TẦN NHƯỢNG THƯ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau

Chương con truyện Tần nhượng thư - Chương 1 - Chương 5

Chương 1: Sơn Đông hữu Tứ phụng - Tế Nam hiện Nhất long

Thời Chiến Quốc, nước Tề trên bán đảo Sơn Đông, có một nhân vật rất nổi tiếng về lòng hiếu khách và hào phóng.

Tên tuổi của ông ta sau này đã trở thành danh từ để tượng trưng cho tính cách của bậc Đại Thiện Nhân. Người ấy chính là Mạnh Thường Quân, Quân Điền Văn, em trai của quan tướng quốc Điền Kỵ!

Cùng thời với Mạnh Thường Quân còn có ba nhân vật nữa như Tín Lăng Quân Ngụy Vô Kỵ nước Ngụy, Xuân Thân Quân Hoàng Yết nước Sở và Bình Nguyên Quân Triệu Thắng nước Triệu.

Ba người này cũng cư xử, hành động như Mạnh Thường Quân, nghĩa là trong nhà lúc nào cũng chứa hai ba ngàn khách cả văn lẫn võ. Tuy nhiên, không hiểu sao hậu thế lại chỉ tôn sùng Mạnh Thường Quân?

Gương sáng cổ nhân được con cháu noi theo, nên giờ đây, ở đất Tế Nam tỉnh Sơn Đông, có một người xưng là Võ Lâm Mạnh Thường Quân!

Lão này có lẽ đúng là hậu duệ của Mạnh Thường vì cũng ở họ Điền, tên gọi Đông Giám, tuổi độ năm mươi hai. Do lão rất giỏi kiếm pháp nên đã thêu hai chữ võ lâm vào danh hiệu của tổ phụ.

Điền Đông Giám giàu nứt đố đổ vách, sở hữu mấy vạn mẫu ruộng tốt ở quanh thành Tế Nam, cùng hàng chục tiền trang ở khắp tỉnh Sơn Đông. Với gia tài cự vạn ấy, Điền Đông Giám thừa sức nuôi ngàn khách cho xứng với cái danh hiệu Mạnh Thường Quân!

Khách của nhà họ Điền đa số là hào kiệt võ lâm, chỉ có vài chục mống học trò nghèo đến ăn nhờ ở đậu, chờ ngày ứng thi!

Gần ngàn hào kiệt đến làm khách của Điền gia trang đều thuộc hạng áo vải, mới xuất đạo thanh danh chưa nổi, nhưng thỉnh thoảng cũng có những cao thủ lẫy lừng ghé qua chơi vài ngày rồi đi.

Khi đọc sử hoặc truyện võ hiệp, chúng ta thường gặp lời tự khiêm là hai chữ “áo vải” hoặc “bố y”. Bố y chính là quần áo được dệt, may bằng vải gai dầu.

Gai dầu là loại thực vật thân thảo một năm, thuộc họ dâu tằm, được trồng rộng rãi ở Trung Hoa, từng là nguyên liệu chủ yếu để may y phục. Sợi gai dầu dài mà dai, khó mục, có thể dệt vải bạt, vải buồm, vải chống thấm nước, thảm trải nền nhà... Tất nhiên, người nghèo mới mặc loại vải này. Còn lụa là, gấm vóc để dành cho kẻ sang giầu!

Tóm lại, dù văn hay võ thì cũng vì nghèo nên mới đến Điền gia trang mà ăn chực, ở nhờ!

Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, vì trong số thực khách của nhà họ Điền nổi bật lên mấy chục chàng thiểu hiệp xuất thân đại phú, thế gia. Họ đến đây không phải vì đói, mà vì nhan sắc bốn cô con gái của Điền Đông Giám!

Điền phu nhân đẻ sàn sàn năm một, cho ra đời bốn ả tố nga rồi từ trần. Họ đều xinh đẹp như hoa, có tuổi từ mười chín đến hai mươi hai. ước mơ của người nghèo thường mãnh liệt hơn kẻ giàu, do vậy, đám thanh niên áo vải chưa vợ kia chắc cũng rắp ranh bắn sẻ, mong mỏi trở thành rể họ Điền!

Hai năm qua, kẻ đến người đi cũng nhiều, nhưng bốn cặp mắt xanh kia vẫn chưa ghé vào ai. Và quan trọng nhất là cặp mắt của đại tiểu thư Điền Ngọc Trâm. Theo phong tục Trung Hoa thì trưởng nữ phải xuất giá trước rồi mới đến các em!

Khốn nỗi, Điền đại tiểu thư tuy đẹp nhất nhà nhưng tính tình kiêu kỳ, ngạo mạn, nóng nảy dữ dằn như Trương Phi, xem nam nhân trong thiên hạ như cỏ rác!

Ngọc Trâm được chân truyền pho Tích Lịch kiếm pháp của cha, võ nghệ cao siêu, được giới võ lâm Sơn Đông đặt cho danh hiệu Hổ Hồng Nhan (nàng hổ cái).

Họ Điền không có con trai nối dõi, nên rể đầu sẽ là người hưởng thừa kể lớn nhất. Điều này đã khiến Ngọc Trâm trở thành mục tiêu số một của các chàng trai.

Nhưng ngoài dung mạo, Hổ Hồng Nhan còn ra điều kiện rằng ứng viên phải dưới hai mươi lăm tuổi, và có võ công cao hơn nàng! Võ lâm nhiều gã đẹp trai song không ai trong lứa tuổi ấy đánh bại nổi Ngọc Trâm.

Khoảng cách không hơn ba tuổi từ đâu mà có trong đầu mỹ nhân thì chẳng ai biết được, mọi người chỉ đoán rằng lão thầy bói chết tiệt nào đấy đã nhét vào đầu Ngọc Trâm ý niệm đáng ghét này!

Chính Võ Lâm Mạnh Thường Quân cha nàng, cũng bực mình tiếc rẻ khi thấy con gái loại bỏ những chàng trai tuyệt diệu, chỉ vì họ quá hăm lăm. Ông từng giận dữ mỉa mai :

- Trâm nhi ráng chờ đến năm tam thập rồi lấy đại lão già góa vợ nào đấy! Lúc ấy thì khỏi cần điều kiện gì hết!

Ngọc Trâm hung dữ với người ngoài nhưng lại rất hiếu thuận, chỉ cười đáp :

- Sau này phụ thân sẽ biết Trâm nhi có lý!

Điền lão thở dài :

- Tính tình ngươi như thế làm sao chọn được bậc chính nhân? Chẳng qua thiên hạ háo sắc, háo tài nên mới quy lụy ngươi đó thôi!

Ngọc Trâm giận dỗi, ngoe nguẩy bỏ đi, lo việc nhà. Nàng chính là người quán xuyến Điền gia trang, phụ trách tiếp đón và nuôi nấng cả ngàn thực khách!

Sáng ngày Thất Tịch, mùng bảy tháng bảy, Điền gia trang có thêm khách mới, người này là chàng trai độ quá hai mươi, áo học trò bằng vài xấu, màu xanh bạc phếch. Trên đầu chàng ta là chiếc nho cẩn (khăn nhà nho) màu đen cũ kỹ, có dải dài rũ xuống lưng.

Tuy y phục là của đám thư sinh, song vai chàng lại mang trường kiếm, ra dáng con nhà võ. Điều này sẽ khiến chủ nhân phải phân vân, không biết để chàng ta ở với bọn hào khách hay học trò.

Chàng ta xuống ngựa, được gã gia nhân gác cổng Điền gia trang đưa vào Nghênh Tân đình gần đấy chờ đợi.

Lát sau, Điền đại tiểu thư ra đến, khách vội đứng lên vòng tay kính cẩn nói :

- Tại hạ là Tần Nhương Thư, quê đất Sơn Tây!

Điền Ngọc Trâm thản nhiên ngồi xuống sau án thư, mở sổ, đổ chút nước vào nghiên mực, chuẩn bị ghi chép. Nàng lạnh lùng hỏi :

- Phiền Tần túc hạ cho xem thẻ đinh!

Thời xưa, thẻ đinh là loại giấy tờ tùy thân duy nhất của Trung Hoa. Trong ấy không có hình ảnh, dấu tay, chỉ ghi tên họ, nguyên quán, trú quán và chiều cao hoặc thêm vài đặc điểm như: răng hô, mắt lé, cụt chân.. do nội dung sơ sài vậy nên những người có dung mạo, tầm vóc tương tự có thể lấy của kẻ khác mà dùng!

Trong trường hợp này thì chẳng có gì đáng ngại bởi vì đôi tai của Tần Nhương Thư rất đặc biệt, chúng lớn và đầy đặn như tai của những pho tượng Như Lai trong các chúa chiền. Và gương mặt chàng cũng mang nét đẹp nhân từ, phúc hậu, khiến cho người đối diện yên tâm.

Ngay trong thẻ đinh cũng miêu tả diện mục Nhương Thư bằng hai chữ: “Phật nhĩ” Tuy nhiên, chẳng ai khen Phật tổ là người anh tuấn như Phan An, Tống Ngọc, nên nhan sắc của Nhương Thư không làm cho trái tim các mỹ nhân rung động. Cái đẹp và cái thiện chẳng phải bao giờ cũng giống nhau!

Hơn nữa, Tần Nhương Thư sinh năm Mậu Thìn, nay đã hai mươi sáu, vượt ngoài tiêu chuẩn của Ngọc Trâm, nên nàng không hề để tâm đến.

Điền đại tiểu thư ghi xong phần lai lịch, liền hờ hững hỏi thêm :

- Tần túc hạ học nghệ môn phái nào?

Nhương Thư điềm đạm đáp :

- Bẩm tiểu thư! Tại hạ là đệ tử tục gia của chùa Phật Quang, núi Ngũ Đài sơn!

Ngọc Trâm bỡn cợt :

- Tướng mạo trang nghiêm như túc hạ sao không xuất gia, còn lưu luyến hồng trần làm gì nữa?

Nhương Thư thật thà đáp :

- Tại hạ vốn có ý nguyện ấy nhưng gia sư không cho. Người bảo rằng tại hạ mang nặng sát nghiệp và tình nghiệp, không có duyên với cửa Phật!

Hổ Hồng Nhan che miệng cười khanh khách và chế nhạo :

- Nực cười thực! Bổn cô nương cho rằng lệnh sư đã quá lời rồi đấy! Chỉ có đám ni cô mới ái mộ túc hạ mà thôi!

Câu nói của Ngọc Trâm xem ra cũng chẳng có gì quá đáng, nhưng không hiểu sao lại tác động mãnh liệt tới Nhương Thư. Đôi mắt chàng trai hiền lành kia bỗng lóe sáng những tia thù hận và tàn nhẫn ánh mắt ấy sắc bén, lạnh lùng chụp lấy gương mặt kiều diễm của Ngọc Trâm, khiến nàng khiếp sợ đến nỗi toàn thân đông cứng lại.

Cô gái ngang tàng, ngược ngạo này rơi vào trạng thái kinh hoàng, tựa kẻ lữ hành bất ngờ đối diện mãnh hổ vậy!

Khi nét mặt Nhương Thư dịu đi nàng mới hoàn hồn, phát hiện lòng bàn tay ướt đẫm. Nàng líu ríu gọi ả tỳ nữ Tiểu Lan đang quét dọn ngoài cửa Nghênh Tân đình, bảo cô bé đưa khách vào khu nhà mé hữu. Lạ thay, nàng lại dặn Tiểu Lan dành cho Nhương Thư tòa tiểu viện đẹp nhất!

Khu nhà khách của Điền gia trang chỉ đúng mười căn tiểu xá đặc biệt, dành để đón tiếp những nhân vật lẫy lừng, hoặc Chưởng môn các phái. Nay Nhương Thư được ở đấy cũng là một vinh dự rất lớn!

Khách đi rồi, Ngọc Trâm ngồi phịch xuống ghế suy nghĩ miên man. Cơn sợ hãi đã qua hoàn toàn, bản tánh ngang ngạnh nổi lên, nàng hậm hực lẩm bẩm :

- Thực là xấu hổ! Bậc anh thư như ta mà lại sợ một gã vô danh hay sao? Ngày mai ta phải kiếm cớ đánh cho gã một trận mới được!

Nhưng rồi một ý niệm khác lại nổi lên :

- Lạ thực! Tướng mạo y hiền lành trung hậu thế kia, sao lúc giận lại có cái nhìn khủng khiếp như thế? Phải chăng câu nói của ta đã vô tình chạm vào điều đại kỵ của Nhương Thư? Hay mẹ y là ni cô?

Con người đầy bí ẩn của Nhương Thư đã khiêu gợi óc tò mò của Ngọc Trâm, nàng quyết định phải tìm hiểu cho rõ. Vả lại, nàng còn muốn đem nhan sắc khuynh thành của mình chinh phục kẻ đã làm cho Hổ Hồng Nhan phải chết khiếp! Khi gã họ Tần chịu quỳ gối quy phục thì chính là lúc nàng trả được mối nhục hôm nay!

Viễn cảnh độc ác ấy đã khiến Ngọc Trâm vui vẻ hơn, quay về khuê phòng.

Nàng kể cho ba cô em gái nghe về Nhương Thư và kế hoạch báo thù của mình!

Ngọc Trâm không ngờ mình đã khích động lòng hiếu kỳ của ba em, khiến nàng nào cũng âm thầm tự nhủ rằng sẽ tiếp cận Tần Nhương Thư. Chàng là người thế nào mà lại dọa khiếp được bà chị cả Trương Phi của họ?

Trước tiên, đám tỳ nữ thân tín của bốn nàng được huy động giám sát Tần Nhương Thư. Trong bốn ngày, họ đã báo cáo lại toàn bộ hành vi, cử chỉ, thói quen của họ Tần.

Chàng trai này ngày ngày đi dạo khắp trang để ngắm cảnh và làm quen với những người đến trước. Dường như Nhương Thư đang hỏi han, tìm kiếm một lão già họ Trác nào đó.

Ngọc Trâm hiểu ngay rằng Nhương Thư đang ôm một mối huyết thù sâu nặng, đến đây để điều tra tung tích cừu nhân, chứ chẳng phải muốn ăn nhờ ở đậu Điền gia trang!

Hổ Hồng Nhan bắt đầu lân la đến thăm Nhương Thư, trong những bộ y phục đẹp nhất, và ban phát những ánh mắt đổ nước nghiêng thành. Nhưng Nhương Thư chỉ hờ hững đối đáp, cung kính mà lạnh nhạt, không hề tỏ ra xao xuyến trước nhan sắc phi phàm của mỹ nhân.

Ngọc Trâm vô cùng tức giận và hổ thẹn, song cố tự an ủi rằng thời gian còn dài, trước sau gì đối phương cũng phải say mê mình, y như tất cả những nam nhân khác trong thiên hạ.

Tại sao nàng biết Nhương Thư sẽ còn lưu lại nhiều ngày nữa? Đó là bởi tháng tám hàng năm mới là thời điểm mà Điền gia trang đông đảo nhất.

Hiện tượng này xảy ra suốt sáu năm, từ lúc giới võ lâm nghe được tin đồn rằng núi Thái Sơn là nơi tạo hóa của thiên hạ đệ nhất kỳ nhân, Thần Quang Chân Quân Công Tôn Khuê. Và một ngày tháng tám nào đó, khi đỉnh Thái Sơn rực cháy thì đấy là lúc kẻ hữu duyên có thể tìm thấy bảo kiếm và di học của ông ta.

Truyền thuyết này cực kỳ mơ hồ và vô căn cứ, thế mà vẫn có nhiều người tin, năm nào cũng đổ xô về sơn trang chờ đợi!

Thực ra thì hành động này cũng chẳng có gì là khờ dại, vì Thái Sơn là một trong những ngọn núi đẹp nhất Trung Hoa, nhất là vào buổi đầu thu! Hơn nữa, việc ăn ở đã có Điền gia trang chu toàn, tội gì không đi chơi một chuyến?

Thành Tế Nam nằm ở hướng Bắc rặng Thái Sơn, cũng là địa phương có phong cảnh tuyệt mỹ. Cái làm cho Tế Nam lừng danh chính là những con suối nước ngầm.

Lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn, số lượng nước suối ngầm lớn nhỏ lên đến hàng chục vạn, nổi tiếng nhất có hơn trăm cái, và ở Tế Nam có con suối đứng đầu thiên hạ.

Tế Nam nằm ở nơi giao nhau giữa sườn Bắc núi Thái Sơn với đồng bằng nên có rất nhiều suối ngầm, khả dĩ xưng tụng rằng “Nhà nhà có suối”.

Trong hàng ngàn dòng suối của Tế Nam, có bảy mươi hai cái nổi danh, đứng đầu là bốn suối: Báo Đột, Trân Châu, Hắc Hổ, Kim Tuyến. Đến thời vua Càn Long nhà Thanh sau này, suối Báo Đột đã được phong làm “Thiên hạ đệ nhất tuyền”.

Suối này nằm ở ngoài cửa phía Nam thành Tế Nam. Địa thế phía Nam cao, phía Bắc thấp, ba mặt Đông, Tây và Bắc đều bị chặn bởi loại đá không thấm nước, khiến dòng suối chịu sức nén mạnh, vọt lên khỏi mặt đất. Miệng suối rộng gần trượng, sâu hơn sải tay, có ba gióng nước cuồn cuộn chảy ra tựa như ba vòi rồng, cách vài trăm mét vẫn nghe được tiếng nước chảy. Chất lượng nước suối cực kỳ thanh khiết, vị ngon ngọt phi thường, xứng đáng đứng đầu các suối trong thiên hạ!

Do vậy, tháng tám nào, hào kiệt bốn phương cũng kéo đến Tế Nam trước là du ngoạn, sau là chờ đợi luồng ánh sáng thần kỳ trên đỉnh Thái Sơn. Tất nhiên là họ ăn sạch kho gạo của Điền gia trang!

Không ai chê Mạnh Thường Quân là ngu, thì việc tự nguyện nuôi báo cô người ngoài của Điền gia trang chủ cũng không đáng trách!

Người Trung Hoa say mê kiếm tiền nhưng lại luôn muốn chứng tỏ mình là kẻ hào phóng, xem tiền tài như phấn thổ.

Điều này có lẽ xuất phát từ cái tật hiếu danh!

Dạo chơi vài dặm cho vui, giờ chúng ta quay lại với những nhân vật của mình!

Đến cuối tháng bảy thì Điền đại tiểu thư phát hiện việc ba cô em gái thường đến trò chuyện với Nhương Thư, tình cảm ngày càng thắm thiết! Dường như cả ba đều say đắm gã họ Tần chết tiệt kia!

Ngọc Trâm tá hỏa tam tinh khi nghe tỳ nữ mật báo :

- Bẩm đại tiểu thư! Không hiểu gã họ Tần kia có gì hay ho mà cả ba tiểu thư nhà ta cứ quấn quít, cùng gã chuyện trò đến tận cuối canh hai mới chịu thôi!

Ngọc Trâm nổi lôi đình, gọi ba em ra hỏi. Tứ tiểu thư Điền Uyển Xuân tính tình tinh quái, ranh mãnh nhất nhà đáp rằng :

- Bọn tiểu muội thấy Tần công tử thờ ơ với đại thư, vì thành kiến ban đầu, nên định giúp một tay, chàng mà mê ai là xem như kế hoạch báo thù của đại thư đã thành công!

Ngọc Trâm cứng họng và không hề tin tưởng cô em út này, liền xoay qua hỏi Điền Bạch Cúc. Tam muội của nàng nổi danh là người không biết nói dối, tính tình cương trực, thẳng thắn, Bạch Cúc thản nhiên đáp :

- Nhương Thư nhân phẩm cao quí, trí tuệ tuyệt luân, xứng đáng là bậc quân tử để tiểu muội gởi thân. Đại thư chê chàng lớn tuổi hơn quy định nhưng tiểu muội thì không!

Ngọc Trâm đuối lý, cố gỡ gạc bằng cách nói :

- Tam muội đã chấm họ Tần thì ta cũng không cản. Nhưng vì sao cả nhị muội và tứ muội cũng thân mật với Nhương Thư làm gì?

Vừa nói nàng vừa nhìn vào mặt nhị tiểu thư Điền Mã Lan, người hiền lành, thùy mị nhất bọn. Mã Lan thẹn đỏ mặt, ấp úng đáp :

- Tiểu.. muội.. tiểu muội.. chẳng dám tranh giành với tam muội... nhưng không gặp chàng không được!

Ngọc Trâm chết điếng người, hiểu rằng Mã Lan cũng yêu say đắm Nhương Thư!

Nàng điên tiết hỏi Uyển Xuân :

- Còn ngươi thì sao?

Tứ tiểu thư cười khanh khách :

- Chị em thờ chung chồng là chuyện thường! Bọn tiểu muội quyết không để Nhương Thư lấy người ngoài!

Ngọc Trâm cơ hồ té xỉu, lắp bắp mắng :

- Các ngươi điên rồi! Phải chăng gã họ Tần kia đã dùng tà thuật để mê hoặc?

Nàng đùng đùng chạy vào thư phòng giữa vườn hoa để bảo cho Điền trang chủ biết chuyện động trời này. Điền Đông Giám cơ trí thâm trầm, vui buồn không hề lộ ra trên sắc mặt. Nghe xong lời kể của ái nữ, ông vuốt chòm râu cằm dài và đen nhánh, cân nhắc rồi từ tốn nói :

- Ba em của con tính nết khác nhau mà cùng để ý một nam nhân, tất Tần Nhương Thư phải là người rất đặc biệt! Để ta gọi hắn đến xem tính cách thế nào?

Ngọc Trâm hậm hực quay về thư phòng, miệng lẩm bẩm chửi rủa Nhương Thư, song trong lòng lại thấp thoáng nghi vấn :

- Không lẽ chính ta mới là người ngu ngốc, không nhìn ra chân tướng Nhương Thư, bỏ lỡ mối lương duyên? Ba con quỷ cái kia cũng khó tính, kén cá chọn canh mãi, đâu dễ gì lầm lạc được?
Trong lúc ấy Điền trang chủ đã gọi Tổng quản Triệu Linh Vũ đến để hỏi han về Nhương Thư.

Triệu lão tuổi đã sáu mươi lăm, trước đây tung hoành miền Tây bắc với danh hiệu Hồ Tâm đ*o. Mười chín năm trước, Triệu Linh Vũ bị Hạt Nhãn Thần Ma đả thương và đuổi khỏi Lam Châu, lưu lạc vào Trung Nguyên, rồi trở thành thủ hạ đắc lực của Điền gia trang!

Họ Triệu tuy đã già nhưng đầu óc vẫn còn tinh minh, sắc bén, được Điền Đông Giám giao nhiệm vụ giám sát khách khứa. Muốn mua tiếng Mạnh Thường Quân, Điền Đông Giám phải chứa chấp hàng ngàn cao thủ tứ xứ. Nếu không có lực lượng ngầm để quản lý thì làm sao biết ngay gian, mà giữ gìn tài sản khổng lồ của họ Điền?

Do vậy, Triệu tổng quản đã đào tạo, chỉ huy bọn gia đinh, tỳ nữ trong trang, nắm rõ hành vi của từng người khách. Hồ Tâm đ*o nghe chủ nhân hỏi về chàng trai họ Tần liền cau mày đáp :

- Bẩm Trang chủ! Quả thực là nhân phẩm, tính cách của Nhương Thư rất tuyệt diệu! Gã ít nói nhưng luôn vui vẻ, đối với ai cũng khiêm cung, chí thành khiến người người yêu mến. Do việc được các tiểu thư ái mộ, họ Tần cũng bị nhiều chàng trai khác ganh ghét, buông lời mỉa mai, khiêu khích, thậm chí khiêu chiến nữa! Tuy nhiên, Nhương Thư không hề biến sắc, chỉ nhẫn nhịn bỏ qua, độ lượng ấy quả là hiếm có! Còn về võ công thì lão phu không thể ước lượng được, song có cảm giác rằng bản lãnh họ Tần cao thâm đến mức tinh hoa nội liễm, chẳng lộ ra ngoài!

Điền trang chủ gật gù thích thú, và hỏi thêm :

- Trâm nhi cho rằng Nhương Thư dùng tà thuật, hay thủ đoạn đường mật quỷ quái nên quyến rũ được cả ba ái nữ của ta! Ý Triệu lão huynh thế nào?

Linh Vũ mỉm cười :

- Làm gì có việc ấy! Chẳng qua “hữu xạ tự nhiên hương”, hoa thơm thì ai cũng biết, và say đắm! Nhương Thư không quá anh tuấn, lại trầm lặng ít nói, song con người lại toát ra vẻ trung hậu, tôn quý, vững chắc, khiến nữ nhân hoàn toàn tin tưởng, muốn nương tựa. Nhưng lão phu cho rằng chưa chắc Nhương Thư đã chịu ở lại đây làm rể Điền gia trang. Gã nuôi mối thù sâu với lão họ Trác nào đó, tất không thể dừng chân được!

Điền trang chủ cười mát, nói đùa :

- Hình như Triệu tổng quản cũng bị chàng trai ấy hấp dẫn nên đánh giá y rất cao! Biết đâu ngoài dung mạo, y chỉ là kẻ lục lục thường tài?

Triệu Linh Vũ gượng cười :

- Không phải lão phu nhẹ dạ, mà vì Nhương Thư chính là ngọn lửa ấm áp trong cuộc đời lạnh giá này!

Sáng mùng ba tháng tám, khách của Điền gia trang đã lên đến số ba ngàn, và có không ít những đại nhân cao thủ thành danh của võ lâm. Điền trang chủ bận tíu tít nên chưa thể nói chuyện với Nhương Thư. Ông chỉ nghe Triệu tổng quản báo cáo rằng Nhương Thư vẫn kiên nhẫn hỏi thăm từng người khách mới đến về một lão cao gầy, tên Trác Thiên Lộc, sáu mươi mốt tuổi, trên mặt có vết sẹo kéo dài từ tai trái đến cằm! Đặc điểm thứ hai là họ Trác quê đất Triều Châu!

Cuối giờ mùi hôm ấy, tai họa giáng xuống Điền gia trang với hình dáng hiền lành của một cỗ kiệu phủ sa đen, được khiêng bởi bốn đạo sĩ áo trắng tuổi đôi mươi. Khi đến cửa trang, bốn đạo nhân này đồng thanh niệm ê a :

- Tứ.. Phạn.. Thiên cung sứ giả giá lâm!

Lời tự giới thiệu đơn giản, nhẹ nhàng ấy đập vào tai mọi người, biến thành tiếng sét dữ dội, không phải do cường độ âm thanh mà bởi kỳ ức hãi hùng về thanh danh của tổ chức Tứ Phạn Thiên.

Thực ra, Tứ Phạn Thiên là một ý niệm trong đạo giáo Trung Hoa, để chỉ miền tịnh độ, siêu thoát tam tai, luân hồi. Nơi ấy dành cho những kẻ đã tu luyện thành tiên, và được tiếp dẫn bởi Tây Vương Mẫu!

Quái ác thay, cách đây hơn ba chục năm, có một cặp vợ chồng đã tự xưng là Thanh Linh Thủy Lão và Kim Mẫu (tức Tây Vương Mẫu, vợ cả của Ngọc Hoàng đại đế). Họ dựng lên một bang hộ lấy tên là Tứ Phạn Thiên cung, khủng bố võ lâm và đột nhiên biệt tăm hồi mười ba năm trước!

Không ai biết tiên cảnh Tứ Phạn Thiên kia ở chốn nào, vì tất cả những người được họ mời đi làm “tiên” đều mất tích!

Năm nào cũng có vài nhà đại phú được vinh hạnh dạo chơi miền tiên cảnh, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen! Khi đi, họ còn mang theo vàng để làm lễ vật cúng dường. Số vàng này ít hay nhiều tùy theo gia sản của nạn nhân, song tối thiểu cũng phải ba ngàn lượng!

Tất nhiên có nhiều người không thích thành tiên nên đã từ chối bằng cách kháng cự, báo quan hoặc bỏ trốn. Nhưng những kẻ cứng đầu ấy đều phải chịu cảnh toàn gia lưu lạc, tài sản mất sạch!

Các phái võ lâm dưới sự thống lãnh của Minh chủ, đã dốc hết sức điều tra và chỉ biết được rằng cao thủ Tứ Phạn Thiên cung rất giỏi khinh công, kiếm pháp, nhưng thường giết người bằng chất độc vô hình, vừa nhanh vừa gọn. Để cảnh cáo mọi người chớ quá tò mò, Tứ Phạn Thiên cung đã lần lượt sát hại bốn đời Minh chủ, khiến chẳng còn ai dám ra ứng cử, tranh ngôi nữa!

Mười ba năm qua, Tứ Phạn Thiên cung không hề xuất hiện, khiến lòng người nhẹ nhõm, tưởng tà hội quỷ quái kia đã bị trời đánh chết! Võ lâm khởi sắc và những kẻ giàu sang mới dám phô trương của cải. Trong số đó có Võ Lâm Mạnh Thường Quân Điền Đông Giám.

Nào ngờ, Tứ Phạn Thiên cung lại hồi sinh và chọn đúng họ Điền làm đối tượng khai trương!

Bất cứ kẻ học võ nào cũng được nghe kể về truyền thuyết Tứ Phạn Thiên nên bốn ả tố nga xanh mặt, chạy đi tìm phụ thân Điền trang chủ buồn rầu bảo :

- Lão phu vì háo danh nên mang họa vào thân, chỉ tự trách mình! Các con hãy thương yêu, đùm bọc nhau, giữ gìn cơ nghiệp họ Điền!

Ba nàng kia khóc vùi, nhưng Ngọc Trân lại trợn mắt nói :

- Nhà ta lúc nào cũng có cả ngàn cao thủ, lẽ nào lại phải sợ ai?

Điền Đông Giám lắc đầu, mỉm cười thê lương :

- Với chất độc vô hình và thủ đoạn phi thường của Tứ Phạn Thiên cung thì dù có cả vạn người cũng vô dụng! Hơn nữa, chắc chắn là đối phương đã vì vài người trong số hai ngàn hào khách mới đến!

Ông quay sang nói với Hồ Tâm Đao :

- Xin Triệu lão huynh vì chút nghĩa tri âm mà chu toàn cho bọn trẻ.

Triệu Linh Vũ ứa nước mắt gật đầu :

- Trang chủ cứ yên tâm! Lão phu chịu ơn cưu mang hai chục năm, quyết xả thân hầu hạ các tiểu thư!

Điền Đông Giám cúi mình vái thật sâu để cảm tạ rồi quay gót, đi ra đón tiếp tử thần. Bốn nữ nhân khóc sướt mướt, lão đêo theo cha già. Tứ tiểu thư Uyển Xuân bỗng hỏi Hồ Tâm đ*o :

- Triệu lão bá! Chẳng lẽ chúng ta không thể bỏ cả gia tài này ra để mua mạng phụ thân được sao?

Triệu lão trầm ngâm đáp :

- Đúng là có thể dùng vàng chữa cháy, nhưng lại phải thêm một điều kiện nữa, là có người chịu đi thay, và người này phải đả bại được sứ giả của Tứ Phạn Thiên!

Uyển Xuân hớn hở reo lên :

- Tần Nhương Thư!

Ngọc Trâm cười nhạt :

- Dẫu gã ấy có đủ tài cũng chẳng dại gì chết thay phụ thân!

Nàng nói quá chí lý nên chẳng ai dám kỳ vọng vào Tần Nhương Thư nữa.

Gia đình họ Điền ra đến sân trước thì ba ngàn hào kiệt đã tề tựu đông đủ. Có thể họ sẽ vì đạo nghĩa mà nghe lời Điền Đông Giám chống lại sứ giả của Tứ Phạn Thiên cung, nhưng chính bản thân họ Điền lại không dám hành động! Lão không muốn bốn ái nữ và hai trăm gia nhân phải chết thảm vì sự trả thù của tổ chức đáng sợ kia. Điền trang chủ vái cháo quần hùng, đón nhận những ánh mắt nồng nhiệt của họ, rồi lẳng lặng tới trước cỗ kiệu. Ông cố giữ vẻ ung dung mà nói :

- Lão phu là Điền Đông Giám, xin bái kiến sứ giả!

Từ trong cỗ kiệu phủ sa kín mít kia vọng ra tiếng nam nhân già nua :

- Bổn sứ giả thừa lệnh Kim Mẫu đến mời Điền thí chủ về miền Tứ Phạn Thiên, sống đời an lạc, thoát cảnh luân hồi! Thí chủ hãy mang theo vạn lượng hoàng kim để cúng dường Thủy Lão và Kim Mẫu! Đúng giờ Tý đêm nay sẽ có tiên nhân đến rước đi!

Điền Đông Giám đắm chìm trong tuyệt vong, song cố níu kéo :

- Bẩm sứ giả, lão phu còn bốn ái nữ chưa thành gia thất, chẳng nỡ bỏ đi ngay lúc này! Lão phu xin dâng năm vạn lượng hoàng kim để cúng đường chư tiên!

Người trong kiệu có vẻ hài lòng trước số vàng lớn lao ấy, hòa hoãn nói :

- Điền thí chủ bận tâm chăm sóc cho con cái nên bổn tiên cũng thể tất, nhưng theo qui định của tiên giới thì phải có người tài giỏi đi thay! Điều kiện này đã được truyền bá rộng rãi khắp võ lâm suốt ba chục năm qua, bổn tiên không thể tùy tiện phế bỏ được!

Điền Đông Giám thiểu não van xin :

- Mong sứ giả thương tình nhận mười vạn lượng mà hoãn cho mười năm!

Quần hùng chấn động, tự hỏi rằng Tứ Phạn Thiên có vì số vàng khổng lồ kia mà phá quy củ hay không?

Nhưng lão sứ già đã giận dữ quở trách :

- Bổn cung là tiên giới, xem vàng bạc như vật vô dụng, chỉ là cách biểu lộ lòng thành của người mới đến! Ngươi tưởng có thể mang tài sản ra mà mặc cả được sao? Bổn nhân thực hiện đúng quy củ, chỉ nhận hai vạn lượng nếu có người thay đủ tư cách!

Trong đám người đông đảo đứng chung quanh kia, có ai đó phẫn nộ chửi đổng :

- Mẹ kiếp! Lão ỷ mình già cả, luyện võ mấy chục năm, ai mà địch lại, lão mà ở tuổi bốn mươi thì Tào mỗ đánh chết tươi ngay!

Người phát ngôn chính là Thiết Kình Ngư Tào Ưng, đệ tử phái Vương Ốc, năm nay tròn tứ thập, nổi tiếng ngang tàng, chẳng biết sợ là gì! Ngoài tài bơi lội như cá, Tào Ưng còn giỏi kiếm pháp, đứng đầu trong đám cao thủ trung niên!Nãy giờ quần hùng rất tức giận trước hành vi bá đạo của Tứ Phạn Thiên cung, may được Thiết Kình Ngư khơi mào liền xôn xao hẳn lên, thi nhau chửi rủa Tứ Phạn Thiên cung.

Lão sứ giả nổi lôi đình, quát vang :

- Câm ngay! Kẻ nào còn dám xúc phạm đến Tứ Phạn Thiên cung thì Điền gia trang sẽ gánh hết hậu quả đấy!

Điền Đông Giám vội vái dài, xin mọi người im lặng cho. Nhưng có một người không nghe, vẫn mở miệng nói :

- Tại hạ xin được đi thay Điền trang chủ, mong sứ giả chỉ giáo cho vài chiêu!

Quần hùng ồ lên kinh ngạc khi thấy chàng trai hiền lành họ Tần đủng đỉnh bước ra. Họ đều biết chàng được sự sủng ái của các cô gái nhà họ Điền, nhưng phỏng có ích gì khi phải đi ngay đến Tứ Phạn Thiên cung nộp mạng?

Dẫu sao, hành động dũng cảm này cũng khiến mọi người ngưỡng mộ, vỗ tay cổ vũ. Ba nàng con gái của Điền Đông Giám cảm kích trước sự hy sinh của Tần Nhương Thư, chạy đến quì xuống đất lạy chàng như tế sao và khóc nức nở.

Nhương Thư cúi xuống đỡ ba nàng lên, hòa nhã nói :

- Tam vị tiểu thư chớ có bi lụy, mạng của tại hạ rất lớn, dẫu có lọt vào Tứ Phạn Thiên cung cũng chẳng hề hấn gì!

Điền Bạch Cúc gạt lệ nói ngay :

- Tiểu muội sẽ cùng công tử đi đến Tứ Phạn Thiên cung, có chết thì chết chung!

Lời thổ lộ chân tình này đã khiến Nhương Thư cảm động, vòng tay đáp :

- Tại hạ hổ thẹn vì không xứng đáng với lòng ưu ái của tam tiểu thư!

Uyển Xuân phụng phịu xen vào :

- Tiểu muội cũng đi nữa!

Mã Lan không nói gì nhưng đôi mắt nhung huyền kia đã thay lời. Thiết Kình Ngư nóng ruột trước cảnh biệt ly ướt át, lê thê, thét lớn lên :

- Này Tần lão đệ, ngươi có đánh hay không thì bảo, bọn ta mỏi cổ rồi đấy!

Nhương Thư vội vã bước đến trước cỗ kiệu, trước tiên vái chào Điền Đông Giám :

- Vãn sinh Tần Nhương Thư bái kiến Trang chủ!

Điền lão vái trả rồi buồn rầu nói :

- Công tử còn trẻ hà tất phải liều mạng! Lão phu vô cùng cảm kích nhưng không thể lãnh thụ mối ân tình này được!

Chợt lão nghe tiếng truyền âm :

- Trang chủ yên tâm! Vãn sinh đã có cách giải nguy mà chẳng ai phải đến Tứ Phạn Thiên cung!

Dù bán tình bán nghi nhưng chút hy vọng đã bùng lên, Điền lão thở dài lui ra sau, để mặc ân nhân hành động. Nhương Thư quay sang nói với người trong kiệu :

- Mời tôn giá bước ra!

Màn kiệu vén lên, xuất hiện một lão đạo sĩ áo đen, râu tóc pha sương, mang mặt nạ bằng đồng mỏng rất tinh xảo.

Đồng diện kia chỉ che hết phần mũi, để lộ cái miệng rộng với đôi môi mỏng thâm sì. Lão ta lặng lẽ quan sát Nhương Thư rồi bảo :

- Cốt cách của Tần thí chủ rất khá, bổn tiên nhân quả không nỡ giết đi!

Nhương Thư cười mát, hỏi lại :

- Tôn giá đứng hàng thứ mấy trong mười hai vị Hộ cung Chân khanh của Tứ Phạn Thiên?

Đạo sĩ kia giật mình đáp :

- Thứ tư, vì sao thí chủ lại biết rõ nội tình của bổn cung như vậy?

Nhương Thư điềm đạm đáp :

- Tại hạ còn biết tọa lạc của Thiên cung nữa kìa!

Lão sứ giả choáng váng, còn Tào Ưng cười rộ và nói :

- Ở đâu? Ở đâu? Chúng ta kéo đến đấy xem các tiên có mặc quần hay không?

Mấy ngàn người cười vang như sấm, càng khiến lão đạo sĩ áo đen bối rối! Bí mật của căn cứ là yếu tố quan trọng số một cho quyền lực đen tối của Tứ Phạn Thiên cung. Nếu để lộ ra, quân triều đình vác đại pháo đến thì tiên thật cũng chết, huống hồ gì tiên giả!

Đệ tứ Chân khanh cố trấn tĩnh, tìm cách dò hỏi xem hư thực thế nào. Lão vờ không tin, bĩu môi cười khinh miệt :

- Nói láo! Ngươi đừng rung cây nhát khỉ uổng công.

Nhương Thư bỏ dở cuộc đối thoại, rút kiếm ra. Hắc y đạo sĩ tuy ấm ức nhưng vẫn phải vào trận. Lão quyết định giết cho được gã tiểu tử đáng ngờ này để diệt khẩu Nhương Thư ôm kiếm vái rồi thủ thế.

Chàng trẻ tuổi hơn đối phương nên sẽ được quyền xuất thủ trước. Nhương Thư không tấn công ngay, mà dựng trường kiếm trước mặt, mắt khép hờ như đang buồn ngủ. Lão sứ giả Tứ Phạn Thiên cung cũng chỉ xéo kiếm trân trời, tay tả bắt kiếm ấn, tư thế trang nghiêm, trầm ổn như núi Thái, lộ rõ một trình độ kiếm thuật thượng thừa!

Kiếm của lão có nước thép xanh biếc, ai cũng nhận ra là nó tốt hơn kiếm của Nhương Thư. Chàng họ Tần kia sử dụng một cây kiếm tầm thường trị giá chỉ độ vài lượng bạc. Hổ Hồng Nhan sợ chàng kiếm thế, vô tình buột miệng trách móc :

- Sao y lại nghèo đến nỗi không mua lấy một thanh kiếm cho ra hồn! Loại thép mục ấy chỉ vài chiêu đã gãy, làm sao thắng nổi đối phương?

Uyển Xuân nhanh nhảu tháo kiếm của mình, định đưa cho Nhương Thư, thì chàng đã ra tay.

Quần hùng nhất tề ồ lên thán phục khi thấy chàng trai trẻ tuổi thi triển phép Ngự kiếm. Trong trăm năm trở lại đây, chưa có kiếm thủ tuổi dưới năm mươi nào tinh thông Ngự kiếm thuật. Và ngay cả trong đám cao thủ lão thành cũng chẳng mấy người đạt đến trình độ thượng thừa này của kiếm đạo.

Phép ngự kiếm đòi hỏi công lực thâm hậu và nhất là căn cơ võ học bẩm sinh.

Có người luyện kiếm sáu chục năm mà vẫn không sao hiểu ngộ được yếu quyết Ngự kiếm. Kiếm thuật thuộc về ý, còn kiếm đạo được giác ngộ bằng cái tâm vô nhiễm!

Thành tựu vượt bậc của Nhương Thư phải có sự dìu dắt của bậc minh sư! Vậy sư phụ của chàng là bậc kỳ nhân nào?

Chuyện ấy khoan bàn đến vì lão sứ giả Tứ Phạn Thiên cung đã tiếp đón chàng bằng một màn kiếm quang xanh biêng biếc, đầy những tia sáng dọc ngang như ánh chớp. Đây chính là pho Hạo Thiên kiếm pháp lừng danh của Tứ Phạn Thiên cung, mấy mươi năm bất bại.

Hao Thiên là hai chữ đầu trong danh hiệu của vị thần tối cao mà đạo giáo thờ phụng. Nguyên câu ấy là Hao Thiên Kim Thuyết Ngọc Hoàng Đại Đế. Ông này còn được gọi là Ngọc Thanh, đứng đầu Tam Thanh. Chắc chắn Ngọc Hoàng chẳng phải là người sáng tạo ra pho kiếm ác độc ấy, song mức độ lợi hại của nó quả là quán thế!

Khi đọc Tây Du Ký, chúng ta thấy rằng Ngọc Hoàng kém xa Phật tổ Như Lai, thì trong trường hợp này cũng vậy, luồng kiếm ảnh mờ mờ, mềm mại mà chẳng chút sát khí của Nhương Thư như bàn tay Phật mở lớn ra, nuốt chửng đạo kiếm quang rực rỡ và diêm dúa của đối thủ.

Hai thanh kiếm chạm nhau liên hồi, tiếng trong trẻo của thép tốt hòa với tiếng đục chát của thanh kiếm rẻ tiền, thành một tiếng ngân kỳ quái.

Song phương dội ra, rơi xuống đất, rồi lập tức áp sát ngay. Lúc này, người xem mới nhận ra một đoạn mũi kiếm dài nửa gang nằm trên mặt cỏ. Nghĩa là thanh kiếm rẻ tiền của Nhương Thư ngắn đi.

Mọi người ồ lên tiếc rẻ khi thấy ngực lão sứ giả kia rách một đường dài, lộ rõ áo trong màu trắng, đẫm máu. Nếu kiếm của Nhương Thư không gãy thì lão khó mà sống sót.

Rõ ràng đệ tứ Hộ cung Chân khanh sợ hãi thuật Ngự kiếm của Nhương Thư nên chủ động bám riết lấy chàng, dùng kiếm thuật thông thường mà áp đảo. Lão thi triển pho khinh công Kim Khuyết thân pháp, di chuyển nhanh như gió liên tiếp ập vào giáng những đòn bão táp. Ánh tà dương mùa thu mỗi lúc mỗi nhuộm hồng màn kiếm quang xanh biếc, khiến nó dần tím lại! Kim Hao kiếm pháp vừa độc ác, vừa diễm lệ phi thường!

Tuy chán ghét Tứ Phạn Thiên cung nhưng lòng hiếu võ đã khiến khách quan chiến phải vỗ tay khen ngợi lão sứ giả.

Vả lại, kiếm pháp nào cũng mang mục đích giống nhau, ác hay thiện là do lòng dạ người học kiếm. Kẻ thì dùng sở học giết đồng loại mà mưu lợi cầu danh, kẻ chỉ mong tự vệ hoặc diệt ác cứu bách tính. Song chẳng bao lâu sau, mọi người lại tán thưởng Nhương Thư, vì với thanh kiếm gãy mũi và đầy những vết sứt mẻ nơi lưỡi, chàng vẫn kiên cường chống cự, chẳng hề chịu kém.

Họ Tần dùng đấu pháp dĩ tịnh chế động, di chuyển những bước ngắn, ung dung giải phá những đợt sóng kiếm vũ bão của đối phương, mắt sáng rực một niềm phấn khởi. Có vẻ như chàng ta vui mừng được tỷ kiếm với tay kiếm lão luyện như lão sứ giả kia vậy! Tuy nhiên, chàng phải trả giá bằng những vết rách không sâu trên cơ thể. Các thương tích này đã khiến lão đạo sĩ mang mặt nạ đồng kia khoái trá, hăng hái tấn công quyết liệt, chẳng ngờ việc có người mê học kiếm đến nỗi đem thân ra chịu đòn.

Nhưng đến chiêu thứ sáu trăm, lão ta thức ngộ được dụng ý của Nhương Thư, vì phát hiện đối thủ đã bỏ qua nhiều cơ hội để giết mình. Lão chột dạ nghĩ :

- “Quỷ quái thực! Chẳng lẽ tiểu tử này thông minh đến mức có thể học lỏm võ công trong lúc giao đấu hay sao?”

Lão liền dồn toàn lực, ra một loạt đòn sấm sét, và sử dụng cả tay áo đạo bào dài thượt để hỗ trợ. Bề ngoài, chiến thuật này chỉ có tác dụng làm rối mắt Nhương Thư, nhưng bên trong, lão sứ giả âm thầm phóng kỳ độc. Dường như họ Tần biết được, tức khắc múa tít trường kiếm, tấn công dồn dập như bão táp mưa sa, tiện phăng tay áo và không để đối phương kịp đổi hơi.

Lúc này quần hùng mới được chứng kiến bản lãnh chân thực của chàng, tròn mắt khâm phục trước những đạo kiếm quang chập chờn, lung linh như ngọn lửa.

Lão sứ giả đã nhận ra lai lịch pho kiếm này, than thầm :

- Phật Đăng kiếm pháp!

Vậy là đã rõ, Nhương Thư chính là học trò Phật Đăng Thượng Nhân, cao thủ số một của Phật môn, vừa tọa hóa hồi cuối năm ngoái ở tuổi chín mươi.

Khác với Thiếu Lâm tự và Vạn Niên tự ở núi Nga Mi, các chùa trên núi Ngũ Đài sơn không hề thành lập võ phái, không nhận đệ tử tục gia. Võ nghệ chỉ truyền cho tăng chúng như phương tiện rèn luyện thể lực, và bảo vệ chùa. Tuy nhiên, Phật Đăng Thượng Nhân đã khiến cho cả võ lâm phải nghiêng mình kính phục trước nền võ học núi Ngũ Đài! Sau khi Thần Quang Chân Quân Công Tôn Khuê tạ thế, Thượng nhân được tôn là thiên hạ đệ nhất cao thủ.

Phật Đăng Thượng Nhân rời chùa Phật Quang năm bốn chục tuổi, vân du khắp Trung Hoa. Suốt ba mươi năm, cải hóa hoặc phế bỏ võ công của hàng trăm đại ma đầu cái thế, mang lại thanh bình cho võ lâm. Hai chục năm trước, ông quay lại Ngũ Đài sơn thiền định, được mười chín xuân thì nhập Niết Bàn.

Chỉ vài cao tăng chùa Phật Quang và Nhương Thư biết vì sao Tứ Phạn Thiên cung ẩn mặt mười ba năm. Chính Phật Đăng Thượng Nhân đã tìm ra sào huyệt Thiên cung, một mình đột nhập, khống chế Kim Mẫu, bắt Thanh Linh Thủy Lão phải đóng cửa Thiên cung, không được tác oai tác quái nữa. Nay Thượng nhân tọa hóa, Tứ Phạn Thiên cung mới dám tái xuất giang hồ.

Nhưng xui xẻo cho họ, vừa khai trương đã đụng phải đệ tử của khắc tinh, khiến lão sứ giả vô cùng hoang mang sợ hãi, nhất là khi đôi mắt Nhương Thư bốc lên những tia tàn nhẫn và ác độc, kèm theo giọng truyền âm lạnh lẽo :

- Chắc lão biết ta là ai? Nếu muốn sống thì tuyên bố bãi bỏ việc mời Điền trang chủ đến tiên cảnh và quay về báo với Thanh Linh Thủy Lão rằng Phật Đăng Thượng Nhân đã có học trò kế nghiệp. Tần mỗ lại tàn ác khác hẳn gia sư, đừng để ta đến nơi hỏi tội!

Chàng vừa hăm dọa vừa xuất kỳ chiêu đâm thủng áo đối thủ, làm cho lão đạo sĩ khốn khổ kia chẳng còn chút dũng khí nào cả. Lão rầu rĩ đáp :

- Bần đạo xin tuân mệnh! Mong thì chủ dừng tay cho!

Nhương Thư khê gật đầu, dặn dò thêm vài câu rồi tung mình nhảy lùi bãi chiến.

Lão sứ giả đình thủ, tra kiếm vào vỏ, hắng giọng nói lớn :

- Thì ra sư thừa của Tần thiếu hiệp đây có chút uyên nguyên với bổn cung! Nể mặt y, bổn cung hoãn việc triệu tập Điền thí chủ, để đưa Nhương Thư về ra mắt nhị vị Cung chủ đại tiên. Xin cáo biệt.

Quần hùng ngơ ngác trước thái độ nhũn nhặn của Tứ Phạn Thiên cung, và thắc mắc về lai lịch của Nhương Thư, sao Ngũ Đài sơn lại có liên quan với bọn tà ma? Hay là chàng họ Tần đã khai man lý lịch?

Riêng đối với cha con nhà họ Điền thì dẫu chàng là ai cũng mặc, vì đã cứu mạng Điền Đông Giám! Ba nữ nhân chạy ra vừa khóc vừa cười níu áo Nhương Thư, Uyển Xuân nói ngay :

- Công tử không được đi! Thăm người quen thì lúc nào chẳng được! Năm nay không gặp thì sang năm, có gấp gáp gì?

Bạch Cúc thì thản nhiên nói :

- Công tử mà đi thì tiểu muội sẽ tháp tùng!

Nhương Thư đang bối rối thì Mã Lan thỏ thẻ :

- Tần công tử quên việc tìm lão Trác Thiên Lộc rồi sao? Tháng tám này Tế Nam tụ tập hàng vạn hảo hán bốn phương, là cơ hội tốt nhất để chàng điều tra!

Lúc đầu, Nhương Thư vì sợ đa mang tình ái nên bảo Đệ tứ chân khanh nói như thế. Nay ba nàng quá thiết tha, và chàng cũng cần ở lại, nên đành phải thay đổi kế hoạch, Nhương Thư vòng tay nói với lão sứ giả :

- Tôn giá cứ về trước! Cuối năm nay tại hạ sẽ đến bái kiến Thủy Lão và Kim Mẫu!

Lão ta gật đầu, nói giả lả :

- Thế cũng được! Bổn tiên sẽ về báo lại với nhị vị Cung chủ đại tiên! Mong thiếu hiệp chớ lỗi hẹn!

Nói xong, lão lên kiệu chuồn thẳng, được quần hùng tống tiễn bằng tràng cười chết giễu! Mọi người quay sang tán thưởng Nhương Thư, Tào Ưng hỏi thẳng :

- Này Tần lão đệ! Chẳng hay nội tình như thế nào?

Không ngờ Nhương Thư lảo đảo khuy xuống, ngồi xếp bằng điều tức, mặt xám đen, máu rỉ ra khóe miệng. Điền trang chủ vội quát thủ hạ lập thành vòng đai dầy đặc quanh chỗ Nhương Thư ngồi, đề phòng bất trắc. Trong lúc này, chỉ một mũi ám khí nhỏ bé cũng đủ sức lấy mạng họ Tần. May thay, hai khắc sau, Tần Nhương Thư đã thoát hiểm, mở mắt lẩm bẩm :

- Vô Hình Chi Độc quả là lợi hại!

Quần hùng càng thêm thán phục khi thấy chàng trục được chất độc lừng danh kia. Uyển Xuân cười khanh khách :

- Tần đại ca mau vào trong thay y phục, mùi hôi của đại ca thật là khó ngửi!

Chương 2: Điếm trung kết đệ huynh - Lâu thượng phùng Cưu tặc

Suốt tháng tám Nhương Thư ở lại Điền gia trang bầu bạn với các tiểu thư và nỗ lực xúc tiến việc truy tầm tung tích của lão già mặt sẹo Trác Thiên Lộc. Bọn môn khách trong trang cũng vì chàng mà lùng sục khắp thành Tế Nam hỏi han hào kiệt tứ xứ về họ Trác. Họ làm như thế phần vì ngưỡng mộ Nhương Thư, phần vì giải thưởng ngàn lượng vàng cho bất kỳ ai cung cấp tin tức về kẻ thù của chàng.

Điền Đông Giám ngầm xem Nhương Thư là rể nên đã treo giải thưởng ấy. Hơi vàng sẽ khiến mọi người ra sức tìm tòi.

Ông vô cùng cao hứng vì chọn được rể đông sàng nhân phẩm xuất chúng võ nghệ phi thường, và còn nuôi ý định gả cả Ngọc Trâm cho họ Tần. Khổ thay, Ngọc Trâm lại mang mặc cảm, tránh không gặp Nhương Thư, dù lòng ngày càng say đắm! Khi được cha hỏi ý kiến, nàng cay đắng đáp :

- Chắc hài nhi và Nhương Thư chẳng có duyên nợ. Thứ nhất là y quá số tuổi mà Bố Y Thần Toán đã bói. Thứ hai, ngay lúc sơ ngộ, hài nhi đã lỡ lời khiến y giận dữ.

Nhưng mọi việc chưa ngã ngũ thì đầu tháng chín Nhương Thư lặng lẽ bỏ đi để lại phong thư :

“Điền trang chủ nhã giám!

Năm xưa, vãn sinh vô tinh ăn lầm loài Nấm Quỷ, tuy nội lực bản thân tăng tiến vượt bậc nhưng vãn sinh sẽ không thọ quá ba năm nữa. Do vậy, kẻ hèn này đành phụ lòng yêu thương của Trang chủ và các tiểu thư. Ngàn vạn lần cúi xin chư vị lương thứ cho.

Nhương Thư bái bút!”

Ba mỹ nhân khóc vùi như cha chết, còn Ngọc Trâm lén gạt lệ trở lại khuê phòng!

Vài ngày sau, Hổ Hồng Nhan đến tìm Thiết Kình Ngư Tào Ưng, nghiêm nghị nói :

- Tiểu muội muốn nhờ đại ca hộ tống đi tìm Tần công tử!

Tào Ưng trợn tròn đôi mắt, gãi đầu đáp :

- Thế mà tại hạ tưởng cô nương chán ghét gã họ Tần? Không ngờ chính đại tiểu thư mới là người nặng tình nhất.

Ngọc Trâm hổ thẹn nhăn mặt :

- Tào đại ca có đi không thì bảo?

Tào Ưng cười khà khà :

- Đi chứ! Ăn chực mãi cũng có ngày phải trả nợ!

Thế là mờ sáng mùng sáu, hai người âm thầm rời trang. Đến trưa, Điền Uyển Xuân sang thăm chị cả, phát hiện tờ hoa tiên trên gối, liền chu tréo lên.

Ba nàng hậm hực trách móc Ngọc Trâm chơi trò phỗng tay trên, nằng nặc đòi đi cả! Điền trang chủ liền trấn an :

- Các con hãy cố chờ thêm một thời gian nữa! Ta đã thỉnh giáo Sơn Đông đại thần y, biết rằng Nhân sâm ngàn năm có thể cứu mạng Nhương Thư. Đơn đặt hàng đã được gửi đi Liêu Đông và Cao Ly, chỉ vài tháng là có tin! Nay ba đứa ngươi đều thân thiết với Nhương Thư, chỉ mình Trâm nhi là còn xa cách. Nếu nó tìm được Tần công tử, kề cận gây tình cảm, sau này cùng chung thuyền chẳng vui hơn sao? Vả lại chẳng lẽ các ngươi lại nhẫn tâm bỏ lão phu cô quạnh một mình?

Ba nàng con gái đang yêu nghe hữu lý nên đồng ý ở lại. Tuy nhiên, Uyển Xuân đã giao hẹn :

- Sau ba tháng nữa, nếu không có Thiên Niên Tuyết Sâm thì bọn hài nhi sẽ đi tìm chàng đấy!

Điền lão phì cười mắng yêu :

- Đúng là nữ nhi ngoại tộc, vì trai mà quên cả cha già.

Môn khách quá nhiều nên không ai để ý rằng cùng mất tích một lượt với Nhương Thư là một lão già gầy gò, trầm lặng, tên gọi Quách Tàn Bôi. Họ Quách tuổi độ năm mươi bốn, gương mặt thanh tú, trán cao, mắt sáng nhưng sắc diện u ám, sầu héo như mang trong lòng nỗi khổ vời vợi. Lão đến nương náu Điền gia trang từ buổi đầu xuân, ăn ít uống nhiều, ai chọc ghẹo cũng chỉ cười trừ.

Cuối canh tư sáng mùng hai tháng chín, khi Nhương Thư bỏ lại con ngựa gầy, vác hành lý vượt tường, thì đụng độ Quách Tàn Bôi. Lão cũng mang theo tay nải bằng vải cũ mèm, cứ như là đã được Nhương Thư rủ theo vậy. Họ Quách mỉm cười :

- Lão phu sợ công tử đi một mình buồn chân nên tháp tùng cho vui!

Nhương Thư lấy làm lạ nhưng vẫn hiền hòa đáp :

- Cảm tạ Quách lão! Đúng là độc hành thì buồn thực!

Hai người giở khinh công chạy một mạch, đến bình minh thì đã rời xa cửa Tây thành Tế Nam được vài chục dặm.

Thấy bên đường có phạn điếm mở sớm, Nhương Thư nói :

- Mời Quách lão vào quán dùng điểm tâm!

Ăn xong, Nhương Thư nghiêm nghị hỏi :

- Tôn giá chủ tâm đi theo tại hạ chắc là có điều muốn chỉ giáo?

Quách Tàn Bôi uống cạn chung rượu, gật đầu xác nhận và hỏi lại :

- Phải chăng công tử là truyền nhân của Phật Đăng Thượng Nhân chùa Phật Quang?

Nhương Thư giật mình hoang mang, không ngờ lão già vô danh này nhận ra tuyệt học Ngũ Đài sơn! Sư phụ của chàng ít khi xuất thủ chốn đông người, chỉ âm thầm tìm đến chỗ kẻ đại ác ma giáo huấn, cho nên mấy ai được mục kích pho Phật Đăng kiếm pháp, trừ những nạn nhân.

Chàng cau mày đáp :

- Vì sao tôn giá biết?

Sắc diện Quách Tàn Bôi tươi tắn lên, cười khà khà đáp :

- Mười ba năm trước, khi lệnh sư trên đường đi Tứ Xuyên thì gặp lão phu thọ trọng thương nằm ở bìa rừng. Thượng nhân liền cho uống linh đan và truyền công cứu mạng già này! Hôm đó công tử cũng có mặt, sao lại vội quên?

Nhương Thư đã nhớ ra, mừng rỡ nói :

- Đúng rồi! Sau này gia sư kể rằng tôn giá tung hoành đất Thục với biệt danh Dạ Quân Tử! Ký ức tôn giá quả là đáng khâm phục, nhận ra cả một đứa bé sau mười mấy năm xa cách.

Quách Tàn Bôi cười mát :

- Nào có khó gì! Công tử có đôi tai Phật, trong vành tai lại điểm nốt ruồi son!

Nhương Thư ngượng ngùng hỏi lại :

- Tai nào vậy?

Họ Quách cười ngất :

- Không lẽ công tử chẳng hề để ý đến dung nhan của mình?

Nhương Thư cười trừ :

- Quả đúng thế! Tại hạ rất ít khi soi gương.

Quách Tàn Bôi hỏi thăm về lễ mai táng và nhập tháp của Phật Đăng Thượng Nhân rồi tư lự nói :

- Lão phu tuy là người của Hắc đạo nhưng vẫn còn giữ được chút lương tâm, lòng không hổ thẹn với đất trời. Mong công tử cho phép lão phu đem chút sức già theo hầu hạ!

Nhương Thư không đáp mà lại hỏi :

- Vì sao tôn giá lại rời đất Thục, lưu lạc đến tận đây?

Quách Tàn Bôi biến sắc, thở dài thườn thượt :

- Ba năm trước, lão phu đột nhập một trang viện trong thành Quảng Nguyên, cạnh bờ sông Giang Lăng, không ngờ đấy lại là tư gia của vợ bé Bang chủ Hồng Kỳ bang Vương Thiên Bảo. Khi lão phu vào đến hậu viện thì thấy họ Vương đã bị đâm chết, nằm trên giường. Sợ vạ lây, lão phu chuồn ngay, nhưng lại bị bọn tuần tra phát hiện, tuy đào thoát được nhưng tình ngay lý gian nên bị Hồng Kỳ bang truy nã ráo riết, phải bỏ xứ mà đi!

Nhương Thư nhíu mày :

- Thế tôn giá có nghi ngờ ai là thủ phạm hay không?

Quách Tàn Bôi quắc mắt đáp :

- Không phải chỉ nghi ngờ mà còn biết chắc ả tiểu thiếp kia là hung thủ. Lão phu thấy rõ ả lén lút rời khỏi hiện trường. Sau này, lão phu đã điều tra ra thị trước đây từng khét tiếng ở Hồ Nam với cái tên Tống Phong mỹ nhân Chúc Miên Thu!

Nhương Thư là kẻ đọc sách tất phải biết hai chữ Tống Phong kia ám chỉ tính dâm loạn, lẳng lơ. Nó xuất phát từ hai câu thơ :

Chỉ nghinh nam bắc điểu

Diệp tống võng lai phong!

Dịch :

Cành đón chim nam bắc

Lá tiên gió lại qua!

Chỉ có bọn kỹ nữ mới thường đón đưa như thế!

Chàng đã rõ hoàn cảnh của Quách Tàn Bôi, hiểu rằng lão đã quá chán ngán cảnh lẩn trốn, sợ sệt, muốn theo chàng ngang dọc. Bản lãnh của chàng sẽ bảo vệ được lão ta trước Hồng Kỳ bang!

Bởi thế, Nhương Thư vui vẻ nói :

- Tôn giá muốn đồng hành với tại hạ thì phải khuất tất nhận Thư tôi làm em đấy!

Quách lão hoan hỉ đáp ứng :

- Có được gã tiểu đệ anh hùng cái thế như công tử thì Quách mỗ chết ngay cũng vẫn vui! Vả lại, lệnh sư tuổi tác còn cao hơn gia sư, chúng ta xưng hô huynh đệ là chí phải!

Lão hồ hởi nâng chén mời đứa em kết nghĩa :

- Lễ nghi chỉ là hình thức, chúng ta chỉ cần một chung rượu để đất trời chứng giám cho tình nghĩa gắn bó không rời, sống chết có nhau!

Lão đổ một chút xuống đất, Nhương Thư cũng làm theo. Hai người uống cạn, nhìn nhau cười, ánh mắt ấm áp ân tình!

Dạ Quân Tử hỏi về ẩn tình trong cuộc chiến với sứ giả Tứ Phạn Thiên cung, được Nhương Thư kể rõ. Nghe xong, lão nghiêm giọng :

- Tần hiền đệ! Võ nghệ lão phu tuy không bằng ngươi nhưng kinh nghiệm và thủ đoạn thì có thừa. Mong hiền đệ hãy chú ý đến những thiển kiến của già này!

Nhương Thư vội đáp :

- Tiểu đệ mới xuất đạo, còn rất non nớt, xin đại ca tận tình dạy bảo cho!

Quách lão gật gù :

- Ta biết ngươi là bậc kỳ nam quân tử, lòng dạ rộng rãi, khiêm tốn, tất không tự ái vặt! Nay hiền đệ đã trở thành mục tiêu số một của Tứ Phạn Thiên cung, sẽ không tránh khỏi những đòn ám toán. Tốt nhất ngươi hãy nhẫn nhục cải trang mới mong thảnh thơi mà truy tầm kẻ gia cừu!

Nhương Thư cười mát :

- Tiểu đệ là đệ tử Phật môn, chẳng xem danh lợi ra gì! Nhưng tiểu đệ nào biết nghề dịch dung!

Quách lão đắc ý đáp :- Ngươi quên lão phu là ai rồi sao? Dạ Quân Tử nổi danh trong làng đạo chích cũng là nhờ tài biến hóa đấy!

Hai người rời phạn điếm vào cánh rừng già gần đấy mà hóa trang. Thì ra trong tay nải của họ Quách có đủ đồ nghề, từ thuốc vẽ cho đến râu tóc giả!

Xuất phát từ việc Tứ Phạn Thiên cung không hề ngờ rằng Nhương Thư lại sớm cải dạng nên dung mạo chàng chỉ cần sửa đổi chút đỉnh là đủ. Quách lão gắn cho chàng đôi lông mày xếch, rậm rì và hàng râu mép xanh đen. Sau đó, lão dùng keo dán kéo hai vành tai ép sát xương đầu, đúng như kiểu tướng đẹp “kiến diện bất kiến nhĩ”.

Bản thân Quách Tàn Bôi cũng cạo sạch chòm râu đẹp của lão, điểm xuyết thành một hán tử tứ tuần. Nhương Thư soi gương, lòng rộn lên những cảm xúc vui vui, lạ lẫm! Hai người đi thêm vài dặm, vào đại trấn dưới chân núi Vương Ốc để mua ngựa.

Vương Ốc sơn ở phía Tây Tế Nam, là nơi phát nguyên của dòng sông Tế Thủy.

Do thành Tế Nam nằm trên bờ Nam sông Tế nên mới có tên là Tế Nam. Tế Thủy chỉ là dòng sông nhỏ, dài vài trăm dặm, nhưng lại là một trong bốn con sông đổ thẳng ra biển, gồm : Hoàng Hà, Trường Giang, Hoài Hà và Tế Thủy. Người Trung Hoa gọi chúng là Tứ Độc. Sông Tế chạy song song với Hoàng Hà, xuyên qua tỉnh Sơn Đông mà đến biển chứ không mượn đường của ai cả!

Thời xưa, lừa ngựa là phương tiện đi lại duy nhất nên địa phương nào cũng có chỗ bán. Đến nơi, nhìn bầy tuấn mã lực lưỡng, đẹp mã, Nhương Thư ngại ngùng nói nhỏ :

- Quách đại ca! Tiểu đệ chỉ còn hơn trăm lượng lộ phí, e rằng không đủ để mua ngựa tốt!

Quách Tàn Bôi phì cười :

- Ngươi tưởng ta mặc áo vài thô, ăn chực nhà họ Điền mà trong túi không có vàng sao? Nghề của lão phu ở đâu cũng dùng được cả! Hay ngươi tự xem mình là bậc quân tử nên không dám xài của phi nghĩa?

Nhương Thư lúng túng lắc đầu, lòng tự nhủ :

- “Lão này có cái miệng quả là sắc bén! Ta đành phó thác mọi sự cho lão thôi!”

Ngựa quí có giá trị rất lớn, nên cũng là một trong những mục tiêu của đạo chích.

Dạ Quân Tử đã nhiều lần ăn trộm ngựa, tất phải tinh thông phép xem tướng ngựa, nếu không sẽ bể nồi cơm!

Người Trung Hoa cổ thuần dưỡng thú rừng làm gia súc rất sớm. Có thể nói rằng những chủng loại gia súc, gia cầm chủ yếu sau này đều có từ đời Tam Đại! Điều lý thú là vài ngàn năm trước, các cụ đã xem chó như vật tế lễ và là loại ăn thịt chính, cùng với trâu, lợn dê. Trâu thì cho Vương Hợi, ông tổ thứ bảy của vua Thang Thương thuần dưỡng được. Còn việc ngựa trở thành vật kéo xe là nhờ công lao của ngài Tương Thổ, tổ thứ mười một nhà Thương.

Đã nuôi thi có kinh nghiệm về giống tốt xấu, nên bá Nhạc nước Tần nổi tiếng sành tướng ngựa, và Ninh Thích nước Vệ giỏi xem tướng trâu mà thành danh!

Quách Tàn Bôi không phải là học trò của Bá Nhạc, nhưng đã thuộc làu những chương nói về ngựa trong bộ sách “xem tướng lục súc” gồm ba mươi tám quyển nên sở học cũng kha khá!

Đến gần trưa Quách lão mới chọn được vài con ngựa tốt nhất, mỗi con xấp xỉ ba trăm lượng bạc. Lão không hề kỳ kèo, vì đó là tính cách chung của những tay trộm cướp. Chẳng phải đồng tiền mồ hôi nước mắt thì hà tiện làm quái gì?

Sau ngựa nghẽo là đến y phục, kẻ nghèo mạt mà đột nhiên mặc áo gấm thượng hạng thì càng khác lạ! Kiếm thì khỏi phải mua vì Tứ tiểu thư Điền Uyển Xuân đã tặng Nhương Thư thanh kiếm tốt của nàng. Trong bộ vó mới toanh, hai người đủng đỉnh lên lầu của tòa Tế Nguyên đại tửu lâu dùng bữa trưa.

Nhương Thư nhìn qua khung cửa ngắm cảnh thu trên núi Vương Ốc. Mùa thu tuy tiêu điều ảm đạm, nhưng lại có nét đẹp riêng. Giờ đây, màu xanh của Tùng Bách được điểm xuyết thêm màu lá đỏ, vàng của những mảnh rừng phong, trở nên diễm lệ. Nhương Thư lan man nhớ về Ngũ Đài sơn, nơi chàng gắn bó mười bảy năm ròng. Phong cảnh chốn ấy đẹp hơn núi Vương Ốc rất nhiều!

Ăn xong, hai người nhâm nhi chén trà thơm trò chuyện. Quách Tàn Bôi cười hỏi :

- Vì sao hiền đệ lại chạy trốn khỏi vòng tay của ba vị tiểu thư sắc nước hương trời kia vậy?

Nhương Thư ngập ngừng đáp :

- Thuở còn thơ ấu tiểu đệ lạc vào rừng sâu, ăn phải loài Quỷ Nấm, thọ mạng không quá ba mươi, đâu thể kết hôn được!

Quách Tàn Bôi kinh hãi, nhăn tít cặp chân mày rậm, ngón tay nhịp trên mặt bàn như cân nhắc một điều gì. Lão tư lự bảo :

- Theo lão phu được biết thì Quỷ Nấm là con dao hai lưỡi, giúp cho con người thụ hưởng có thêm mười hai năm chân khí, nhưng khiến kinh mạch sớm khô cứng lại. Tuy nhiên, trong bản thảo cương mục của Trung Hoa Thần Y Lý cùng thời Trân có chỉ ra rằng một số dược vật quí như linh chi, sâm già, hà thủ ô... có thể giải trừ hậu quả ấy. Lão phu biết một nơi cất giữ nhánh Thiên niên hà thủ ô, sẽ đến đấy lấy tặng ngươi!

Nhương Thư cảm động trước mối quan tâm của đối phương, tuy không nói ra song ánh mắt tràn ngập vẻ biết ơn!

Quách Tàn Bôi hài lòng nói sang chuyện khác. Lão hỏi :

- Thế hiền đệ định đi đâu để tìm Trác Thiên Lộc?

Nhương Thư cười buồn :

- Trời đất mênh mông, biết lão ở chốn nào? Tiểu đệ chỉ có cách lang thang khắp nơi mà dò hỏi thôi!

Quách lão thận trọng nói :

- Lão phu mạo muội muốn biết tội lỗi của lão ta?

Sắc mặt Nhương Thư lập tức tái xanh, ánh mắt ngập tràn thống khổ và oán hận.

Chàng run giọng đáp :

- Đương nhiên, lão cẩu tặc ấy đã dâm sát gia mẫu là một ni cô ở chân Ngũ Đài sơn rồi bỏ chùa trốn mất tăm. Gia sư sợ tiểu đệ không địch lại lão nên bắt phải luyện xong Phật Đăng kiếm pháp mới cho hạ sơn!

Quách Tàn Bôi thở dài :

- Lão khốn khiếp ấy là đại đệ tử của Thượng nhân, công lực lại thâm hậu hơn, làm sao tiểu đệ giết được lão ta?

Nhương Thư cười lạnh :

- Tiểu đệ chỉ kém phần tu vi, vì họ Trác không học được ba chiêu tuyệt kiếm cuối cùng! Dù lão ấy giỏi nghề che giấu dã tâm, nhưng không qua được Phật nhãn của gia sư!

Dạ Quân Tử yên tâm gật gù :

- Hay lắm! Thế thì lão phu sẽ giúp ngươi tìm ra kẻ thù!

Nhương Thư mừng rỡ, nhưng chưa kịp hỏi lão dùng cách nào thì đứa bé gái độ bốn năm tuổi, của cặp vợ chồng ngồi bàn gần đấy, chạy đến vung kiếm gỗ đâm vào người chàng, rồi bật cười ròn rã. Cha nó là một hán tử áo gấm xanh tuổi tam thập, dung mạo thô lậu xấu xí, liền quát gọi :

- Liên nhi!

Mẹ của Liên nhi vội rời bàn bước đến nghiêng mình tạ lỗi :

- Liên nhi tính tình hiếu động nghịch ngợm, lỡ mạo phạm đến công tử, xin người lượng thứ cho!

Nhương Thư mỉm cười :

- Trẻ thơ vô tội! Tại hạ cũng từng là một đứa trẻ bất trị, sao lại giận Liên nhi? Đại tẩu chớ bận tâm!

Nữ nhân kia bồng con về bàn mắng mỏ và dặn dò. Chỉ lát sau cô bé lại tuột ra khỏi lòng mẹ, chạy tung tăng khắp nơi, nhưng vũ khí đã bị tịch thu. Liên nhi lại mon men đến gần bàn của Nhương Thư, nhìn chàng bằng ánh mắt thích thú.
Nhương Thư đang định hỏi han đứa bé thì tiếng dây cung bật lên tanh tách, và mười mấy mũi trường tiễn bay qua các khung cửa lớn nhỏ của tửu lâu, chạm vào vật cản liền nổ lóc bóc, tỏa khói trắng mù mịt.

Quách Tàn Bôi lão luyện giang hồ, nhận ra ngay nguy hiểm, liền quát :

- Khói độc! Mau thoát ra!

Lão vơ lấy hai tay nải, lướt ra lan can nhảy xuống đất. Nhương Thư thì chụp ngay Liên nhi, mang cô bé thoát khỏi vòng nguy hiểm. Song thân Liên nhi chậm hơn một bước, vì người mẹ không biết võ công nên cha nó phải bồng nàng mà chạy. Ba người vừa chạm đất đã phải đối phó với một toán cao thủ đông độ năm sáu chục, y phục không đồng nhất.

Lúc đầu Nhương Thư tưởng họ là người của Tứ Phạn Thiên cung, và chỉ hiểu ra khi cha của Liên nhi phẫn nộ hét lên :

- Cưu bang! Các ngươi quả là đốn mạt!

Cưu bang là một bang hội nhỏ ở núi Cưu Sơn, ngọn núi này nằm ngày giữa ranh giới giữa ba tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông nên chẳng biết nó thuộc quyền cai trị của ai? Tỉnh này đùn đẩy cho tỉnh kia thành ra vùng Cưu Sơn chẳng hề có quan quân Cưu nghĩa là chim tu hú! Có lẽ Cưu Sơn đầy loài chim xảo quyệt này nên mới mang tên ấy!

Hai năm trước, Cưu bang được thành lập, quy tụ toàn những tay vong mạng, những kẻ đại ác bị triều đình truy nã.

Người võ lâm chỉ biết Cưu bang sống bằng nghề trộm cướp nhưng không có chứng cớ. Dường như chúng hành nghề ở xa sào huyệt để bảo toàn cho vỏ bọc của mình!

Nhương Thư hạ sơn đã gần năm từng nghe đến tà bang này song chưa từng chạm trán. Giờ đây, thủ đoạn hèn hạ, độc ác của họ đã khiến chàng chán ghét, dù không hề quen biết cha mẹ của Liên nhi.

Vả lại, chàng không thể cho đứa bé vô tội kia chết được!

Phe Cưu bang lên tiếng :

- Tất Cung Bảo, nếu ngươi muốn bản thân và thê nhi được toàn mạng thì hãy mau thực hiện yêu cầu của bổn bang!

Vậy là cha của Liên nhi họ Tất, gương mặt rắn rỏi kia đanh lại, và Cung Bảo kiên quyết đáp :

- Đừng hòng! Ta thà chết cả nhà chứ không muốn nối giáo cho giặc!

Lão già áo trắng râu dài, đội nón rộng vành kia giận dữ quát :

- Bắt sống gã cho ta!

Thủ hạ Cưu bang lập tức ùa vào, thế lực cực kỳ hung hãn!

Lúc này, phe Nhương Thư đã có thêm hai trợ thủ. Họ là người của Tất Cung Bảo, nãy giờ ở tầng dưới để nhậu cho thoải mái, khi có biến mới chạy ra, mặt đỏ gay!

Nhương Thư trao Liên nhi cho họ Tất rồi vung kiếm mở đường máu.

Do dược tính của Quỷ Nấm nên một kẻ hiền lành, quen chay tịnh, kinh kệ như chàng có những cơn thịnh nộ cực kỳ đáng sợ Nếu không luyện Nhiên Đăng tâm pháp từ năm chín tuổi thì chàng đã biến thành tên đồ tể, giết người không gớm máu!

Phật Đăng Thượng Nhân từng nói :

- Con chính là sát tinh của bọn tà ma, làm rạng rõ chính khí võ lâm. Nhưng nếu con gây quá nhiều sát nghiệp thì phải tự gánh lấy quả báo!

Nhương Thư quì xuống hứa rằng sẽ không lạm sát, song chàng đã chẳng giữ được lời! Khi nổi giận, tâm trí chàng hừng hực ngọn lửa sát nhân.

Xui xẻo cho bọn Cưu bang, chúng đã vô tình trở thành vật tế cờ, khai trương cho sự nghiệp giết chóc của Nhương Thư! Ngay đường kiếm đầu tiên chàng đã đâm thủng ngực ba gã, chặt tay gã thứ tư.

Những vòi máu và tiếng rên la càng kích thích lòng hiếu sát của Nhương Thư. Ánh mắt chàng rực lên những tia oán độc, hung ác, môi điểm nụ cười thản nhiên thọc kiếm vào bọn Cưu bang bằng những thức kiếm ảo diệu và nhanh như ánh chớp!

Không một tên nào đủ sức đỡ gạt hay tránh né. Nhương Thư tiêu diệt tất cả những ai dám cản đường, xác người đổ xuống tới tấp và tiếng kêu rên bi thiết vang dậy.

Chưa đầy nửa khắc chàng đã hạ sát hai mươi mấy kẻ địch, đưa đoàn người ra đến cổng tửu lâu.

Lão già Bạch y, đội nón rộng vành cố nến kinh hoàng trước tài nghệ và lối giết người mau lẹ của đối phương, cung đao đón đường. Lão là đầu lĩnh của toán quân Cưu bang tất võ nghệ chẳng tầm thường, đường đao mãnh liệt như sóng dữ, chặn đứng Nhương Thư lại.

Điều này chỉ làm cơn giận dữ trong lòng đại sát tinh họ Tần bốc cao thêm.

Nhương Thư nghiến răng xuất một loạt chiêu thần tốc, kiếm ảnh hóa thành trăm lưỡi lửa xanh chập chờn, len lỏi qua màn đao quang, liếm vào ngực đối phương.

Nạn nhân rú lên thảm khốc, ngã ngửa ra chết tốt, tâm thất đầy những lỗ thủng.

Như rắn mất đầu, bọn Cưu bang còn lòng dạ đâu mà đánh đấm, tháo chạy như bầy vịt, biến mất trong những ngõ hẻm gần đấy!

Mục tiêu không còn, lòng Nhương Thư dịu lại, ngơ ngẩn nhìn những thi thể đẫm máu trên sân gạch của tửu lâu, bàng hoàng, sợ hãi! Chàng rùng mình lẩm bẩm :

- Chẳng lẽ ta đã biến thành một ác ma khát máu rồi sao? Ta còn mặt mũi nào mà niệm Phật nữa đây?

Quách Tàn Bôi nghe thấy thế, lên tiếng an ủi :

- Hiền đệ chớ tự kết tội mình! Cưu bang tập trung toàn những tên độc ác ngập đầu, có chết cũng là đáng lắm! Để chúng sống chỉ khổ cho bách tình!

Nhương Thư chua xót đáp :

- Gia sư cũng diệt ác nhưng chưa từng phải giết ai cả! Tiểu đệ đã phụ lòng giáo huấn của người rồi!

Tất Cung Bảo bước đến, cắt ngang câu chuyện, quỳ xuống lạy :

- Tất mỗ suốt đời ghi lòng tạc dạ đại ân cứu mạng của đại hiệp! Xin người cho biết phương danh để nhà họ Tất phụng thờ!

Vợ con của Cung Bảo cũng quỳ theo, khiến Nhương Thư ngượng ngùng xua tay :

- Xin đại huynh và đại tẩu chớ làm thế mà tiểu đệ thêm hổ thẹn!

Liên nhi ngây thơ nói :

- Đại thúc không cho biết tên thì Liên nhi chẳng đứng lên đâu. Úi chà, đau đầu gối quá!

Nhương Thư phì cười trước gương mặt nhăn nhó rất dễ thương của cô bé, nói với Cung Bảo :

- Tiểu đệ là Tần Nhương Thư, mong đại huynh bình thân giùm cho!

Vợ chồng Cung Bảo dập đầu lạy ba lạy rồi mới đứng lên. Họ Tất nghiêm giọng :

- Mời Tần ân công về tệ trang ở Tế Châu để Tất mỗ tỏ chút lòng thành!

Quách Tàn Bôi nhắc nhở :

- Chúng ta nên đi chỗ khác bàn chuyện, bách tính sắp vây chặt nơi này rồi!

Tất Cung Bảo vội vẫy chưởng quầy tính tiền ăn uống. Cả bọn lấy xe, ngựa rời khỏi trấn. Phương tiện di chuyển của gia đình họ Tất là một cỗ xe song mã rất đẹp.

Nhương Thư sợ họ lại gặp nạn nên quyết định hộ tống về đến nhà. Năm ngày sau, đoàn người có mặt tại Tất gia trang trong thành Tế Châu.

Tế Châu nằm ở cực bắc Lương Sơn Bạc, mang tên này từ thời nhà Nguyên, sau đổi thành Tế Ninh. Tế Châu là một địa phương sầm uất, trù phú, chỉ kém Tế Nam một chút.

Nhương Thư và Quách Tàn Bôi chỉ ở lại nghỉ ngơi hai ngày là đi ngay, dù Cung Bảo hết lời lưu khách.

Trước lúc chia tay, Cung Bảo kính cẩn tặng cho Nhương Thư một hộp gỗ cũ kỹ, trong đựng quyển kinh Đại Bát Nhã cũng già nua chẳng kém. Gã vui vẻ nói :

- Tần thiếu hiệp xuất thân từ cửa Phật ắt sẽ vui lòng nhận bản kinh văn được in từ thời nhà Đường này! Chút lòng thành xin ân công đừng từ chối.

Tuy không xuất gia nhưng Nhương Thư làu thông kinh điển, ngưỡng mộ Phật pháp, nên rất hân hoan khi được tặng bản kinh văn do chính Huyền Trang đại sư (tức Tam Tạng) dịch và in ấn lần đầu.

Huyền Trang là nhà phiên dịch vĩ đại nhất của lịch sử Phật giáo Trung Hoa.

Tuy không hề được Tôn Ngộ Không, Sa Tăng, Bát Giới hộ tống như Tây Du Ký đã kể, ông đã lên đường đến Ấn Độ để cầu chân nghĩa, tìm hiểu nhiều chỗ nghi ngờ, khó hiểu. Trong mười bảy năm, ông đã đi năm vạn dặm, qua hơn một trăm mười nước, khắc phục những khó khăn mà người thường khó tưởng tượng nổi, cuối cùng đem về Trường An năm trăm hai mươi quyển kinh, sáu trăm ba mươi bảy bộ sách Phật chữ Phạn.

Sau đó, Huyền Trang đại sư miệt mài dịch thuật suốt hai mươi năm, xong được phần kinh Đại Thừa, tổng cộng bảy mươi lăm bộ, một ngàn ba trăm ba mươi lăm quyển!

Tóm lại, giá trị của món quà nhỏ bé này vô cùng to lớn đối với Nhương Thư!

Phương trượng chùa Thiếu Lâm sẽ mất ngủ khi biết chùa Phật Quang được báu vật ấy!

Do quyển kinh cổ mà Nhương Thư quay về Ngũ Đài sơn, trước là dâng kinh cho Phương trượng sư huynh Chân Không, sau dự lễ cầu siêu cho sư phụ!

Phật Đăng Thượng Nhân từ trần hôm rằm tháng chạp năm ngoái!

Hai anh em đi về hướng Tây bắc, vượt qua Hoàng Hà, đến thành An Dương chiều ngày mười sáu tháng mười. Họ không vào khách điếm mà ghé nhà bà con của Quách Tàn Bôi.

Chủ nhà là Quách Hưng, biểu đệ của Dạ Quân Tử, lão ta hân hoan nói :

- Trời cao có mắt nên biểu huynh đã ghé vào đây! Tiểu đệ vừa nhận thư ở quê, nhắn rằng có gặp biểu huynh thì gọi về gấp vì bá mẫu đang lâm bệnh nặng!

Quách Tàn Bôi tái mặt, rầu rĩ nói với Nhương Thư :

- Tần hiền đệ! Gia mẫu tuổi đã tám ba, nay người lâm bệnh thì rất nguy. Lão phu phải về Tứ Xuyên ngay mới được!

Lão vì chữ hiếu mà đi nên dù lo lắng Nhương Thư cũng không thể ngăn cản.

Quách lão hiểu lòng chàng, trấn an ngay :

- Hiền đệ yên tâm! Ta còn rất nhiều bằng hữu chí cốt ở cố quận, và với tài hóa trang, ta sẽ qua mắt được Hồng Kỳ bang!

Nhương Thư gật đầu :

- Đại ca cứ lên đường, sang xuân tiểu đệ sẽ đi Tứ Xuyên ngay!

Quách lão liền nói rõ nơi cư trú và cách thức liên lạc sau này! Lão không lưu lại thêm, tức tốc khởi hành.

Nhương Thư ở lại nhà Quách Hưng một đêm, sáng sớm cũng tạ từ để đi Sơn Tây.

Chương 3: Hồng Nhan thiên lý tầm phu tướng - Hạt Nhãn ly hương ngộ sát tinh

Thời gian còn rất dư dật, Nhương Thư đủng đỉnh tìm nơi ăn sáng. Chàng luôn chọn chỗ đông người với niềm hy vọng mơ hồ sẽ tìm thấy kẻ thù, là lão sư phá giới họ Trác, vốn có pháp danh là Chân Từ.

Có những địa phương không bao giờ đổi tên, An Dương là một trong số ấy, mặc cho vật đổi sao dời. Ba ngàn năm trước, An Dương là kinh đô nhà Thương, và giữ mãi cái tên gắn liền với lịch sử khai quốc của Trung Hoa (tính đến nhà Minh).

Trên con đường lót đá phẳng phiu, rộng bốn mươi bước chân, người ngựa qua lại tấp nập, gồm thương lái và du khách. Nhương Thư dừng cương trước tòa Duyệt Tân lâu ba tầng, nơi bán cả điểm tâm lẫn món nhậu!

Người xưa gọi rượu là thánh thủy nhưng chỉ có những kẻ liều mạng hoặc chán sống mới uống rượu vào sáng sớm.

Khách giang hồ không chán sống song ỷ vào sức khỏe mà nhậu tì tì, bất kể thời gian! Giờ đây, trên tầng hai của Duyệt Tân lâu có đến năm sáu bàn đang rộn rã tiếng cười, tiếng cụng chén côm cốp!

Có lẽ do Nhương Thư mang kiếm mặc võ phục, nên gã tiểu nhị đã tự động mang ra một bình rượu nhỏ, kèm theo mấy món ăn sáng. Gã tưởng chàng cũng giống đám bợm kia.

Thực ra, Nhương Thư kỵ rượu, phần do mười bảy năm trai giới, phần vì rượu sẽ kích động nộ hỏa dễ bùng phát. Chàng chỉ uống khi lòng thật vui, thật thanh thản và chỉ vài chung.

Ăn xong, Nhương Thư gọi bình trà “Ngọc Dịch Trường Xuân”, một trong những loại trà nổi tiếng nhất, xuất hiện từ thời Tống. Ngang hàng với Ngọc Dịch Trường Xuân còn có : Long Đoàn Trà, Long Phụng Trà, Thạch Nhũ Trà, Bạch Nhũ Trà, Vạn Xuân Ngân Diệp..

Trung Hoa là quê hương của trà.

Thuật trồng trà, chế biến trà, uống trà đều bắt nguồn từ Trung Hoa. Trong thư tịch và truyền thuyết cổ, có nhiều nơi nhắc đến trà. Thuần Nông Thuật Kinh viết: “Uống trà lâu khiến người khỏe, trí tuệ minh mẫn”. Còn Hoa Đà, danh y thời Đông Hán viết trong thực luận: “Trà đắng uống lâu càng thấy sáng suốt!”

Thời Viễn Cổ, các cụ thường coi trà như một thứ dược liệu, gọi là Đồ. Họ hái lá non của những cây trà hoang dại nấu lên, chẳng sao tẩm, chế biến gì cả, nên nước trà có vị đắng chát như thuốc, bèn gọi là “Khố Đồ”

Thời Tần Hán thì khá hơn, lá chè tươi hái về được chế biến thành trà bánh, khi uống bóp vụn bỏ vào bình, chế nước sôi, rồi thêm các gia vị như hành, gừng, quất. Đến tận thời Minh, người ta mới tìm ra cách sao chè xanh, giữ được màu sắc, hương vị của trà nguyên chất, không cần bỏ hành, gừng, quất vào nữa!

Do vậy, bình trà của Nhương Thư tuy mang cái tên đời Tống mà hương vị lại thuần khiết và ngon ngọt hơn nhiều!

Cũng như hầu hết các nhà sư, Nhương Thư cũng nghiện trà! Trà là thứ thức uống gắn liền với lịch sử Phật giáo Trung Hoa! Trà chống buồn ngủ khi Thiền định, giúp đầu óc tỉnh táo, minh mẫn, sáng suốt hơn.

Các chùa chiền đua nhau trồng trà, thúc đẩy sự phát triển của việc uống trà, có thời người ta còn nói rằng: Trà Phật là một (Trà Phật nhất vị)

Nhương Thư vừa thưởng thức trà ngon, vừa suy nghĩ về cuộc chém giết ở chân núi Vương Ốc. Vì sao, lúc ở Điền gia trang, chàng có thể bình thản trước những lời khiêu chiến của bọn môn khách, mà sau này lại nổi lôi đình trước Cưu bang?

Chàng mường tượng rằng việc này có liên quan đến một kỷ niệm mơ hồ thời thơ ấu. Ngày ấy, cha chàng, Trần Tử Chính, trên đường đưa đứa con trai năm tuổi về quê nội, đã bị một toán người bịt mặt vây đánh. Ông đã đưa Nhương Thư thoát đi, rồi chết trong một cánh rừng vắng, gần Nam Dương, vì những vết thương quá nặng, bỏ chàng bơ vơ ở chốn cách nhà ngàn dặm.

Phải chăng, chính vì thế mà chàng đã phát điên lên khi bị bọn Cưu bang vây đánh?

Nhương Thư thở dài, tự nhủ sẽ luôn miệng niệm Phật khi rơi vào hoàn cảnh tương tự! Chàng hơi yên tâm, lắng nghe câu chuyện của hào khách. Thì ra họ đang trên đường đến Lã gia trang ở phía Tây nam thành An Dương, cách chừng sáu bảy dặm!

Lã gia trang chính là nhà của cố Minh chủ võ lâm Lã Xuân Tốn, người đã bị Tứ Phạn Thiên cung giết hồi mười bốn năm trước. Hiện nay, bào đệ của Xuân Tốn là Lã Tập Hiền, năm mươi mốt tuổi, dường như đã luyện thành thần công tuyệt thế, nên quyết định đổi tên Lã gia trang thành Chính Khí trang. Ông ta hiệu triệu võ lâm để tiêu diệt tất cả những thế lực tàn ác mang lại thanh bình cho Trung Nguyên.

Hùng tâm vạn trượng kia đã được các phái Bạch đạo, cùng hiệp khác bốn phương, nhiệt liệt hoan nghênh, đến tham dự lễ khai đàn rất đông!

Tuy nhiên, sự tái xuất của Tứ Phạn Thiên cung ở Điền gia trang, đất Tế Nam, đã khiến tình hình đổi khác. Chính Khí trang sẽ phải đương đầu ngay với cường địch đáng sợ kia, trước vì việc công, sau vì thù riêng. Mọi người còn đồn đãi rằng không chừng Tứ Phạn Thiên cung sẽ chẳng để yên cho Lã Tập Hiền múa may trong ngày lễ khai trương.

Nhương Thư vô cùng mừng rỡ vì đây là cơ hội để chàng gặp gỡ nhiều người, hỏi thăm kẻ thù. Dù biết hành động của mình chỉ như “mò kim đáy biển” song chàng chẳng còn cách nào khác cả!

Chàng chỉ tận lực cho tròn đạo hiếu chứ không hy vọng tìm ra Trác Thiên Lộc trong lãnh thổ mênh mông và đông đến gần bảy trăm ức người.

Trung Hoa là nước có ngành thống kê nhân khẩu, ruộng đất tốt nhất thế giới, hoàn bị từ thời nhà Chu và được thực hiện liên tục trong mấy ngàn năm. Tài liệu để lại vô cùng phong phú, giúp hậu thế nắm được tình hình dân số từng thời kỳ. Ví dụ cuộc điều tra vào năn đầu Vịnh Lạc, đời nhà Minh, cho biết rằng thuở ấy nước Trung Hoa có độ hơn sáu mươi sáu triệu người! Nhưng hơn hai trăm sau, đến đầu triều nhà Thanh tổng nhân khẩu chỉ còn một nửa (ba chục triệu).

Vậy Nhương Thư sẽ làm cách nào để tìm cho ra họ Trác, khi chàng chỉ còn sống được vài năm nữa thôi?

Thù của mẹ đã thế, thù giết cha còn khó báo hơn, vì chàng không hề biết bọn người bịt mặt năm xưa là ai cả.

Đôi lúc, Nhương Thư lâm vào tâm trạng tuyệt vọng trước hai mối thâm thù không có lối thoát này. Có lẽ đấy cũng là một trong những lý do của những cuộc chém giết điên cuồng!

Thường dân đã sớm rời Duyệt Tân lâu để lo sinh kế, song khách giang hồ lại đông thêm, khiến khung cảnh càng náo nhiệt Nhương Thư muốn đi theo họ đến Chính Khí trang nên nán lại. Chẳng thể ngồi uống trà mãi, chàng đành gọi thêm món vịt quay để nhâm nhi với bình rượu đã mang ra từ lúc đầu!

Hai người khách mới lên khiến Nhương Thư giật mình kinh ngạc, họ chính là Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm và Thiết Kình Ngư Tào Ưng.

Ngọc Trâm đứng yên ở đầu cầu thang, quan sát khắp lượt tửu khách như muốn tìm ai đó. Còn Tào Ưng xăm xăm bước đến bàn trống gần Nhương Thư để xí chỗ.

Gã quay lại cằn nhằn Ngọc Trâm :

- Đại tiểu thư cứ ngồi cái đã! Nếu Tần công tử không ở đây tức là đã về Ngũ Đài sơn, lo gì không tìm được?

Nhương Thư kinh ngạc, chẳng ngờ Hổ Hồng Nhan lại lặn lội đi tìm mình! Chẳng lẽ nàng hổ cái kia cũng đã nặng tình với chàng!

Nhương Thư nghe ấm lòng, dạt dào niềm cảm kích. Thật ra chàng cũng không hề giận hờn gì Ngọc Trâm cả.

Phần do nàng tự mặc cảm nên ít gặp gỡ, phần bởi Nhương Thư nghĩ mình sắp chết nên chẳng mặn mà với ai làm gì!

Nay Ngọc Trâm dám bỏ nhà, bỏ cả tự ái, vượt đường ngàn dặm đuổi theo, đã biểu lộ một mối chân tình tha thiết, dù biết rõ đối tượng chẳng còn sống được bao lâu nữa.

Nhương Thư xúc động xong lại chua xót vì hiểu rằng mình không có cách nào để đền đáp mối ân tình ấy!

Ngọc Trâm uể oải bước lại, ngồi xuống ghế, tay chống cằm nhìn bâng quơ về dãy núi xa xa. Đôi mắt đen láy của nàng giờ đây buồn vời vợi, khiến dung nhan ảm đạm, hiền lành, khác hẳn lúc trước. Tào Ưng gọi liền một mâm cơm thịnh soạn và vò rượu lan sinh lâu năm, giá đắt như vàng. Gã đang hộ tống một trong những mỹ nhân giàu có nhất Trung Nguyên, nên có quyền tự chiêu đãi mình trọng hậu.

Họ Tào mời lơi một tiếng rồi động đũa, ăn uống như rồng cuốn, trong khi Hổ Hồng Nhan chỉ nhấm nháp chiếc bánh hấp nhân tôm.

Dường như nỗi buồn lại khiến Ngọc Trâm đẹp hơn, thu hút nhãn tuyến của Nhương Thư. Nàng quay sang bắt gặp ánh mắt say mê của chàng trai lạ mặt bàn bên, không phát tác như thường lệ mà chỉ quay đi.

Tào Ưng đã lửng dạ, cảm thấy ngượng, giả lả hỏi :

- Đại tiểu thư có nghĩ đến việc Nhương Thư từ chối hay không?

Ngọc Trâm lắc đầu :

- Tiểu muội sẽ bám chặt lấy chàng, dẫu bị xua đuổi cũng không đi, chẳng lẽ chàng không động lòng?

Tào Ưng nhún vai :

- Lòng dạ nữ nhân quả là khó hiểu! Tào mỗ xin chịu thua!

Gã lại tiếp tục ăn nhưng chậm rãi hơn, và Ngọc Trâm đã nghe được câu chuyện về Chính Khí trang, mà bọn hào khách đang nói oang oang, liền bàn :

- Tào đại ca! Hay là chúng ta thử đến Chính Khí trang xem sao? Nhương Thư chẳng bao giờ bỏ qua những chốn đông đảo như vậy?

Tào Ưng tán thành bằng cách gật đầu vì miệng đang chứa đầy thức ăn.

Tửu lâu lại có khách mới, gồm một lão nhân áo gấm lam nhạt, mặt đỏ như quan công, râu tóc bạc phơ, và một chàng trai tuổi quá hai mươi. Người có danh như cây có bóng, bọn hào khách xôn xao thì thầm :

- Hồng Diện Tôn Giả! Lão ta ở tận vùng Bát Đạt Lĩnh, sao lại đến đây làm gì?

Nhương Thư từng nghe sư phụ kể về bậc kỳ nhân này. Lão ta tên gọi Hoàng Huy Do, tuổi đã bảy mươi tám, xếp hàng thứ tư trong Vũ Nội tứ thần. Người đứng đầu chính là Phật Đăng Thượng Nhân, sư phụ Nhương Thư.

Hồng Diện Tôn Giả tính tình nóng như lửa, cổ quái chứ không tàn ác, theo ý riêng mà hành động, được xem là kẻ ở giữa chính tà!

Nhương Thư thích thú ngắm nhìn chàng trai võ phục trắng đứng cạnh Tôn giả. Gã anh tuấn đến nỗi hấp dẫn cả nam nhân chứ đừng nói đàn bà con gái. Trên gương mặt ngọc kia, mọi nét đều đẹp, và quyến rũ nhất là đôi mắt sáng long lanh, âm áp.

Gã nhìn thấy Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm, liền rảo bước đến, nở nụ cười tình tứ rồi vòng tay nói bằng giọng ngọt ngào như mật :

- Tại hạ là Vạn Lý Thần Điêu Bạch Thúy Sơn, một kẻ quê mùa vùng quan tái phía Bắc, lần này theo sư phụ vào Trung Nguyên để mở mang tầm mắt. Nay được diện kiến tiểu thư ở đây mới hiểu thế nào là nét đẹp của tiên nữ chốn Thiên cung!

Câu tán dương khéo léo với nghệ thuật bậc thầy này của chàng trai trẻ đẹp như Phan An, chắc chắn sẽ làm rụng rời trái tim của mọi nữ nhân trong thiên hạ.

Nhưng khổ thay, Hổ Hồng Nhan kiêu kỳ bậc nhất, tai quen nghe hàng vạn lời ca tụng, nên chẳng hề xao xuyến. Bản chất ngang ngạnh của nàng có dịp bộc lộ, liền lạnh lùng nói :

- Các hạ mới đi được hơn ngàn dặm, kiến văn kém cỏi nên không xứng là người bình phẩm nhan sắc bổn cô nương! Sau này các hạ gặp người đẹp hơn ta thì sẽ dùng ngôn từ gì để ca ngợi?

Bạch Thúy Sơn chưa bao giờ thất bại, nên đòn bất ngờ này đã khiến gã choáng váng, mặt tái đi vì hổ thẹn, ngượng ngùng biện bác :

- Tại hạ không tin là trong thiên hạ có người đẹp hơn cô nương!

Khi say người ta can đảm hơn lúc tỉnh, vì vậy, trong đám thực khách có vài người phá lên cười chế giễu Thúy Sơn.

Cây cao gió cả! Gã quá đẹp trai nên đã khiến bọn nam nhân đồng trang lứa ganh ghét. Thiết Kình Ngư Tào Ưng sợ Hồng Diện Tôn Giả phát tác liền đứng lên vòng tay nói :

- Mời lão tiền bối và công tử ngồi chung cho vui!

Bạch Thúy Sơn mừng rỡ vòng tay vái tạ rồi quay lại kéo sư phụ ngồi xuống.

Nãy giờ Hoàng Tôn Giả chỉ tủm tỉm cười mà chẳng nói năng gì! Cứ như là lão hài lòng khi thấy đồ đệ bị hố vậy! Tôn giả xua tay cười bảo :

- Lão phu chỉ sợ chưa ăn xong bữa đã bị con bé lợi hại kia đuổi đi! Sơn nhi có gan thì cứ ngồi, lão phu tìm chỗ khác vậy!

Lão xăm xăm bước đến bàn Nhương Thư và hỏi :

- Tiểu oa nhi có vui lòng đối ẩm với già này hay không?

Nhương Thư từng nghe ân sư nhận xét rất tốt về Hồng Diện Tôn Giả nên vội đứng lên, cung kính đáp :

- Kính thỉnh tiền bối an tọa! Vãn sinh ngồi một mình cũng buồn!

Bên kia, Bạch Thúy Sơn đang giả lả chuyện trò với Tào Ưng, thỉnh thoảng hỏi Ngọc Trâm một câu. Không nghe đối phương giới thiệu danh tính theo đúng lễ giang hồ, gã đành phải hỏi :

- Tại hạ mạo muội muốn biết phương danh của tiểu thư?

Ngọc Trâm cười nhạt :

- Chúng ta bèo nước gặp nhau, các hạ cần gì phải biết danh tánh của ta?

Bạch Thúy Sơn thẹn đỏ mặt nhưng không giận, tủm tỉm hỏi :

- Vì sao tiểu thư lại có ác cảm với tại hạ?

Ngọc Trâm nhìn thẳng vào mắt đối phương, chậm rãi đáp :

- Cổ nhân có câu trai tài gái sắc, nay các hạ xinh đẹp quá mức nên sẽ say đắm bản thân mình, chú trọng vẻ ngoài mà không nỗ lực củng cố tài năng bên trong. Thứ hai, những gã đẹp trai thường như bướm vờn hoa, đa mang khắp chốn mà không thể mang lại hạnh phúc cho riêng một nữ nhân nào!

Hồng Diện Tôn Giả vỗ đùi lớn tiếng khen ngợi :

- Thực là cao luận! Không ngờ trong đám quần thoa lại có người sáng suốt như thế?

Nhương Thư cũng phục sát đất và hiểu rõ bản chất của Ngọc Trâm hơn. Nàng kiêu kỳ, khó khăn cũng vì đám nam nhân chung quanh chỉ là những chú gà trống tốt mã, bất tài! Được một bậc kỳ nữ yêu thương, Nhương Thư thầm tự hào, hãnh diện. Vô tình, Nhương Thư nhìn Hổ Hồng Nhan bằng ánh mắt trìu mến, thân thương. Hồng Diện Tôn Giả nhận ra, cười hỏi :

- Phải chăng ngươi biết ả cọp cái ấy?

Nhương Thư hãnh diện gật đầu :

- Bẩm tiền bối! Nàng ta là Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm, trưởng nữ của võ lâm Mạnh Thường Quân đất Tế Nam.

Tôn giả nhíu đôi mày bạc, dài đến nỗi rủ xuống đôi mắt :

- Lão phu nghe đồn họ Điền có đến bốn nữ. Thế nhan sắc của ba ả còn lại sao?

Nhương Thư cười đáp :

- Họ cũng xinh đẹp chẳng kém chị cả, mỗi người một vẻ riêng, bản tính cũng vậy.

Hoàng lão cười tinh quái :

- Sao ngươi lại tỏ tường gia sự họ Điền như thế?

Nhương Thư bối rối đáp :

- Vãn sinh từng làm khách ở đấy hơn tháng!

Tôn giả quả là người lão luyện và minh mẫn, nhận ra ngay ẩn tình :

- Lạ thực! Vì sao họ không nhận ra ngươi? Và nếu có việc ấy thì ngươi cũng phải đến chào hỏi và ngồi chung bàn chứ?

Bao năm giữ giới trọng ngữ nên Nhương Thư không quen nói dối, chàng lúng túng nghĩ cách trả lời. Khi định nói rằng mình nghèo, không đủ tiền mời Ngọc Trâm, thì chợt nhớ tấm ngân phiếu mà Quách Tàn Bôi đã tặng, đành thôi!

Hồng Diện Tôn Giả biết ngay gã tiểu tử này thật thà, không giỏi giảo ngôn, liền giáng thêm một đòn, hạ giọng mỉa mai :

- Phải chăng ngươi đã cuỗm tài sản của Điền gia trang trốn đi nên không dám gặp họ?

Nhương Thư giật mình chối bai bải :

- Mô Phật! Làm gì có chuyện ấy?

Hồng Diện Tôn Giả quắc mắt, gằn giọng :

- Nếu ngươi không nói thực ra thì lão phu sẽ la lên đấy!

Nhương Thư nhăn nhó, ngập ngừng thú nhận :

- Bẩm tiền bối! Vãn sinh không dám thọ lãnh tình cảm của các tiểu thư nhà họ Điền nên phải bỏ đi. Không ngờ Ngọc Trâm lại đuổi theo!

Hoàng lão kinh ngạc hỏi lại :

- Ngươi dùng chữ “các” phải chăng hàm ý rằng có ít nhất hai ả đã say mê ngươi?

Nhương Thư lỡ khai, chẳng giấu diếm làm gì. Chàng ngượng ngùng đáp :

- Dạ bẩm tiền bối! Cả bốn chị em họ!

Rồi chàng năn nỉ :

- Vãn sinh có hoàn cảnh rất đặc biệt, không thể kết hôn được. Kính mong tiền bối đừng để Ngọc Trâm biết tại hạ ở đây!

Hoàng lão cười khà khà :

- Té ra ngươi chính là gã Tần Nhương Thư đã đuổi chạy Tứ Phạn Thiên cung, cứu mạng lão họ Điền. Vậy là ngươi đang hóa trang chứ gì?

Cũng may là lão nói rất nhỏ, nếu không thì bàn bên đã nghe thấy.

Rượu thịt được dọn ra, Tôn giả róc rượu, bắt Nhương Thư phải uống với mình. Nhương Thư bị nắm gáy đành chiều ý lão già tinh quái kia. Cảnh rù rì tương đắc của hai người đã khiến Bạch Thúy Sơn ngạc nhiên. Gã hỏi vọng sang :

- Sao hôm nay ân sư lại hạ cố thân mật với hàng hậu bối như thế?

Tôn giả cười khanh khách :

- Hôm nay lão phu cao hứng phi thường vì đã gặp chàng trai tuyệt diệu này! Y chính là rồng phượng chốn nhân gian, đứng đầu lớp trẻ trong võ lâm đương đại!

Lời khen ngợi này của một bậc kỳ nhân khó tính đã khiến mọi người kinh ngạc, chú mục nhìn về phía Nhương Thư.

Thúy Sơn chạm tự ái, hừ nhẹ :

- Chẳng lẽ y còn hơn cả đồ nhi?

Tôn giả gật đầu :

- Đúng vậy! Y xứng đáng để ngươi theo hầu đấy!

Thúy Sơn hậm hực nói :

- Đồ nhi không tin!

Tôn giả không thèm cãi, quay lại nghiêm nghị nói với Nhương Thư :

- Từ việc ngươi dọa khiếp được Tứ Phạn Thiên cung, và tiếng “mô Phật” lúc nãy, lão phu có thể đoán được ngươi chính là đồ đệ của Phật Đăng Thượng Nhân. Có đúng thế không?

Nhương Thư vô cùng khâm phục, bên lên gật đầu. Hoàng lão đắc y vuốt râu nói tiếp :

- Hai mươi hai năm trước, lệnh sư đã đến núi Thái Sơn chơi vài ngày, đem chánh pháp ra giác ngộ lão phu. Nhờ vậy mà bản tính của Hồng Diện Tôn Giả đã khác xưa rất nhiều. Lão phu vẫn coi lệnh sư là huynh trưởng, vì vậy, ngươi phải gọi ta là sư thúc.

Nhương Thư lại gật đầu, Tôn giả lại đổi giọng bùi ngùi :

- Này Tần sư điệt! Lão phu năm nay đã gần bát thập, những vết thương thời trai tráng đã phát tác trở lại, chắc sẽ sớm theo lệnh sư về chốn niết bàn. Nay lão phu xin phó thác đứa học trò khờ dại là Bạch Thúy Sơn cho ngươi, rồi trở về núi tu hành. Mong hiền diệt vì mối giao tình giữa lão phu và lệnh sư mà chiếu cố cho Thúy Sơn. Ngươi hãy hứa bảo bọc Sơn nhi cho đến lúc y thành gia thất! Chút nguyện vọng này, mong hiền diệt thành toàn cho.

Nhương Thư thầm nghĩ :

- “Gã họ Bạch kia anh tuấn phi phàm, chắc sẽ sớm tìm được vợ. Ta lo cho gã một, hai năm cũng chẳng sao! ” Nhưng nghĩ đến tử nạn của mình, Nhương Thư rụt rè đáp :

- Tiểu diệt xin tuân lệnh sư thúc. Nhưng có điều thân mang tuyệt chứng chỉ sống được ba bốn năm nữa, e rằng không đồng hành với Bạch sư đệ được lâu dài!

Hoàng lão kinh hãi hỏi dồn, được Nhương Thư kể về Quỷ Nấm. Lão bấm tay tính toán, nhìn Nhương Thư mỉm cười :

- Tướng ngươi thọ đến trăm tuổi, đừng quá bận tâm vì Quỷ Nấm. Lão phu đoán chắc ngươi sẽ gặp thần y, hương dược, thoát khỏi sát kiếp!

Nghe giọng cả quyết của Tôn giả, Nhương Thư nhẹ cả người, cảm kích vòng tay nói :

- Lời của sư thúc đã phá tan mây mù trong lòng tiểu diệt! Thư này nhận lời bảo bọc Thúy Sơn!

Hồng Diện Tôn Giả khoan khoái nhắc lại :

- Hay lắm! Đã hứa thì phải giữ lời đấy! Lão phu sẽ vì ngươi mà sang Liêu Đông tìm thuốc.Nói xong, Tôn giả đứng dậy, gọi Thúy Sơn :

- Sơn nhi lại đây!

Chàng trai mặt ngọc vội bước đến, ngơ ngác khi nghe sư phụ nói :

- Sơn nhi! Sư phụ đã tìm được người dìu dắt ngươi cho đến lúc thành gia thất! Từ nay, ngươi phải đi theo gã tiểu tử này!

Vừa dứt lời, Tôn giả bay vút qua lan can lầu, lên lưng ngựa phi mau.

Thúy Sơn bỡ ngỡ gọi vang :

- Sư phụ! Sư phụ!

Gã chán nản ngồi phịch xuống ghế, nhìn Nhương Thư, xem thử hán tử râu mép rậm rì này có gì hay ho mà Tôn Giả lại chọn mặt gửi vàng. Nhương Thư hiền hòa nói :

- Ta là... Điền Tế, hai mươi sáu tuổi. Theo vai vế giữa hai vị sư phụ thì ta là sư huynh của đệ!

Thúy Sơn lạnh lùng hỏi :

- Thế lệnh sư là ai?

Nhương Thư thì thầm :

- Gia sư là Phật Đăng Thượng Nhân, mong Bạch sư đệ giữ kín giùm cho!

Đôi mắt tuyệt đẹp của Thúy Sơn sáng rực lên, gã đã hiểu vì sao sư phụ mình chọn gã họ Điền này. Suốt những năm học võ với Tôn giả, Thúy Sơn luôn được nghe lão ca tụng võ công và đức độ của Vũ Nội đệ nhất thần. Thúy Sơn nghi hoặc, vòng tay nói :

- Được Điền sư huynh hướng dẫn trong bước hành hiệp, tiểu đệ vô cùng vinh dự!

Trong lúc ấy, Ngọc Trâm đã âm thầm tính tiền cùng Tào Ưng rời khỏi tửu lầu.

Thúy Sơn nhìn thấy nhưng không tiễn, chỉ mỉm cười rồi tiếp tục trò chuyện cùng Nhương Thư.

Gã cười hăng hắc :

- Cái tên sư huynh kỳ cục quá! Điền Tế chẳng phải là rể nhà họ Điền sao?

Quả thực gã đoán đúng. Nhương Thư sợ gã la toáng lên, khi Ngọc Trâm còn ở đấy, nên nói đại như thế, dẫu sao hai chữ Điền Tế cũng đúng sự thực! Nếu thoát chết, chàng sẽ không phụ lòng bốn cô gái họ Điền!

Nhương Thư tư lự hỏi :

- Phải chăng Bạch hiền đệ đã say đắm vị cô nương lúc nãy?

Thúy Sơn cười khanh khách :

- Làm gì có! Tiểu đệ xem nữ nhân trong thiên hạ như tượng gỗ, gặp thì bỡn cợt cho vui đấy thôi!

Nhương Thư thở dài :

- Tính trăng hoa của hiền đệ sẽ khiến nhiều người phải khổ đấy! Sao không thận trọng tìm cho mình một đối tượng tốt mà gá nghĩa?

Nói hết câu chàng mới nhớ ra mình đã dan díu với cả bốn chị em họ Điền, tư cách đâu mà bảo Thúy Sơn? Bị chạm nọc, Thúy Sơn đanh mặt đáp :

- Việc riêng của ta, các hạ lấy quyền gì mà xen vào. Phải chăng vì tướng mạo tầm thường nên các hạ đố kỵ ta? Không cùng chí hướng, xin miễn đồng hành!

Gã đùng đùng nổi giận, rời khỏi tửu lâu. Nhương Thư chán nản, không ngờ Thúy Sơn lại ngang ngạnh, nóng nảy như vậy. Chàng thầm hổ thẹn vì thất hứa với Hồng Diện Tôn Giả, nhưng cũng đành bất lực. Nhương Thư tự nhủ :

- Gã còn thông tuệ hơn ta, lẽ nào không đủ tài chống chọi với đời. Hơn nữa, với danh tiếng của Hồng Diện Tôn Giả, làm gì có ai dám hại hắn?

Hơi yên tâm một chút, chàng gọi tiểu nhị tính tiền rồi rời khỏi tửu lâu.

Giữa giờ mùi, Nhương Thư có mặt trước cổng Chính Khí trang. Cơ ngơi của gióng họ Lã nằm trên đỉnh một ngọn đồi, được che mát bởi những cây bách già nua, cao vút và xúm xuê.

Bách là loài cây thân gỗ, cao đến gần mười trượng, thường xuyên xanh thắm, không trụi lá vào dịp thu động. Bách chứ nhựa và sầu thơm phong phú, chất gỗ cứng rắn, mịn phẳng, vân đẹp.

Họ Bách gồm nhiều loài như : Bách Mộc, Biển Bách, Bách Gai, Hồng hội, Bách Thơm....

Nhương Thư nhận ra rằng Chính Khí trang cũng trồng loài Bách Thơm như chùa Phật Quang của chàng.

Sườn đồi thoai thoải, nên kỵ sĩ có thể thúc ngựa đi lên. Cổng chính của trang mở về hướng Nam bằng đá núi, có dịch lâu lợp ngói lưu ly xanh. Bức tường kiên cố, cao đến hai trượng kia chắc là mới được xây, cùng với tấm bảng son mang ba chữ thiếp vàng chói lọi: Chính Khí trang. Mé tả đại môn có chiếc bàn gỗ hình chữ nhật. Đấy là nơi khách đến ghi danh, khai báo lai lịch. Nhương Thư xuống ngựa, bước đến nói với lão già áo đen ngồi sau bàn :

- Tại hạ Điền Tế, hai mươi sáu tuổi, quê đất Sơn Tây!

Hắc y lão nhân lạnh lùng hỏi :

- Danh hiệu trên giang hồ là gì?

- Quỷ Tâm Kiếm!

Lão nhân nhếch mép cười nhạo, vì chưa hề nghe danh hiệu này bao giờ!

Nhương Thư không cần gã xem trọng, chỉ tự an ủi rằng mình đã không phạm giới, chàng đúng là một trang kiếm có cái tâm của quỷ dữ!

Một tên gia đinh áo xanh chỉ cho chàng đường đến khu chuồng ngựa, Nhương Thư thả ngựa xong, đủng đỉnh tiến vào trong.

Lã gia trang chiếm một diện tích hàng chục mẫu, khu trung tâm là một đại lâu hai tầng, với sân gạch rộng mênh mông ở phía trước. Giờ đây, chậu kiểng trên sân đã được dọn dẹp, giành chỗ cho bày mấy trăm chiếc bàn đón tiếp quần hùng.

Sáng mốt mới là ngày khai đàn nên lượng khách chỉ độ gần ngàn, đa số là đệ tử các phái Bạch đạo, hoặc những người tự nhận mình là chính phái!

Nhìn thấy Bạch Thúy Sơn ngồi một mình, Nhương Thư mừng rõ bước đến, tươi cười :

- Bạch hiền đệ! Ngu huynh có lỡ lời thì mong hiền đệ tha lỗi!

Thúy Sơn làm mặt lạ, tỉnh bơ nói :

- Các hạ đừng thấy người sang bắt quàng làm họ! Ta và các hạ có liên quan gì mà xưng huynh gọi đệ?

Chắc họ Bạch đã tự giới thiệu mình là học trò chân truyền của Hồng Diện Tôn Giả, nên được nhiều người xu phụ.

Những kẻ ấy cười rộ lên, mỉa mai :

- Thôi biến đi. Tướng mạo như ngươi mà đòi làm huynh đệ với bậc quí nhân như Bạch công tử sao?

Nhương Thư thẹn chín người nhưng không nổi giận. Dường như chàng chỉ bị khích động trước những gì liên quan đến quá khứ mà thôi, còn dẫu có ai nhục mạ cũng chẳng khiến chàng động tâm.

Nhương Thư phân vân, không biết có nên níu kéo gã em trời ơi đất hỡi kia nữa hay thôi?

Thúy Sơn cười nhạt :

- Ta đã nói đến thế mà các hạ cũng chưa hiểu sao? Các hạ không xứng để ngồi chung bàn với Bạch mỗ!

Mọi người chú mục nhìn, tưởng rằng một kẻ mang gươm sẽ không bao giờ chịu nhục, tất phải có đánh nhau.

Nhưng một giọng thánh thót vang lên :

- Trên đời này, có những kẻ mà cả Khổng Phu Tử cũng chịu thua, không dạy nổi! Túc hạ chớ phí lời nữa, hãy đến đây để tiểu muội được hầu chuyện.

Người nói chính là Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm, kẻ được hâm mộ hơn hẳn học trò của Hồng Diện Tôn Giả. Ai chẳng nghĩ đến lúc mình du ngoạn Tế Nam, vào làm khách của Điền gia trang? Thế nên quần hùng sửng sốt khi thấy Ngọc Trâm xem trọng gã râu rậm vô danh kia!

Nhương Thư không thể tránh né, đành bước đến, ngượng ngùng ngồi xuống.

Chàng chưa kịp nói gì thì Ngọc Trâm đã kéo ghế sát vào, bùi ngùi nói :

- Chẳng lẽ Tần đại ca không muốn nhìn mặt tiểu muội hay sao?

Nhương Thư bàng hoàng, chẳng ngờ mình bị lộ quá dễ dàng! Chàng đáp :

- Ngu ca rất cảm kích mối chân tình của hiền muội, nhưng thân này sống chết chưa rõ, đâu dám..

Nhương Thư đỏ mặt trách :

- Té ra đại ca đã nghe lén cuộc nói chuyện của tiểu muội với Tào Ưng đó à?

Nhương Thư gật đầu, nhìn nàng âu yếm rồi hỏi lại :

- Vì sao Trâm muội nhận ra ta?

Hổ Hồng Nhan cười khúc khích :

- Thanh kiếm của Tứ muội thì ai còn lạ gì?

Nhương Thư nhớ ra, cười thầm sự bất cẩn của mình. Chàng tủm tỉm hỏi :

- Thúy Sơn anh tuấn như tiên đồng, sao Trâm muội lại lạnh nhạt với gã?

Hổ Hồng Nhan trợn mắt, cắm năm móng tay nhọn vào sườn Nhương Thư trách móc :

- Đại ca đã nghe hết mà còn trêu ghẹo tiểu muội nữa sao?

Nhương Thư co rúm người, than thở :

- Nàng thật xứng danh Hổ Hồng Nhan, ta đành bỏ chạy thôi!

Ngọc Trâm cười khanh khách, túm chặt áo chàng :

- Tiểu muội đã bắt được cừu non tất chẳng bao giờ chịu buông tha!

Thái độ thân mật này khiến mọi người sửng sốt, kể cả gã Tào Ưng vừa đi tiểu tiện vào đến. Gã ngồi xuống, nhìn chàng thật kỹ rồi vỗ trán bật thốt :

- Ta đúng là có mắt như mù!

Nhương Thư vội ra hiệu, bảo gã chớ tiết lộ rồi hạ giọng dặn dò, Tào Ưng vô cùng ngưỡng mộ Nhương Thư nên gật đầu lia lịa, miệng cười toe toét!Bạch Thúy Sơn nhìn thấy hết, cau mày suy nghĩ :

- “Phải chăng Điền Tế chẳng phải là kẻ tầm thường như dung mạo bên ngoài?”

Thúy Sơn được Hồng Diện Tôn Giả cho ăn mười viên Thiên Niên Tuyết Linh Chi nên giờ đây sở hữu đến ba mươi năm chân khí, tự coi mình là đệ nhất cao thủ trong hàng hậu bối. Chính vì vậy, gã không tin rằng đệ tử của Phật Đăng Thượng Nhân lại hơn được mình. Dù Điền Tế luyện võ từ năm bốn tuổi thì công lực cũng không bằng gã!

Thúy Sơn đã hiểu Điền Tế hóa trang nên lúc đầu Ngọc Trâm và Tào Ưng không nhận ra. Tuy nhiên, mặt thực của chàng chắc cũng tàm tạm vậy thôi!

Gã biết Ngọc Trâm không chuộng hình thức tất sẽ coi trọng võ công. Vậy thì phải chăng gã Điền Tế kia bản lãnh quán thế nên nàng mới xem thường đồ đệ của Hồng Diện Tôn Giả?

Thúy Sơn mãi trầm ngâm nên không để ý có người tiến đến từ mé tả.

Có ai đó lo sợ cho Thúy Sơn thét lên cảnh báo :

- Hạt Nhãn Thần Ma!

Thúy Sơn bừng tỉnh quay sang nhìn, nhận ra kẻ tử thù của Hồng Diện Tôn Giả.

Cả võ lâm đều biết việc Hoàng lão đánh trọng thương Thần ma hồi tám năm trước. Thúy Sơn rùng mình trước ánh mắt lạnh lẽo tà mị bắn ra từ đôi mắt hí, như hai sợi chỉ của lão áo trắng cao gầy kia.

Việc Thần ma có mặt nơi này là điều không ai ngờ! Chính Hoàng tôn giả đã dặn dò đồ đệ đừng bao giờ vác mặt đến miền Tây bắc!

Thúy Sơn kinh hãi rời chỗ, đặt tay vào chuôi kiếm phòng bị. Hạt Nhãn Thần Ma Mộc Đức mỉm cười ghê rợn :

- Lão quỷ già Hoàng Duy Do đâu mà để ngươi đến đây một mình?

Thúy Sơn run giọng :

- Gia sư.. cũng sắp.. đến rồi!

Mộc lão quỷ gật gù :

- Hay lắm! Để bần đạo bẻ gãy hai tay ngươi trước rồi chờ lão tặc đến cũng vừa.

- Lão dám loạn động ở chốn này sao?

Hạt Nhãn Thần Ma ngửa cổ cười dài :

- Chẳng ai bênh vực ngươi đâu. Bần đạo được mời đến đây để giữ chức quân sư Chính Khí trang đấy!

Câu này khiến toàn trường ngỡ ngàng, vì Thần ma chẳng được xem là người tốt, sao lại có thể thành quân sư của Chính Khí trang, tổ chức tượng trưng cho tinh thần nghĩa hiệp? Tuy không có chứng cớ cụ thể nhưng võ lâm vẫn có lời đồn Hạt Nhãn Thần Ma hàng tháng đều hút máu một đồng nam! Do lão hành động cẩn mật nên chưa bao giờ bị bắt quả tang hay để lại dấu vết.

Phật Đăng Thượng Nhân đã tìm đến Lan Châu cảnh cáo Thần ma, song lão chối bai bải, không hề nhận tội.

Hồng Diện Tôn Giả chẳng cần lý lẽ hay bằng cớ, tình cờ gặp là đánh ngay.

Mộc lão quỷ bị đấm một quyền hộc máu nhưng đã nhanh chân đào tẩu.

Giờ đây, Bạch Thúy Sơn phải gánh chịu mối hận thù ấy, tình mạng khó bảo toàn. Trong đám quần hùng đã có người lên tiếng mỉa mai họ Bạch :

- Sao Bạch công tử lại run như cầy sấy thế kia? Thật nhục nhả cho Hồng Diện Tôn Giả! Lúc nãy công tử oai phong lắm mà?

Thế là có mấy trăm người cười rộ, chế giễu Thúy Sơn. Nếu lúc nãy gã tỏ ra khiêm tốn, không ỷ thế sư phụ thì giờ đây đã được người ta thương xót! Đấy là bài học cho những kê hợm hĩnh, cao ngạo!

Thúy Sơn vô cùng hổ thẹn nhưng tứ chi rũ liệt, lòng chàng chẳng còn chút dũng khí nào trước ánh mắt tà quái của Thần ma.

Nước mắt gã trào ra như trẻ thơ bị đứa lớn bức hiếp vậy! Gã sực nhớ đến Điền Tế liền lấy can đảm, nói với Mộc lão quỷ :

- Ta mới học võ nên không địch lại lão. Hãy chờ ta mời sư huynh ra đối phó!

Cả Thần Ma lẫn quần hùng đều ngạc nhiên khi thấy Thúy Sơn chạy đến bàn Ngọc Trâm, nhăn nhó vái lạy Điền Tế :

- Sư huynh! Tiểu đệ không chống nổi cặp mắt quỷ của Thần ma, mất cả đởm lược, xin sư huynh vì thanh danh của gia sư mà xuất thủ cho!

Tào Ưng nóng mặt quát :

- Ngươi còn khiếp nhược hơn cả đàn bà nữa! Nhục ơi là nhục!

Nhưng Ngọc Trâm đã nói :

- Đúng là ánh mắt Thần ma rất đáng sợ Tiểu muội ngồi xa mà cũng rợn tóc gáy, tim đập thình thịch!

Lúc này Mộc lão quỷ đang hiếu kỳ nhìn về phía Ngọc Trâm nên nàng mới nhận ra tác dụng của Quỷ nhãn.

Nhương Thư thấy Thúy Sơn thực sự khiếp sợ, tay chân run lẩy bẩy, hiểu rằng chẳng phải gã bày trò đẩy mình chết thay.

Chàng trầm giọng bảo :

- Bạch hiền đệ yên tâm! Ngu huynh sẽ đỡ đòn giùm ngươi!

Ngọc Trâm lo lắng hỏi :

- Liệu đại ca có địch lại lão Quỷ ấy không?

Nhương Thư mỉm cười :

- Nếu thua ta sẽ bỏ chạy! Nàng hãy chuẩn bì nhé!

Chàng liền trao tay nải cho Ngọc Trâm, rút kiếm tiến về mộc đài, nhảy lên đứng chờ. Phong thái ung dung không chút sợ hãi của chàng khiến quần hùng thán phục, vỗ tay hoan hô vang dội. Họ vốn chẳng ưa gì lão già mắt hí, hút máu trẻ em kia.

Mộc Đức Nhuận cũng rút thanh bảo đao có kích thước hơi khác với đao thường, nó mỏng và nhỏ bản hơn.

Hạt Nhãn Thần Ma là đại hành gia trong nghề khoái đao, lại có bàn tay tả cứng như thép hỗ trợ, nên càng bội phần đáng sợ.

Mộc lão quỷ thấy đối phương chỉ độ hai mươi mấy, lòng rất khinh thường. Lão cướp tinh thần gã trẻ tuổi bằng cách biểu diện khinh công tuyệt thế. Thân hình họ Mộc bốc lên không trung, hai ống tay áo đạo sĩ rộng thùng thình phồng lên, xòe ra, giúp lão là đà bay chếch về phía mộc đài, tư thế đẹp tựa tiên nhân giáng phàm.

Thần ma chưa kịp thưởng thức tràng vỗ tay tán thưởng của quần hùng thì phát hiện đối thủ đã hóa thành kiếm quang đầy những lưỡi lửa lung linh bay vút đến.

Lúc này, hai bàn chân Mộc lão quỷ còn cách sàn mộc đài hai ba gang, nghĩa là lão không điểm tựa để di chuyển, chỉ còn cách tiếp tục hạ xuống và múa đao chống đỡ. Nhương Thư đã tính toán rất kỹ, chọn đúng thời điểm tối ưu mà dùng phép Ngự kiếm, đánh chiêu “Phật Hỏa Chiếu U Minh”! Chàng biết công lực mình thua xa đối phương, phải giành được thượng phong ngay chiêu đầu mới mong thắng được. Khi song phương chạm mặt nhau, đạo kiếm quang của hòa thượng đột nhiên sáng rực lên và kẻ địch của chàng nhận ra hàng trăm kiếm ảnh hư hư thực thực, uy hiếp toàn thân, chẳng chừa một chỗ nào.

Thần ma kinh hãi, cắn răng vũ lộng bảo đao, dệt lưới quanh thân, tả thủ dương trảo hộ vệ tâm thất.

Tuy lão có tu vi thâm hậu hơn, song vừa tiếp đất, tấn không vững nên sau mấy chục tiếng thép chát tai, lão bị đẩy lùi và đao quang lộ sơ hở.

Mũi kiếm của Nhương Thư như có mắt, len qua một khe hẹp ấy, không nhắm vào ngực mà lại đâm thủng vai trái của Thần ma. Chàng hiểu rằng bàn tay thép của lão bảo vệ tâm thất rất chu đáo, rất khó xâm nhập nên mới chọn bả vai.

Nhát kiếm này đã biểu lộ được thiên bẩm võ học của Nhương Thư, chàng luôn tùy thời mà biến hóa, không lệ thuộc vào chiêu thức gốc.

Hạt Nhãn Thần Ma đau đớn rú lên, nhảy lùi để tránh chiêu kế tiếp của đối thủ. Mộc đài dài độ ba trượng, chỗ Thần ma đứng chỉ cách mép đài non trượng nên lão lọt ngay xuống dưới, thoát khỏi sự truy kích.

Thần ma đứng sau chiếc bàn trống, điểm huyệt chỉ huyết, ngoác miệng chửi :

- Mả mẹ ngươi! Bần đạo sẽ phân thây đồ đánh lén!

Lão không biết mình đã chạm vào điều đại kỵ khi xúc phạm đến mẫu thân Nhương Thư.

Trước mắt chàng lập tức hiện ra cảnh một mỹ nhân trung niên, thân xác lõa lồ, cỗ họng bị cắt đứt, máu me vương vải cùng những mảnh tăng bào rách nát.

Cơn thịnh nộ xâm chiếm tâm hồn Nhương Thư, biến chàng thành ác quỷ, Nhương Thư gầm lên man rợ, từ trên đài bay xuống vị trí của Thần ma.

Lão vung cước đá chiếc bàn gỗ để chặn đường Nhương Thư rồi nương theo đấy mà tấn công bằng một chiêu cực hiểm.

Vơn giận đưa Nhương Thư vào trạng thái say máu, thèm khát giết chóc, nhưng lại không hề làm chàng mất cảnh giác hoặc sơ suất.

Bản lãnh chàng vẫn thế, khả năng biến hóa cũng vậy, chỉ có điều Nhương Thư điều khiển thanh kiếm bằng trái tim ác thú, lạnh lùng và tàn ác.

Nhương Thư mất đi nhân tính thì lại càng xảo quyệt hơn bình thường. Chàng chẳng dại dột va chạm với chiếc bàn gỗ quý, cứng rắn, mà dùng mũi kiếm điểm vào cạnh bàn, mượn sức bay chếch sang. Nhương Thư hạ thân xuống chiếc bàn khác, nhún chân tung mình đuổi theo Thần ma. Lão ta đã theo chiếc bàn kia nhảy trở lại mộc đài, đổi vị trí với Nhương Thư. Thần ma lùi sát mé Tây đài tranh thủ nuốt vài viên linh đan màu đỏ tươi, chờ đợi đối thủ.

Nhương Thư lên đến sàn đài, thấy lão ma lướt về phía mình bằng một bộ pháp quanh co, liền bỏ ý định thi triển Ngự kiếm, xông đến tấn công bằng kiếm thuật.

Dường như mấy viên thuốc kia đã làm tăng công lực Thần ma nên nhãn quang lão chói lọi hơn trước. Song lão chợt chột dạ khi nhận ra ánh mắt đối thủ còn đáng sợ hơn bội phần.

Nhương Thư nhếch mép cười độc ác, liên tiếp tung ra những chiêu kiếm ảo diệu tuyệt luân, lăm le lấy mạng Mộc Đức Nhuận. Hạt Nhãn Thần Ma đã nhận ra Phật Đăng kiếp pháp, rùng mình sợ hãi, nhưng thanh danh mấy chục năm không cho lão bỏ cuộc. Hơn nữa, lão tin vào đao pháp và nội lực thâm hậu của mình. Ba viên Huyết đan kia là tinh chất của máu và tủy xương đồng nam, có tác dụng trị thương và bồi bổ công lực rất thần hiệu.

Chính vì vậy mà lão không ngán Hồng Diện Tôn Giả.

Quả đúng như thế, đao của lão loang loáng dưới nắng chiều, không chỉ đẹp mắt mà còn mãnh liệt tựa sóng Hoàng Hà, lớp lớp xô nhau công phá màn kiếm quang của gã tiểu tử đáng ghét.

Nhương Thư chẳng hề nao núng, trường kiếm đảo lộn, tốc độ như sao băng, mỗi cái vung tay đã vẽ lên hàng trăm lưỡi lửa xanh, chống đỡ kiên cường và phản công quyết liệt.

Quần hùng nín thở, say mê theo dõi cuộc chiến hấp dẫn, thỉnh thoảng ồ lên khi một đấu thủ thoát chết trong gang tấc.

Dĩ nhiên lòng họ ủng hộ Nhương Thư vì chàng còn quá trẻ so với lão đạo sĩ ác độc kia.

Ngọc Trâm lo sợ cho tình quân, nước mắt chảy dài trên gò má mịn màng, miệng niệm Phật liên hồi.

Hai khắc sau, nàng rú lên thất thanh khi thấy Nhương Thư trúng một đao vào tay trái. Nhưng Tào Ưng lại hể hả nói :

- Lão cẩu tặc họ Mộc còn dính một kiếm nặng hơn. Thực là thống khoái.

Nhưng trận đấu ngày càng khốc liệt hon, song phương quấn quít lấy nhau, tan hợp trong chớp mắt và máu của họ hóa thành sương bay mịt mù đấu trường. Tốc độ đổi đòn nhanh đến nỗi người ngoài không thể biết ai trúng thương nhiều hơn ai.

Thực ra, Nhương Thư đã vướng đến sáu nhát đao, tuy không trí mạng nhưng máu tuôn như suối. Thần ma trúng tám kiếm song sức lực vẫn dồi dào hơn chàng.

Vì vậy Nhương Thư phải sớm kết thúc cuộc chiến, trước khi kiệt lực. Chàng nhẫn nại rình cơ hội vì chỉ có thể đắc thủ với yếu tố bất ngờ.

Chợt có tiếng quát vang như sấm :

- Dừng... tay!

Công phu “Sư Tử Hống” của Thiếu Lâm thật danh bất hư truyền, Hạt Nhãn Thần Ma bị chấn động. Nhưng Nhương Thư thì không! Chàng luyện thần công Phật môn Nhiên Đăng tâm pháp đến lớp thứ bảy, núi sập trước mặt cũng chẳng động tâm.

Do vậy, Nhương Thư lập tức nhận ra sơ hở của Thần ma, thọc kiếm đâm thủng sườn phải của lão.

Gan bị tổn thương nặng, Mộc lão quỷ đau dớn rú lên, rồi lặng im vì yết hầu đã bị nhát kiếm thứ hai tiện đứt.

Thần ma ngã vật xuống sàn đài, hai tay cào cấu lồng ngực vì máu tràn vào khí quản, bít kín hơi thở. Chỉ lát sau, lão chầu trời. Quần hùng vỗ tay nhảy nhót, reo mừng hoan hô Nhương Thư quá cỡ. Tào Ưng ngứa miệng hét lên :

- Hoan hô Tần công tử!

Thế là mọi người hô theo dù không chắc kẻ chiến thắng kia có ở họ Tần không? Ngọc Trâm và Thúy Sơn đã sớm nhảy lên mộc đài, vừa khóc vừa cởi áo Nhương Thư để xem xét vết thương.

Tiếng khóc bi thiết của họ đã làm Nhương Thư thoát khỏi tâm trạng quỷ ám! Chàng rùng mình ngơ ngác một lúc, rồi mỉm cười :

- Sơn đệ là đàn ông mà cũng khóc nhiều như thế ư?

Thúy Sơn giật mình, đưa tay áo lau lệ rồi cắm cúi làm tiếp. Lúc này, Chính Khí trang chủ Lã Tập Hiền và năm vị Chưởng môn các phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Hoa Sơn, Nga Mi, Cái bang đã lên đến trên đài.

Lã Tập Hiền thở dài trước tử trạng của Hạt Nhãn Thần Ma rồi cau mày trách Nhương Thư :

- Khánh Hỉ đại sư đã bảo dừng tay sao ngươi không nghe, lại cố tình giết chết Mộc tiền bối?

Ngọc Trâm nổi tam bành, dựng ngược đôi mày liễu cãi ngang :

- Kẻ đại ác như Hạt Nhãn Thần Ma có chết thì thiên hạ ăn mừng! Còn như lão muốn ngăn cản xung đột sao không xuất hiện từ sớm?

Dưới này, Thiết Kình Ngư xách động quần hùng :

- Thần ma chết là đáng tội! Điền tiểu thư nói rất phải!

Tất nhiên, quần hùng đều bênh vực mỹ nhân, đồng thanh tán thành. Bạch Thúy Sơn đã lấy lại phong thái hiên ngang, cười nhạt bảo :

- Vì sao Lã trang chủ lại mời một kẻ hút máu trẻ em về làm quân sư của Chính Khí trang? Tại hạ bắt đầu nghi ngờ đức độ và mục tiêu của Trang chủ rồi đấy!

Gã vận công mà nói nên ai cũng nghe thấy, xôn xao chê bai Lã Tập Hiền.

Họ Lã lạnh lùng đáp :

- Dĩ độc công độc là kế sách của bậc đại trí, bọn ấu trĩ như ngươi làm sao hiểu nổi?

Thúy Sơn móc bình kim sang trao cho Ngọc Trâm rồi ngửa cổ cười khanh khách :

- Khiếp nhược như lão mà dám xưng là đại trí thì thực nực cười! Tứ Phạn Thiên cung là cái quái gì mà phải khiến bậc quân tử quy lụy bọn tà ma? Lão đã từng nghe có người đuổi chạy sứ giả của Tứ Phạn Thiên cung ở Tế Nam hay chưa?

Lã Tập Hiền bị chửi, song cố nhẫn nhịn ra vẻ cao cả hỏi lại :

- Chẳng lẽ bậc anh hùng ấy chính là ngươi?

Nhương Thư vội cướp lời :

- Sơn đệ! Chúng ta đi thôi! Ngu huynh kiệt sức rồi!

Nói xong, chàng lảo đảo, Thúy Sơn hoảng hồn vội đỡ lấy, dìu đi.

Ngọc Trâm càu nhàu :

- Bộ ngươi không bồng nổi Tần đại ca hay sao?

Thúy Sơn đảo mắt lia lịa, cúi người ẵm Nhương Thư, nhảy xuống đất. Khánh Hỉ đại sư nhìn theo hỏi các Chưởng môn kia :

- Vị Tần thí chủ ấy là ai mà mới quá hai mươi đã đủ sức giết được họ Mộc nhỉ? Lão nạp nhận ra y không bị ảnh hưởng bởi công phu “Sư Tử Hống”, và còn lợi dụng cơ hội đó mà hạ thủ. Nếu y sa vào tà đạo thì sẽ thành đại họa của võ lâm.

Bang chủ Cái bang Vô Ưu Cái Hầu Mộ Thiên cười đáp :

- Y chính là người được giao sứ mạng sát ma, khai trương sự nghiệp bằng cách lấy mạng lão ác quỷ họ Mộc này! Ba năm nữa y sẽ quét sạch rác vẩn trong võ lâm, chẳng cần Chính Khí trang hay Chính Nghĩa hội cũng thành công!

Lã Tập Hiền tái mặt :

- Sao Hầu bang chủ lại dám đoan chắc như thế?

Chưởng môn Võ Đang Triều Châu chân nhân cũng hỏi :

- Vị Tần thí chủ kia xuất thân thế nào?

Vô Ưu Cái đắc ý cười vang :

- Lão mũi trâu quả là kém mắt nên không nhận ra Phật Đăng kiếm pháp, đáng bị phạt mười vò rượu!

Chân nhân hân hoan nói :

- Nếu Phật Đăng Thượng Nhân có truyền nhân xuất sắc như vậy là đại phúc cho võ lâm!

Lã Tập Hiền cười nhạt :

- Gã bị thương dưới tay Hạt Nhãn Thần Quân thì làm sao địch lại Thanh Linh Thủy Lão và Kim Mẫu?

Vô Ưu Cái phang ngay một câu :

- Vậy phải chăng Lã trang chủ tự tin mình thắng nổi?

Lã Tập Hiền cao ngạo đáp :

- Một chọi một thì tại hạ không sợ bất cứ ai!

Chương 4: An Dương Lã thị mưu chung đỉnh - Chính Khí khai trang huyết mãn môn

Sáng ngày mười tháng chín, lễ khai đàn của Chính Khí trang được cử hành.

Quần hùng đến tham dự đông đến gần ba ngàn, sẽ nuốt của nhà họ Lã hơn vạn bạc rượu thịt. Nhưng nhờ có mâm cỗ đầy mà không khí vui vẻ và náo nhiệt phi thường. Tuy nhiên, mới chỉ có trà, rượu và lạc rang được dọn ra.

Bọn Ngọc Trâm cũng có mặt. Nàng ríu rít nắm tay gã thư sinh mày thanh mắt sáng, dung mạo đoan chính, đôn hậu, hai vành tai lớn và dầy như tai Phật.

Quần hùng thầm chê Hổ Hồng Nhan đa tình, lãng mạn vì không thể ngờ rằng gã thư sinh áo xanh kia lại chính là kẻ bị thọ thương gần chết hai hôm trước.

Bạch Thúy Sơn đã tạ lỗi bằng cách đem hết linh đan diệu dược ra chữa trị cho Nhương Thư. Nhưng chủ yếu vì thương tích không sâu, trong máu chàng lại có dược chất của Quỷ Nấm, nên Nhương Thư bình phục mau chóng đến không tưởng.

Sáu vết thương đã liền miệng, được băng chặt bằng vải sạch, nhìn bề ngoài không ai có thể phát hiện!

Hổ Hồng Nhan đã thôi chán ghét Thúy Sơn vì gã khôn ngoan gọi Nhương Thư là đại ca, còn nàng là đại tẩu.

Nhương Thư không phản đối, chỉ cười bảo :

- Đúng là lưỡi ngươi không có xương, lúc đầu thì tán tỉnh, sau nhận là chị dâu!

Thúy Sơn cười khúc khích :

- Tiểu đệ không thể sánh với đại ca, đành chịu thua mà tìm mối khác vậy!

Thiết Kình Ngư Tào Ưng thì lại cảnh giác, nghĩ thầm :

- “Họ Bạch quá đẹp trai, không hiểu kề cận lâu ngày, có cô ả nào xiêu lòng phản bội Tần công tử hay không đây? Lòng dạ mỹ nhân như biển khôn dò, tốt nhất là đừng để họ có cơ hội sa ngã! Ta phải cảnh tỉnh Nhương Thư mới được!”

Từ lúc ấy, gã luôn để ý theo dõi thái độ của Thúy Sơn.

Nhắc lại, bốn người ung dung tiến đến dãy bàn mộc dài, vì bối phận Hồng Diện Tôn Giả rất cao, Bạch Thúy Sơn có quyền ngồi ngang hàng với các bọn trung niên. Đấy là chưa kể đến vai vế của Nhương Thư, vì các Chưởng môn đều phải gọi Phật Đăng Thượng Nhân là sư. Nhãn quan của Vô Ưu Cái quả là đáng sợ. Lão nhìn Nhương Thư một lúc đã nhận ra, nháy mắt với chàng. Nhương Thư nhớ lại Phật Đăng Thượng Nhân từng đưa chàng đến thăm lão ăn mày hay cười kia. Dù năm ấy chàng mới mười hai, song với ký ức phi thường của Vô Ưu Cái, lão dễ dàng đoán ra chàng!

Nhương Thư khẽ cúi đầu đáp lễ và vận công truyền âm :

- Tiểu đệ Tần Nhương Thư xin bái kiến Hầu lão ca!

Vô Ưu Cái đáp ngay :

- Hiền đệ có đủ sức thượng đài hay không? Lão phu e rằng Lã Tập Hiền đang mưu đồ cưỡng đoạt ngôi vị Minh chủ võ lâm đấy! Lão phu rất nghi ngờ nhân phẩm của họ Lã, không thể để y nắm cổ võ lâm được!

Nhương Thư từng nghe sư phụ tán dương cơ trí và nhiệt huyết vì chính nghĩa của Vô Ưu Cái, nên khẳng khái đáp :

- Nếu lão ca tìm được cách ấn định thắng bại trong chỉ một chiêu thì tiểu đệ tự tin có thể chém rách áo bất cứ ai!

Vô Ưu Cái mừng rỡ :

- Thế thì lão phu rất an tâm! Khi ta ho ra hiệu thì ngươi lên ngay nhé!

Nhương Thư kể cho bọn Ngọc Trâm nghe, bảo họ hộ vệ cho chàng vận khí, cố phục hồi thêm công lực để phá vỡ âm mưu của Lã Tập Hiền!

Ngọc Trâm phụng phịu :

- Đại ca đang thọ thương, hà tất phải quan tâm đến chuyện võ lâm làm gì?

Nàng quay sang bảo Thúy Sơn :

- Nay Bạch hiền đệ đứng ra gánh vác giùm đại ca chuyện này đi!

Thúy Sơn lúng túng đáp :

- Tiểu đệ chẳng dám từ chối nhưng chỉ sợ thua thôi! Sơn này chỉ có ba mươi năm công lực nhưng kiếm pháp không bằng một nửa đại ca!

Gã áy náy móc một lọ sành, đổ ra viên thuốc duy nhất có màu trắng như tuyết, thơm phưng phức, đưa cho Nhương Thư.

- Đại ca! Viên Thiên Niên Tuyết Linh Chi này sẽ giúp đại ca khôi phục ngay mười thành công lực!

Ngọc Trâm nguýt gã :

- Sao hôm trước ngươi chẳng chịu đem ra? Ngươi tiếc lắm phải không?

Thúy Sơn biện bạch :

- Thuốc quý khó tìm, chỉ dùng trong trường hợp nguy cấp! Mong đại tẩu chớ hiểu lầm tiểu đệ!

Ngọc Trâm hài lòng với lời giải thích, nhét thuốc vào miệng Nhương Thư.

Chàng nhai thật kỹ, chiêu một ngụm rượu rồi vận khí.

Không ai phát hiện ra vì mắt Nhương Thư vẫn mở trừng trừng, môi điểm nụ cười. Còn Ngọc Trâm và Thúy Sơn ngồi sát lại, kẹp hai bên, thò đầu chuyện trò, phe phẩy quạt xếp.

Tào Ưng thì ngồi nghiêng, giám sát hậu tâm Nhương Thư.

Giữa giờ thìn, cuộc lễ khai mạc. Người xuất hiện đầu tiên chính là lão già áo đen ghi danh sách trước cổng. Lão tự giới thiệu mình là Bành Đạo Nha, giữ chức Đại tổng quản Chính Khí trang.

Cái tên này gợi cho quần hùng nhớ đến một nhân vật có hành vi mờ ám ở vùng phía bắc Cam Châu, danh hiệu Hắc Lang.

Thương lái di buôn qua lối Ngọc Môn quan đã mang về Trung Thổ lời đồn rằng Hắc Lang dâm ác tuyệt luân, song lời đồn chẳng phải là chứng cớ nên không ai dám lên tiếng vạch mặt họ Bành.

Trước tiên, Bành tổng quản đọc danh sách những bang hội tham gia, những nhà quan thế trong võ lâm đã cử đại biểu đến đây. Tổng cộng có đến gần trăm phái lớn nhỏ, đủ tư cách đại diện cho võ lâm!

Nghe nói, Lã gia trang đã cho người lặn lội hàng ngàn dặm, mang thiếp và lễ vật hậu hĩnh đến tận nơi mời mọc, khiến các phái không thể không đi.

Sau đó, Bành Đạo Nha giới thiệu các nhân vật đầu não của Chính Khí trang, gồm năm chức danh : Trang chủ, Phó trang chủ, Quân sư, Đại tổng quản, Chưởng kỳ sứ.

Trang chủ dĩ nhiên là Lã Tập Hiền, Phó trang chủ là một nữ nhân tuổi ba mươi, tên gọi Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc, đồ đệ của Vũ Nội đệ tam thần Địch Thánh Dư Minh Thiền!

Ngọc Trâm hừ lên bực bội, nhìn nữ nhân có thân hình nảy lửa kia với cặp mắt đố kỵ. Không phải vì Đại Ngọc đẹp hơn nàng, mà bởi Bạch Ngọc chính là cái tên khác của loài hoa Ngọc Trâm!

Bạch Ngọc Tiên Tử không có ác tính, là học trò của bậc kỳ nhân, lại kiều diễm, quyến rũ nên được quần hùng ái mộ, vỗ tay hoan hô ầm ý!

Hạt Nhân Thần Ma đã chết nên chức vụ quân sư dành cho Ngọa Long Tú Sĩ Lô Đăng Hân ở núi Cổ Gia Công, ngoại thành Trường Sa đất Hồ Nam.

Họ Lỗ đang tuổi sáu mươi, nổi tiếng đa mưu túc trí, đầy bụng thao lược, nên tự xưng là Ngọa Long, ví mình với Khổng Minh.

Song lại có dư luận rằng Lỗ tú sĩ chuyên nghề thầy dùi cho các giới Hắc đạo phương Nam để chia chác số tài sản cướp được!

Giờ đây, nhìn gương mặt tròn, sáng như trăng rằm của họ Lỗ, quần hùng bỗng nghi ngờ sự chính xác của những lời đồn đãi kia!

Chánh tổng quản là Bành Đạo Nha đã nói qua, còn Chưởng kỳ sứ thì khá đặc biệt. Người này được giới thiệu bằng cái tên Hoàng Nghi Tuyệt, hai mươi tám tuổi, quê đất Liêu Đông, không có danh tiếng gì, nhưng lại là học trò của Đao Đế Liêu Vân Nhạc, người đứng thứ hai trong Vũ Nội tứ thần.

Nghi Tuyết không xấu xí song sắc diện âm trầm, lạnh giá như lớp băng trên đỉnh núi Trường Bạch, nhân thần thỉnh thoảng lại lóe lên những tia sáng kỳ dị, làm xốn xang lòng người đối diện.

Tóm lại, trong năm đại nhân vật ấy, chỉ có mình Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc là dễ thương nhất.

Ngay Lã Tập Hiền cũng không được ưa chuộng vì trong mấy ngày qua đã có tin đồn xấu về lão. Chẳng hiểu kẻ độc mồm độc miệng nào đã là người đầu tiên nói rằng: Lã Tập Hiền đã bày kế giết chết chị dâu và cháu trai, tức vợ con cố Minh chủ võ lâm Lã Xuân Tốn, để chiếm đoạt cơ nghiệp họ Lã.

Tuy không có bằng cớ xác thực nhưng ai cũng thầm công nhận điều này hữu lý!

Hoàng Kim Hắc Thế Nhân Tâm! Vàng nhuộm đen lòng dạ người đời! Tập Hiền nuôi mộng dương danh thiên hạ tất phải cần rất nhiều tiền. Theo phong tục Trung Hoa, Tập Hiền là thứ nam, chỉ được một phần rất nhỏ, số còn lại thuộc về cháu đích tôn!

Hết phần giới thiệu là đến nghi lễ tế cáo thiên địa, ra mắt võ lâm. Tiếng đàn, sáo, trống, kèn vang lên inh ỏi, và bọn Lã Tập Hiền sì sụp khấn vái.

Họ vừa cúng xong thì Nhương Thư xả công, mắt sáng long lanh, mặt hồng hào sung mãn. Chàng dịu giọng nói với Thúy Sơn :

- Cảm tạ Bạch hiền đệ.

Thúy Sơn ngượng ngùng đáp :

- Chúng ta là huynh dê, tình thân như thủ túc, sao đại ca lại nói thế?

Ngọc Trâm bĩu môi :

- Sao lúc đầu ngươi lại xua đuổi và hạ nhục Tần đại ca?

Thúy Sơn đỏ mặt vái dài :

- Trăm lạy đại tẩu! Xin đừng nhắc lại chuyện cũ nữa! Trước đây tiểu đệ ỷ mình võ nghệ cao cường nên xem thường Tần đại ca, sau mới biết mình chỉ là đom đóm cạnh ánh trăng rằm!

Bỗng gã tươi tỉnh lên, cười hề hề, ánh mắt đầy vẻ giễu cợt :

- Dường như đại tẩu cũng có hơn gì tiểu đệ? Sau này nghe Tào Ưng kể rằng đại tẩu đã từng lạnh nhạt với đại ca cơ mà?

Ngọc Trâm xấu hổ, lườm gã và chữa thẹn :

- Ta.. ta và đại ca ngươi.. chỉ có chút hiểu lầm mà thôi!

Cơm rượu được dọn ra, cắt ngang cuộc đối thoại. Hàng trăm tiểu nhị của bốn phạn điếm lớn nhất thành An Dương, tất bật bưng ra năm món ăn nóng hổi và thơm phức!

Lã trang chủ mời mọi người nâng chén, động đũa, rồi cùng bộ sậu xuống ngồi ở bàn riêng, cạnh bàn của các Chưởng môn!

Thịt béo, rượu nồng đã khiến quần hùng cởi mở tâm tình, hết lời khen ngợi lòng hiếu khách của chủ nhân. Gần giữa giờ Ngọ, mọi người đều đã ngà say, hào hứng vỗ tay khi Lã trang chủ theo thang gỗ bước lên đài. Lão hắng giọng, vòng tay nói :

- “Kính cáo chư vị Chưởng môn, chư vị võ lâm tiền bối, cùng đồng đạo! Lão phu tuy tài hèn sức mọn, nhưng lòng nhiệt tâm thì chẳng thiếu! Lão phu nguyện noi gương gia huynh, đứng ra gánh vác võ lâm, tiêu diệt tà ma nên mới bạo gan thành lập Chính Khí trang!

Nay Tứ Phạn Thiên cung đột nhiên tái xuất khiến cục diện giang hồ càng bội phần nguy ngập! Do vậy, lão phu mạo muội cúi xin võ lâm ngộ biến tùng quyết, cho phép kẻ hèn này được thừa kế trọng trách của gia huynh, đối phó với Thiên cung! Sau khi trừ được tai họa ấy, lão phu xin từ chức ngay để chư vị chọn tân Minh chủ”.

Có cả ngàn người ủng hộ Tập Hiền, hoan nghênh đến khản cổ! Song số còn lại thì im lặng như thóc, e sợ lòng dạ của họ Lã!

Tuy nhiên dù tán thành hay phản đối cũng vô ích vì quyết định cuối cùng cũng thuộc về hội đồng võ lâm, gồm năm vị Chưởng môn bạch đạo! Chính lịch sử đã trao cho họ cái đặc quyền ấy.

Nhưng hội đồng võ lâm chưa cho ý kiến thì trong quần hùng đã có người phát biểu. Đó chính là Bang chủ Hán bang ở vùng Tây bắc phủ Hồ Bắc.

Hán bang thu lợi trên đoạn giữa sông Hán Thủy, từ ranh giới Hồ Bắc, Thiểm Tây xuống Chương Phàn, dài sáu trăm dặm. Đương nhiên là gồm cả sanh ý của các địa phương dọc hai bờ sông. Có thể nói rằng thế lực Hán bang ở Hồ Bắc chỉ thua có mình phái Võ Đang trên Ngọc Nữ Phong.

Đến tận hôm nay quần hào mới rõ tướng mạo của Bang chủ Hán bang Liêu Văn Chiêu. Họ Liễu tuổi độ sáu mươi lăm, vóc người cao gầy, mặt xương xầu, tóc hoa râm, mũi thẳng, mắt sâu, miệng rộng... trông rất uy nghiêm.

Lão là khách mời của Chính Khí trang thế mà giờ đây lại ngạo nghễ hỏi :

- Bản lãnh Lã bang chủ cỡ nào mà đòi làm Minh chủ, thống lãnh võ lâm? Nếu sở học nhà họ Lã thực sự cao thâm, thì lệnh huynh đâu đến nỗi chết thảm?

Quần hùng ồ lên công nhận lão nói có lý! Liêu Văn Chiêu thừa cơ vòng tay nói tiếp :

- Kính cáo võ lâm! Theo thiển ý của lão phu thì chúng ta cứ xem hôm nay là đại hội võ lâm, dùng cách tỷ võ để chọn tân Minh chủ. Nếu chọn dịp khác chưa chắc đã đông đủ hào kiệt tứ xứ như bây giờ.

Họ Liễu đánh trúng vào lòng hiếu võ, hiếu sự của khách giang hồ nên được đa số tán đồng.

Lã Tập Hiền cũng thản nhiên chấp nhận, lão cao giọng :

- Ý kiến của Liễu bang chủ quả là tuyệt diệu! Chính Khí trang tình nguyện phục vụ cơm rượu trong suốt những ngày đại hội!

Họ Lã được hoan hô rất nhiệt tình vì chẳng ai chê những bữa nhậu miễn phí, trong lúc xem đấu võ.

Năm vị Chưởng môn đã sớm bàn bạc, thống nhất ý kiến. Vô Ưu Cái đại diện phát biểu quyết định của hội đồng võ lâm.

Lã Tập Hiền hạ đài, nhường cho Hầu bang chủ. Họ Hầu cười rất tươi, vui vẻ nói :

- Kính cáo đồng đạo! Ý kiến của Liễu bang chủ không phải là dở, nhưng nếu làm thế thì sai luật, và vị Minh chủ được bầu sẽ chẳng có thực quyền! Sau này những hào kiệt không có mặt ở đây sẽ có cớ không phục tùng Minh chủ, khiến võ lâm nổi loạn. Bởi thế, bọn lão phu quyết định rằng cứ tổ chức đại hội, người giỏi nhất sẽ trở thành đại diện của võ lâm, thách đấu với Thanh Linh Thủy Lão. Khi vị anh hùng đó giết xong Thủy Lão tất sẽ danh chính ngôn thuận mà lên ngôi Minh chủ mà chẳng ai dám phàn nàn!

Quần hào chẳng cần biết làm trước, làm sau, quí hồ có đánh nhau là được. Họ phấn khởi đồng ý, trong lúc Lã Tập Hiền đau như bị thiến, lòng rủa thầm lão ăn mày xảo quyệt.

Bốn vị hòa thượng, đạo sĩ kia thì hiền lành, dễ bị che mắt, chỉ mình Vô Ưu Cái là lợi hại. Hầu Mộ Thiên chính là linh hồn của hội đồng võ lâm. Lão được bốn người còn lại khâm phục và tin tưởng tuyệt đối!

Thế cờ đã bị lật ngược, Lã Tập Hiền vô cùng chán nản, cố gỡ gạc :

- Hội đồng võ lâm sai rồi! Dù có giết được Thanh Linh Thủy Lão thì vẫn còn Kim Mẫu! Người đàn bà ấy lợi hại hơn chồng mấy bậc!

Vô Ưu Cái cười khà :

- Trang chủ cứ yên tâm! Mười ba năm trước, Kim Mẫu đã bị Phật Đăng Thượng Nhân phế võ công rồi! Nhờ vậy mà võ lâm được thanh bình hơn chục năm, nay Thượng nhân nhập Niết Bàn nên Thủy Lão mới dám ló mặt!

Bí mật này lộ ra khiến mọi người chấn động, vô cùng biết ơn vị cao tăng núi Ngũ Đài sơn. Lã Tập Hiền chẳng còn cớ phản bác, ngồi xuống bàn bạc với quân sư là Ngọa Long Tú Sĩ.

Bang chủ Hán bang là Văn Chiêu đứng lên hỏi :

- Nhưng chúng ta không biết địa điểm của Tứ Phạn Thiên cung thì làm sao gửi thư thách đấu?

Vô Ưu Cái tủm tỉm đáp :

- Lão phu biết!

Mọi người tò mò, nhao nhao đốc thúc họ Hầu nói ra! Vô Ưu Cái nghiêm giọng :

- Tứ Phạn Thiên cung nằm trong ngọn Càn Sơn, cạnh bờ Bắc sông Hoàng Hà, ngay ranh của hai tỉnh Sơn Tây, Hà Nam.

Ai xuôi ngược Hoàng Hà cũng đều nhìn thấy đỉnh ngọn Càn Sơn mà không ngờ rằng nơi ấy là sào huyệt của tổ chức khủng bố số một võ lâm. Cử tọa chấn động, ồn ào như chợ vỡ.

Vô Ưu Cái xua tay, bảo quần hùng im lặng rồi nói cụ thể :

- Càn Sơn được bao bọc bằng cánh rừng rậm, trồng đầy loài Mông Hãn Hoa, loại hoa màu tím này có năm phiến lá nhỏ, mùi hoa không nồng thắm, nhưng nếu ai ngửi phải thì sẽ ngủ mê man, vài khắc sau mới tỉnh! Chính vì vậy mà mấy chục năm qua sào huyệt của Tứ Phạn Thiên cung vẫn bảo toàn. Trong võ lâm, chỉ có mình Phật Đăng Thượng Nhân, luyện đến lớp chót của Nhiên Đăng thần công nên mới không sợ Mông Hãn Hoa!

Vô Ưu Cái dừng lại lấy hơi rồi tiếp lời :

- Mười mấy năm nay, hội đồng võ lâm đã tốn bao nhiêu vàng bạc, mời danh y bào chế thước giải Mông Hãn Hoa, để phòng ngày Tứ Phạn Thiên cung tái xuất.Nhưng rất tiếc rằng mọi nỗ lực đều thất bại.

Thiết Kình Ngư phẫn nộ thét lên :

- Sao không chờ mùa nắng gắt, phóng hỏa đốt quách khu rừng quái quỷ ấy đi?

Cử tọa đồng thanh khen phải! Song Vô Ưu Cái lại lắc đầu :

- Không được! Các vị thần y Trung Nguyên đã khẳng định rằng Mông Hãn Hoa khi bị cháy sẽ biến thành chất tuyệt độc, theo gió bay xa hàng chục dặm, sát hại người và gia súc.

Một hảo hán khác thất vọng than :

- Thế thì chắc gì Thanh Linh Thủy Lão đã chịu nhận lời thách đấu?

Vô Ưu Cái mỉm cười :

- Lão ta phải nhận lời vì bọn lão phu đã tìm ra thời điểm Mông Hãn Hoa không có độc tố. Quan quân sẽ dùng đại pháo cày nát rừng, mở đường tiến vào. Song đấy chỉ là hạ sách nếu Thủy Lão từ chối phó ước!

Lão tinh quái nói :

- Vị nào là người của Tứ Phạn Thiên cung đang có mặt chốn này, xin hãy về báo lại rằng võ lâm mời Thanh Linh Thủy Lão đến chân núi Thiếu Thất, đúng giờ Thìn ngày rằm tháng hai sang năm. Nếu lão không đến thì đừng trách hội đồng võ lâm cầu viện đến triều đình!

Đương nhiên chẳng ai ứng tiếng nhận mình là cha ăn cướp. Mọi người nhìn nhau nghi hoặc, chẳng biết kẻ nào là gian Lã Tập Hiền đã đứng dậy tuyên bố :

- Lẽ đài quá nhỏ, không thích hợp với việc tỷ võ, cho nên, chiều nay chỉ tiến hành việc đăng ký danh sách thượng đài. Khoảng bốn ngày nữa lôi đài mới sẽ dựng xong, sáng hai mươi bốn sẽ khai mạc đại hội. Việc ăn ở của đồng dạo sẽ do bổn trang đài thọ.

Vô Ưu Cái cười nhạt :

- Đăng ký trước sẽ gây cảnh tàn sát, loại trừ nhau. Do vậy, sáng hai mươi bốn làm luôn thể!

Lã Tập Hiền biến sắc, gượng cười :

- Hầu bang chủ dạy chí phải!

Lão thượng đài cảm tạ cử tọa rồi tuyên bế bế mạc lễ khai đàn và mời mọc vào sau trang nghỉ ngơi.

Chẳng phải ai cũng nhận lời, phần lớn kéo về thành An Dương tìm chỗ trọ, tranh thủ tham thú thắng cảnh cố đô xưa nhất nước, hoặc hưởng lạc thanh lâu, tửu quán, đổ trường. Bọn Nhương Thư quay lại nhà họ hàng Ngọc Trâm nghỉ ngơi. Hổ Hồng Nhan đòi đi dạo và mua sắm, Nhương Thư liền sai Thúy Sơn đi giùm.

Lát sau, dù không được nhờ vả, Thiết Kình Ngư cũng ra phố, âm thầm theo dõi hai người ấy, trước là bảo vệ, sau dò xét.

Gã linh cảm rằng Nhương Thư quá tin người nên sẽ mất vợ!

Xế chiều, Vô Ưu Cái tìm đến, cùng Nhương Thư trò chuyện. Lão thở dài bảo :

- Cục diện võ lâm đã đến hồi nguy cấp lắm rồi! Lão phu sẽ cố gắng xoay xở nhưng nếu không có sự hỗ trợ của Tần hiền đệ thì không xong.

Nhương Thư cau mày :

- Theo thiển ý của tiểu đệ thì kế sách của Hầu lão ca rất tuyệt diệu, dù Lã Tập Hiền là kẻ ác cũng phải diệt xong Tứ Phạn Thiên cung rồi mới lên ngôi Minh chủ. Hơn nữa, Thủy Lão tuổi đã tám mươi, bản lãnh thông thần, tất sẽ giết được họ Lã.

Vô Ưu Cái rầu rĩ lắc đầu :

- Lão phu vừa nhận được tin của nội gián ở Tứ Phạn Thiên cung báo về rằng Thanh Linh Thủy Lão Âu Dương Phạn mới từ trần cách nay bốn ngày. Con trai lão tên gọi Âu Dương Lăng lên thay, tuổi mới bốn sáu, võ công thua xa Thủy Lão. Nay Lã Tập Hiền chiêu mộ được cả Hạt Nhãn Thần Ma, tất bản lãnh không thể kém Thần ma được. Như vậy, Lã Tập Hiền thừa sức giết tân Thủy Lão và chính thức trở thành Minh chủ.

Nhương Thư bâng khuâng hỏi :

- Thế lão ca muốn tiểu đệ phải làm gì?

Vô Ưu Cái vuốt chùm râu hoa râm, nhăn vầng trán cao rộng, cân nhắc một hồi rồi bảo :

- Ta biết hiền đệ mới thọ thương, bản lãnh sút đi vài bậc, chưa chắc đã địch lại Lã Tập Hiền. Nhưng trinh sát của lão phu đã nhìn thấy lá cờ của Huyết Tâm giáo trong thư phòng của họ Lã, cho nên bằng mọi cách phải ngăn chặn Lã Tập Hiền trở thành Minh chủ.

Nhương Thư rúng động hỏi :

- Nhưng hai mươi bốn năm trước, Huyết Tâm Đế Quân đã bị gia sư cùng các Chưởng môn vây đánh, dồn lão xuống vực thẳm cạnh núi Vu Sơn rồi mà? Sào huyệt của Huyết Tâm giáo cũng bị quần hùng thiêu rụi?

Vô Ưu Cái cười buồn :

- Tiếc rằng số giáo chúng đào thoát được khá nhiều, nếu có kẻ tìm được Huyết Tâm lệnh kỳ thì sẽ khống chế được họ, hoặc thế hệ kế tiếp! Lão phu đoán rằng Lã Tập Hiền có cả cờ lẫn bí kíp Huyết Tâm, từ lâu khổ luyện, nên mới dám mưu đồ bá chủ! Họ Lã từng tuyên bố rằng nếu đơn đấu thì chẳng sợ bất cứ ai!

Nhương Thư quá rõ bản chất man rợ, tàn ác của Huyết Tâm giáo, liền nghiêm giọng :

- Nếu thế thì tiểu đệ chỉ còn cách liều chết, chẳng giết được Lã Tập Hiền thì cũng làm lão trọng thương, không thể thắng được Âu Dương Lăng!

Vô Ưu Cái nhìn chàng trìu mến, khẽ than :

- Hiền đệ tuổi tác chưa đến ba mươi mà đã phải gánh cả võ lâm trên vai, thật đáng thương! Nhưng ngươi đã là đệ tử của Phật Đăng Thượng Nhân thì không thể thoái thác được!

Rồi lão cười khà khà trấn an :

- Hiền đệ cứ an tâm mà phù trì chánh đạo. Tướng của ngươi không thể chết non được! Lão phu xin lấy đầu mình ra đặt cược đấy!

Lão là người thứ hai nói như thế khiến lòng Nhương Thư rất phấn khởi. Chàng cười đáp :

- Nếu biết chắc không chết thì còn sợ gì nữa? Hầu lão ca cứ về báo lại với hội đồng võ lâm rằng Thư này sẽ tận lực quét sạch tà ma.

Vô Ưu Cái hài lòng, trao cho chàng một lọ sành và dặn dò :

- Trong này có bốn viên linh đan chí bảo của bốn phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Hoa Sơn. Hiền đệ hãy uống để thương thế mau lành, có sức mà thượng đài! Cứ uống cả bốn viên một lúc vì dược vị không xung khắc.

Vô Ưu Cái đi rồi thì Thiết Kình Ngư về đến, kế đó là Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm và Vạn Lý Thần Điêu Bạch Thúy Sơn.

Họ Bạch khệ nệ mang vác đủ thứ hàng hóa, từ tơ lụa, phấn son cho đến gương lược, giầy, nón. Gã nhăn như khỉ :

- Phận làm em quả là khốn khổ, cứ phải lẽo đẽo theo chị dâu từ cửa hàng này sang hiệu buôn khác, tay xách nách mang, trông chẳng ra thể thống gì cả!

Ngọc Trâm cười duyên an ủi :

- Thôi mà, hiền đệ! Ngươi trả ơn cho đại ca bằng cách theo hầu hạ ta là quá phải đạo rồi! Đâu phải ai cũng có vinh dự đi chung với Hổ Hồng Nhan?

Trong bữa cơm tối, Nhương Thư kể cho mọi người nghe câu chuyện của Vô Ưu Cái, Thúy Sơn lộ vẻ lo lắng :

- Đại ca! Tiểu đệ nghe gia sư kể rằng công phu Huyết Tâm giáo không có hình thức đặc biệt, chỉ người phải đối phó mới nhận biết sự lợi hại. Kiếm pháp nhanh như chớp, tạo ra những sóng âm quái dị, khiến đối phương bồi hồi khiếp sợ, không tập trung được chân khí. Đại ca phải thận trọng đấy.

Nhương Thư điềm đạm đáp :

- Ngu huynh cũng biết việc ấy, và đã có cách đối phó. Cảm tạ Sơn đệ đã quan tâm.

Đêm ấy, chàng uống thuốc, điều khí, ngủ một giấc rất sâu, sáng ra, bắt đầu khổ luyện. Nhương Thư không muốn Ngọc Trâm vì mình mà mất vui nên lại bảo Thúy Sơn đưa nàng đi chơi. Hổ Hồng Nhan chối đây đẩy, song cuối cùng cũng đi. Nàng là nữ nhân con nhà giàu nên không thể bỏ lỡ cơ hội mua sắm khi đến địa phương lạ.

Tào Ưng lẳng lặng bám theo, đúng giờ Ngọ trở về dùng cơm với Nhương Thư.

Gã bỗng hỏi :

- Công tử có được lệnh sư kể cho nghe việc cứu mạng Vương Ốc lão nhân hồi mười bảy năm trước hay không?

Nhương Thư lắc đầu :

- Gia sư chỉ dặn tại hạ sau này xuất đạo phải chú ý tương trợ phái Vương Ốc!

Tào Ưng cảm động nói :

- Không ngờ Thượng nhân lại luôn quan hoài đến tệ phái như vậy? Tại hạ chỉ có cách theo phò công tử mới đền đáp được ân nghĩa ấy mà thôi!

Nói là làm, gã quỳ một chân, bái liền ba bái. Nhương Thư rời ghế, bước đến nơi thì Tào Ưng đã lạy xong. Chàng bối rối nói :

- Sao túc hạ không xem ta như đứa em, bày chi ngôi chủ tớ?

Tào Ưng cười khì :- Đâu được! Gia sư còn gọi Thượng nhân là sư thúc mà! Tại hạ đâu dám phạm thượng?

Gã hân hoan róc rượu mời Nhương Thư :

- Người ngoài không cần biết, nhưng Tào mỗ đã thề suốt đời trung thành với công tử, dẫu chết chẳng thay lòng!

Việc đã lỡ, Nhương Thư đành chấp nhận, hiền hòa nói :

- Tần mỗ và Tào túc hạ sống chết có nhau, họa phúc cùng chung hưởng.

Hai người uống cạn, bàn chuyện thân mật. Bỗng Tào Ưng ấp úng :

- Tào mỗ có đôi lời thẳng thắn, cúi mong công tử xem xét.

Nhương Thư nhíu mày không hiểu, chỉ gật đầu. Tào Ưng chậm rãi nói :

- Nữ nhân vốn nhẹ dạ, dễ xiêu lòng trước cái đẹp và lời nói ngọt ngào! Nay Thúy Sơn anh tuấn tuyệt thế, lại có cơ hội gần gũi Hổ Hồng Nhan, e rằng hậu quả khó lường. Mong công tử sớm tách rơm và lửa xa nhau.

Nhương Thư lặng im một lúc rồi mỉm cười thanh thản :

- Các hạ nói chí phải! Nhưng ta với Điền đại tiểu thư chưa hề có hôn ước, nếu nàng thực lòng yêu Thúy Sơn thì ta cũng không thể ngăn cản. Hơn nữa, Thư này vẫn mang nặng tử nan ba năm, lỡ không thoát khỏi sẽ làm khổ người hôn phối!

Tào Ưng gật gù :

- Công tử quả là người nhân hậu, khoáng đạt, luôn nghĩ đến người khác trước! Tào mỗ sẽ xử sự theo đúng ý công tử.

Nhương Thư biết gã chưa thực sự thoải mái, liền rủ ra vườn luyện kiếm. Kiếm pháp khắp thiên hạ đều qui về kiếm đạo.

Do vậy, Nhương Thư dễ dàng nhìn ra khiếm khuyết trong sở học Tào Ưng, tận tình chỉ điểm cho gã. Họ Tào vui mừng khôn xiết, hết sức rèn luyện, chỗ nào không thông thì hỏi Nhương Thư.

Liên tiếp bốn ngày, Ngọc Trâm đều đi phố, mua về hàng xe đặc sản của An Dương. Tình thân với Bạch Thúy Sơn càng thêm sâu đậm.

Người ngoài hiểu lầm, trầm trồ khen ngợi họ là cặp tiên đồng, ngọc nữ, vô cùng xứng đôi vừa lứa. Ngọc Trâm đỏ mặt, bắt Thúy Sơn phải đi cách xa mình, nhưng lòng nàng nghĩ gì thì có trời mới biết được.

Tào Ưng không đi theo nhưng mướn một tên ăn mày theo dõi cặp nam thanh nữ tú kia, nắm rõ mọi hành vi của họ. Lão không nói ra nhưng lòng thầm chê Hổ Hồng Nhan là hạng gái hời hợt! Nàng nói thì rất hay nhưng lại không thực hiện được.

Sáng hai mươi bốn, bọn Nhương Thư lên ngựa đi đến Chính Khí trang. Đồng hành với họ là hàng ngàn hào kiệt, người ngựa xếp hàng dài thượt trên quan đạo.

Lễ đài mới dựng xong, ngay vị trí của lễ đài hôm trước. Giờ đây, nó vuông vức mỗi bề sáu trượng, sàn lót ván dày và bằng phẳng. Bàn của ban giám đài kê sát mép phía Bắc, cao hơn mặt lễ đài gần sải tay để tiện quan sát.

Đây là đại hội võ lâm đầu tiên mà quần hùng được ngồi xem và có rượu thịt để trợ hứng.

Vô Ưu Cái thượng đài :

- Kính cáo võ lâm! Thanh Linh Thủy Lão tuy không bằng Kim Mẫu nhưng võ công cũng cao hơn Hạt Nhãn Thần Ma vài bậc. Do vậy, mong chư vị tự lượng sức mình rồi hãy đăng ký.

Hầu bang chủ không thể nói ra việc Thủy Lão Âu Dương mới chết vì sợ lộ vai trò của nội gián đang tiềm phục trong Tứ Phạn Thiên cung.

Những kẻ từng vào sinh ra tử rất biết lẽ tiến thoái nên rốt cuộc chỉ có năm người đăng ký, gồm Chính Khí trang chủ Lã Tập Hiền, Bang chủ Hán bang Liễu Văn Chiêu, Võ Di sơn chủ Từ Bạch Âu đất Phúc Châu, Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan và Tần Nhương Thư.

Khi Vô Ưu Cái đọc đến tên chàng và giới thiệu sư thừa thì quần hùng ồn hẳn lên, nhất là khi Hầu bang chủ nói rõ việc chàng chính là kẻ giết Hạt Nhãn Thần Ma mấy hôm trước!

Trong số những người mới đến có kẻ từng làm môn khách Điền gia trang, nên đã tự hào kể lại cuộc chiến giữa Nhương Thư và đệ tử Châu khanh Tứ Phạn Thiên cung. Thế là mọi người xem chàng là ứng cử viên số một. Nhưng đại hội đã phát sinh quái sự khi có người lên tiếng, trong lúc năm đối thủ kia đứng lên lôi đài ra mắt quần hùng :

- Tại hạ Hoàng Nghi Tuyệt, hai mươi tám tuổi, đồ đệ của Đao Đế đất Liêu Đông, xin ghi danh tranh tài!

Toàn trường sửng sốt vì họ Hoàng đang là Chưởng kỳ sứ của Chính Khí trang, sao lại chơi trò gà nhà bôi mặt đá nhau?

Lã Tập Hiền giận dữ nạt :

- Hoàng lão đệ! Ngươi điên rồi sao?

Nghi Tuyệt phi thân lên đài, lãnh đạm nói với họ Lã :

- Tại hạ luyện đao hai mươi năm, vào Trung Nguyên để dương danh đất Liêu Đông chứ không phải tìm miếng cơm manh áo! Chức vụ Chưởng kỳ sứ kia xin Trang chủ giao cho người khác.

Vô Ưu Cái đã bàn bạc với ban giám đài, tức hội đồng võ lâm, liền lên tiếng :

- Hoàng thiếu hiệp làm như thế là không phải đạo! Tuy nhiên, nể mặt Đao Đế, ban giám khảo chấp thuận! Song thiếu hiệp và Lã trang chủ phải đấu trận đầu, trong hai phải chọn một để dự thi.

Lã Tập Hiền tức ói máu mà không làm sao được! Lão nhìn Hoàng Nghi Tuyệt với ánh mắt oán độc! Lão ăn mày già chết bằm kia chẳng hề nể mặt Lã cố minh chủ, luôn gây bất lợi cho Chính Khí trang.

Vô Ưu Cái sang sảng đọc điều lệ so tài rồi tuyên bố :

- Cặp thứ hai sẽ gồm Bang chủ Hán bang Liêm Văn Chiêu và Võ Di sơn chủ Từ Bạch Âu. Cặp thứ ba là Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan với Tần thiếu hiệp!

Chẳng để ai có dịp phản đối, lão kết thúc ngay :

- Mời Lã trang chủ và Hoàng thiếu hiệp khai mạc đại hội.

Quần hùng reo hò như sấm, mừng vì sắp được xem đấu võ và.. cá cược! Cờ bạc là đặc tính không thể thiếu của khách võ lâm! Nói rộng ra là dân tộc Trung Hoa có máu đỏ đen. Họ đã sáng tạo ra biết bao trò thắng thua từ lớn đến nhỏ: đá gà, đá dế, đua ngựa, chọi trâu, tài xỉu, mạt chược, bài cẩu, cá mưa nắng, cờ tướng, cờ vây (Những trò này đã lan đi khắp thế giờ từ rất lâu, đến nỗi ít ai nhớ rằng những viên xúc xắc và quân cờ domino là phát minh của Trung Quốc)

Trong lúc quần hùng rộn ràng đặt cược thì trên lễ đài, hai đấu thủ đã rút vũ khí gườm nhau. Bảo kiếm, bảo đao sáng quắc, tỏa sát khí dàn dụa khiến kẻ từ bi là Huệ Nghiêm thiền sư, Chưởng môn phái Nga Mi, vội nhắc nhở :

- A di đà Phật! Xin đừng gây đổ máu! Ai chém rách áo đối thủ trong thời gian nửa tuần nhang là đủ để thắng rồi.

Theo qui củ bao đời, cuộc chiến tranh ngôi Minh chủ chỉ kéo dài nửa tuần nhang, tức hai khác là phải dừng lại để ban giám khảo thẩm xét. Nếu chưa ai thọ thương hoặc rách áo thì sẽ đấu tiếp hai khắc nữa. Nhưng thực ra, hiếm khi có cặp nào ngang tài ngang sức đến mức ấy! Thường thì máu đã chảy ngay trong hiệp đầu.

Hoàng Nghi Tuyệt nhỏ tuổi hơn tất được quyền xuất thủ trước. Nhưng gã vẫn đứng im, đao dựng xéo trước mặt, bàn tay tả bắt kiếm ấn, (hai ngón trỏ và giữa và trỏ chỉ thẳng, ba ngón còn lại cụp xuống) đặt hờ nơi tâm thất.

Đao Đế Liêu Vân Nhạc đứng thứ hai trong vụ nội tứ thần, bản lãnh chỉ kém có mình Phật Đăng Thượng Nhân. Bốn mươi năm trước, lão xách đao vào Trung Thổ tung hoành, tìm đến tất cả những nhân vật nổi tiếng trong võ lâm mà tỷ thí.

Trong mười năm, Đao Đế lần lượt đả bại hon trăm cao thủ thành danh. Dĩ nhiên, không ít kẻ bị tàn phế dưới lưỡi đao của họ Liêu.

Phật Đăng Thượng Nhân sợ tinh hoa võ lâm bị hủy hoại hết, liền nhờ Cái bang gởi lời thách đấu với Đao Đế, ở chân núi Tung Sơn. Sau hai ngàn chiêu, Liêu Vân Nhạc bị chém đứt búi tóc, biết đối phương nương tay, liền nhận bại, trở về Liêu Đông.

Sau ba mươi năm ẩn cư, chắc chắn là Tuyết Hoa đao pháp của ông ta đã đạt đến mức tận thiện tận mỹ. Nhưng liệu Hoàng Nghi Tuyệt tiếp thu được bao nhiêu thành hỏa hầu?

Họ Hoàng biểu hiện bằng cách thi triển phép Ngự đao, ngay trong chiêu đầu. Đất Liêu Đông nổi tiếng với rặng núi Trường Bạch quanh năm tuyết phủ, đầy dấy nhân sâm, có củ già đến vài trăm hoặc ngàn nham tuổi! Hoàng Nghi Tuyệt đã được Đao Đế cho ăn một đoạn Thiên Niên Tuyết Sâm nên tu vi tăng thêm mười năm khổ luyện, gã sở hữu tròn ba mươi năm công lực.

Võ học rất phổ biến trên lãnh thổ Trung Hoa, ai cũng có thể luyện tập. Tuy nhiên, chẳng phải tuổi càng cao thì nội lực càng tăng! Nhân sinh đầy phiền muộn, đắng cay, lại phải lo chuyện áo cơm cho bản thân và gia đình hoặc bận tâm vì danh vọng, do thế, việc luyện công thường bị bỏ bê, gián đoạn. Rốt cuộc, có những võ sĩ sáu bảy chục tuổi mà tu vi thua kém kẻ ba mươi.

Chính vì vậy, những trang oai hùng của lịch sử võ lâm đều được viết nên bởi những cao thủ có nghị lực phi thường, hoặc may mắn ngộ kỳ trân.

Hoàng Nghi Tuyệt có đủ hai yếu tố ấy.

Gã miệt mài rèn luyện suốt hai chục năm, không bỏ một ngày nào và lại được ban sâm quý. Cho nên giờ đây, họ Hoàng đã đạt đến trình độ Ngự đao, hóa thành trái cầu óng ánh những bông hoa thuyết.

Bên kia, Lã Tập Hiền cũng đã động thân, kiếm quang mờ nhân ảnh, lấp loáng dưới ánh dương.

Khoảng cách hai trượng được rút lại nhanh chóng, song phương chạm trán, đao kiếm ngân dài và bắn ra những tia lửa nhỏ. Hàng trăm thể thức được đánh ra trong chỉ vài cái chớp mắt, công thủ có đủ, hơn thua bằng bản thân chiêu thức chứ không còn kịp biến hóa. Trong võ lâm, chỉ có mình Phật Đăng Thượng Nhân và Nhương Thư đạt đến trình độ tùy ngộ nghi an trong Ngự kiếm thuật. Việc chàng đâm thủng vai trái Hạt Nhãn Thần Ma đã chứng minh khả năng ấy.

Song Lã Tập Hiền và Hoàng Nghi Tuyệt không được như thế, tâm ý hòa vào đao kiếm, chẳng còn tự chủ được nữa.

Sau khi va chạm bởi những thức tương hợp, đao và kiếm có khoảng trống để chạm cơ thể đối phương.

Tuy nhiên, do Huyết Tâm kiếm pháp và Tuyết Hoa đao pháp đều là tuyệt học hãn thế, chiêu thức hoàn bị, sơ hở rất ít, nên mỗi người chỉ thọ thương hai vết, độ nông sâu khác nhau.

Song phương dội ra, rời xa một trượng rồi lại nhập vào đổi đòn, chiết chiêu bằng lối đánh thông thường, vì phép Ngự Kiếm, Ngự Đao rất hao tổn chân khí, chẳng thể thi triển hai chiêu liên tiếp.

Quần hùng ồn ào hẳn lên vì nhận ra vi tả và ngực trái Hoàng Nghi Tuyệt bị đâm thủng, máu loang ướt đẫm lớp gấm màu nguyệt bạch. Ngược lại, Lã Tập Hiền cũng đổ máu bắp tay trái và đứt mất vạt áo trường bào phía trước, vị trí ngay rốn.

Vậy là họ Lã đã nhỉnh hơn một chút trong lần va chạm đầu tiên. Giờ đây, lão vũ lộng thanh bảo kiếm cố áp đảo luồng đao ảnh trắng muốt, gồm hàng vạn bông hoa thuyết.

Bảo đao của Hoàng Nghi Tuyệt có màu trắng, lấm tấm những chấm bạc óng ánh như giọt sương, tạo nên đao quang đặc trưng của võ học Liêu Đông.

Họ Hoàng biết công lực mình kém Lã Tập Hiền hai bậc, song vẫn đặt niềm tin vào đao pháp kỳ tuyệt của ân sư. Chiêu thức ảo diệu là yếu tố quan trọng, bù đắp cho sự chênh lệch tu vi.

Hoàng Nghi Tuyệt cũng là một nhân tài võ học, căn cơ rất tốt, lại kiên nhẫn hơn người, nên đã tiếp thu được gần hết sở học của Đao Đế.

Gã quắc đôi mát sói, từ tốn đánh ra những chiêu đao mãnh liệt và kín đáo.

Đao kình lạnh như ngọn bắc phong vì Đao Đế sở trường pho nội công Huyền Băng chân khí.

Khí lạnh sẽ ngày càng gia tăng và xâm nhập vào cơ thể đối phương, trