc lao ra, tiếng thét từ bìa rừng vọng lại là nơi thân nhân bác Vinh đang ở lại chờ đợi hai người. Đang chạy theo chú Vinh thì cậu tú cũng lao ra theo, đang chạy thì tự nhiên thấy lạnh đốt sống lưng như có hơi lạnh thổi qua, cậu ngoái đầu lại nhìn thì sợ tới mức suýt rơi cả ngọn đuốc xuống. Ở cái nơi cậu và ông Vinh trưởng đoàn vừa đứng, bỗng nhiên xuất hiện hai ba cái bóng sáng mờ mờ, chúng cúi mặt bay tà tà mặt đất. 

Cậu đứng sững như trời trồng, lúc này một cái bóng khẽ khàng ngẩng đầu lên, nhìn sơ qua thì cậu tú đoán “nó” là một cô gái. Nhưng chỉ có mái tóc dài thôi, còn mặt gần như nát bét cả mặt, cơ thịt và da mặt gần như tan nát hết cả, lộ xương hàm trắng hếu, còn hàm răng dưới thì gần như rơi ra hết. Tay chân nó cũng không còn nguyên vẹn, nó gần như đứt rã rời, lại giống như bị thứ gì đó cắn đứt, chỗ đứt nham nhở, máy chảy từng giọt lỏng tỏng xuống mặt đấy. Làm cậu tú điếng người nữa là nó mở mồm cười lên một tràng dài nữa, âm vang khe…khé.. như bị ai đấy bịt miệng phát ra, làm tim cậu tú rớt thịch một cái. 

Nhìn kĩ thì cổ họng nó bị đứt, dây thanh quản cũng lòi ra một khỏng, còn hàm răng thì gần như sắp rơi xuống tận yếm ngực, máu thì như nhuộm đen cả bộ áo tứ thân vốn màu sặc sỡ kia. Nó cười cười rồi mắt lóe lên, là cái ánh sáng màu đỏ ma mị ban nãy, thoát cái nó bay tà tà về phía cậu.

Đúng lúc này thì lại có một tiếng gầm vâng vọng từ bìa rừng vọng vào, lũ ma quái kia giạt thót mình, như sợ hãi một thứ gì đấy, hoặc giả như được thứ gì đó gọi đi, liền quay sang nhìn cậu tú Nhĩ bằng ánh mắt thèm khát man rợ, rồi chần chừ quay người bay hun hút đi, biến mất trên tán cây cao.

Cậu tú vẫn còn sợ hãi, liền lồm cồm bò dậy, cầm đuốc lao theo ánh lửa le lói của chú Vinh mà chạy ra bìa rừng.

Chương 10: Sâm lâm hổ yêu (tiếp)

Tới nơi, đập vào mắt cậu là chú Vinh nửa quỳ nửa đứng ở chỗ trại- đúng hơn là chỗ từng cắm trại của cả thương đội. Đám lửa trại bị dập tắt, còn trại thì bị phá tan nát như có một con bão đi qua. Khủng khiếp hơn nữa là toàn bộ ngựa thồ đều bị móc họng, máu chảy từng vũng từng vũng đỏ ngầu, mắt con nào con nấy cũng kinh hoàng, tựa như gặp điều gì vô cùng khủng khiếp. Chúng thở phì phò, chờ đợi cai chết đang đến gần, cậu Nhĩ hơi tỉnh táo, liền lay lay chú Vinh, hỏi:

– Chú Vinh! Chú có nghe tôi nói không…

Tức thì chú Vinh quay phắt đầu lên nhìn cậu tú trân trân, măt chú dại ra, miệng méo xệch rồi vừa khóc vừa cười đáp. Giọng chú lạc hẳn đi, nhưng nghe vẫn thấy sự đau đớn, tuyệt vọng đến cực độ, âm thanh lại xé tan cái tĩnh mịch của một đêm rừng:

– Hổ bắt vợ con tôi rồi… Nó giết con tôi..

Cậu tú liền hoảng hốt đảo mắt ra xung quanh, thì mới thấy cả hai hàng dấu chân hổ to tướng, cái nào cái ấy to như cái niêu đất cỡ nhỡ, dậm nát cả vùng đất lẫn cây cối xung quanh. Để ý kỹ giữa vết chân còn có máu tơi đỏ thắm, chắc chỉ mới vừa rồi. Đoán sơ qua cũng biết đó là máu của vợ con hú Vinh, chắc con hổ lựa lúc cả hai lao vào rừng tìm người, đã nhảy ra vồ cả người lẫn ngựa, rồi tha hai mẹ con cô Vinh đi.

Đương lúc cậu tú giật mình, thì chú Vinh vùng lên, cầm con dao rựa lao vào rừng như con thiêu thân. Cậu Nhĩ cũng giật mình, vội cầm ngọn đuốc lao theo. Kỳ lạ chú Vinh như hăng máu, mất hết tri giác, lao vào rừng không xem đường gì, chỉ cốt lao theo vết chân con hổ cùng vết máu. Gai với cành cây đâm hết vào người chú tóe máu, nhưng chú không mảy may nháy mắt một cái. Ánh lửa thù hận trong mắt chú ngày càng lóe lên, ảnh mắt chú sáng rực lên, cùng với ánh sáng hắt lên từ con dao khiến người ta rợn người. Đến một bãi đất trống trong rừng, nơi này chỉ có trảng cỏ, không biết sao không có cây mọc ở chỗ này, chú liền ngừng lại, dấu chân hổ cùng vết máu tới đây là ngớt. Chú đảo mắt rồi chạy lại một chỗ trẳng cỏ, hét lớn đến rách cả miệng:

– Con ơi…

Năm ở hóc tối là một cái đầu trẻ con nằm lăn lóc một góc, mắt nó trợn trừng lên, miệng há hốc toàn máu. Cậu tú đi lại, sợ tới suýt nôn, cảnh tượng quá kinh khiếp, thằng bé chỉ còn lại mỗi đầu, và một phần cổ, như bị thứ gì ngoạm lấy cắn đứt nên vẻ mặt nó nhăn nhúm đau đớn lắm. Ánh mắt trợn trừng vô hồn càng làm cho người ta xót xa, rải rác quanh đấy là mấy mảnh quân áo vương chút máu cùng thịt vụn của nó. 

Lúc này một cơn gió tanh tưởi thốc đến, gió thổi mạnh khiến cậu tú như ngã dúi về phía trước. Cậu ngoảng lại thì từ trong đêm từ từ một con hổ bước tới, măt nó ánh lên le lói trong màn đêm nhìn chăm chăm vào hai người, mép nó khẽ nhếch lên như đang cười. 

Cậu tú liền dụi mắt, ngỡ là mình nhìn nhầm, thì ra không hề, mép nó dần nhếch lên, rồi từ trong rừng một đám bóng bay ra, quây lại đàng sau nó cung kính, tựa như nó là chủ nhân của bọn ma quái này vậy. Nhìn thoáng qua cậu Nhĩ cũng thấy được mấy cái bóng của đoàn thương lái, họ vật vờ, ngơ ngác đứng cùng đám ma ấy, cậu còn nhìn thấy cái bóng ma nữ mà lúc nãy đã thấy. Cậu sợ hãi, thở không ra hơi.

Con hổ liền ngồi xuống bằng hai chân sau, mõm vẫn nhếch như cười nhạo đám con người kia, cả đám ma quái cung kính quỳ xuống hai bên, mặt cúi gằm. Lúc này chú Vinh ngẩng đầu lên, rồi bất thần chú cầm con dao rựa lao đến chỗ con hổ tinh. Ý cười trong mắt con hổ càng đậm, môt nó nhếch lên, liền vung trảo đợi chú Vinh lại gần tát nhẹ một cái khiễn lưỡi dao rựa của chú bật ra ngoài.

Rồi nó đứng dậy, từ từ đi lại chỗ chú, trong ánh mắt kinh sợ của cậu tú, nó đưa vuốt từ từ lên ngực chú, rồi đâm sâu vào trong. Chú Vinh lúc này hét thảm một tiếng, mắt trợn ngược lên, miệng chú chảy ra một búng máu. Con hổ cúi xuống ngửi ngửi, tựa như thưởng thức hương vị món ăn ngon, rồi đưa lưỡi liến một cái trên ngực chú. Cãi lưỡi nhám toàn gai quét một cái là lóc một đám thịt của chú ra, máu bắn lên tung tóe.
Cậu tú sợ hãi, máu me cùng tiếng kêu thảm thiết của chú Vinh làm cậu ngã quỵ, hơi thở dồn dập, cậu cảm thấy khó thở, miệng thử dốc không ra hơi. Đang định nhắm mắt chờ đợi nhưng phút giấy cuối cùng của cuộc đời thì từ đâu lóe lên một ánh sáng chói lóa, rồi Xoẹt một tiếng- một vầng sáng như cây lao bây từ rừng ra cắm thẳng vào ức con hổ tinh. Lưỡi lao tuy nhanh nhưng con hổ dày dặn kinh nghiệm, trong khảng khắc nó vẫn lắc người tránh được chỗ hiểm, lưỡi lao không đâm vào tim và chệch sang phía chân trái nó. Nó gầm lên đau đớn, tức thì đám ma rừng bên cạnh nó run rẩy, bây vút về phía vừa phi r cái la ánh sáng kia.

Bọn chúng vừa lao tới thì có một âm thanh vang lên, cậu tú Nhĩ nghe loáng thoáng mấy từ “Pháp Vi luật lệnh, tát đậu thành binh…” ngay lúc ấy có một quầng sáng, một đám đậu đỏ to như ngón út lao từ phía rừng ra, lao đến đám ma. Cả hai va vào nhau phát ra tiếng ầm ầm nho nhỏ như sấm, lại nghe tiếng leng keng như đao kiếm va vào nhau, nhất thời đám ma bị kiềm hãm không tiến thêm một bước nào.

Từ khoảng rừng tối mịt có một ông cụ bước ra, cười cười nói khẽ:

– Không hổ là Hổ Vương sống trăm tuổi, khá lắm! Tránh được sát chiêu của lão đạo này, xem ra tạo nghiệt không ít. Nhưng vẫn là chịu chết đi thôi…

Cụ già đưa tay bấm bấm quyết, lúc này cậu tú mới định thần nhìn kỹ người này: Người này tầm sáu mươi tuổi, da dẻ hồng hào, mắt mũi tinh anh nhưng râu tóc bạc trăng hết cả. Cụ mặc áo the dài màu đen, khoác bên ngoài một chiếc áo bào đạo sĩ màu xám đã bạc màu. Lão đạo sĩ này phất tay một cái, tức thì từ trong tay lão liền nắm một thanh kiếm đồng. Lúc này con hổ tinh thu thế, nhăm nhe đợi lão sơ hở để lao vào, mắt nó léo lên từng tia dữ tợn. Rồi nó gào một tiếng, vuốt từ từ mọc dài ra, dài đến tận hơn một gang tay mới dừng, toàn một màu đỏ như máu. 

Rồi nó lao vút lại phía lão đạo, lão không hề nao núng, đưa thanh kiếm đồng rạch nhẹ một đường ngang tay tay trái, rồi chém mạnh thanh kiếm mọt cái. Ánh sáng đỏ như máu từ thanh kiếm lao ra, chém bay qua phía con hổ, con hổ lúc này lắc lắc đầu, phía ria nó lóe lên vài chùm sáng, rồi ria nó sáng rực lên, bắn về phía ánh sáng đỏ của thanh kiếm.

Một ánh sáng chói lóa khiến mắt cậu tú Nhĩ đau đớn, vội vã nhắm mắt lại thì Ầm..Ầm… âm thanh như tiếng pháo nổ liền bên tai, cùng đó là một cơn gió mạnh hất cậu Nhĩ văng vào gốc cậy. Đau ê ẩm, cậu mệt mỏi gần như bất tỉnh, nhưng vẫn nghe được vài câu:– Càn chi Thương Khung, Khôn vị Huyền Hoàng… Sâm lâm chi chủ Tản Viên Sơn thánh, thưởng thiện phạt ác, tru tà trừ ma….

Rồi ánh sáng lại lóe lên, hình ảnh cuối cùng cậu nhìn thấy là thanh gươm đồng rỉ nát của lão đạo sĩ cắm thẳng vào sọ con hổ tinh, rồi nó gục thẳng dưới chân lão.

Phải đến hai ngày sau, cậu tú Nhĩ mới tỉnh, do gặp quá nhiều chuyện ngoài sức tưởng tượng, cậu hôn mê rất sâu. Khi cậu tỉnh dậy thì đã thấy lão đạo sĩ bên cạnh, lão nhìn cậu cười nửa miệng. Cậu định hỏi thì lão đã đưa tay ngăn cản, nói:

– Con đang còn bị thương, đừng nói nhiều. Từ hôm đấy đến nay đã hai ngày rồi, trong số tất cả người của thương lái đó, ta chỉ cứu được mình con, còn lại tất cả đã là vong hồn dưới hàm của hổ tinh kia rồi.

Trầm mặc một lúc, lão tiếp “Hổ nếu ăn được thịt người, thì sẽ thành nghiện, từ đấy chỉ chăm chăm bắt người ta ăn thịt. Nếu như con hổ ăn đủ bảy bảy bốn chín người, thì sẽ thành yêu, hơn nữa nếu nó ăn được trái tim của người đẻ ngày Dần, tháng Dần, năm Dần, thì yêu lực của nó sẽ tăng mạnh. Lúc này ria mép của nó sẽ chuyển sang màu đỏ pha bạc, mạnh mẽ vô cùng, còn vong hồn những người bị nó ăn thịt, mãi không thể siêu thoát mà chỉ quanh quẩn làm nô lệ cho nó- dân gian gọi đấy là ma Trành, còn phái ta thì xưng hô là Vong nô.

Cậu tú lúc này không nhịn được, liền quay sang hỏi lão đạo sĩ “Tại sao người lại nói với con như vậy ạ?”

Lão đạo sĩ cười cười, nhìn thẳng vào mắt cậu tú mà đáp:

– Con có muốn theo ta học Đạo không?

Chú giải:

– Thứ nhất: Từ câu chuyện này sẽ trở về quãng thời gian cụ Nhĩ tầm đạo, lúc này cụ còn trẻ, nên danh từ xưng hô sẽ là “Cậu tú Nhĩ”, để các bạn đỡ thắc mắc.

– Thứ hai, tôi sẽ cố gắng kéo dài chuyện thành nhiều chương, và do đây là quãng thời gian cụ học đạo, nên sẽ ít đi phần kinh dị, để làm một khoảng cho truyện về sau, nên có thẻ không hay với một số người.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau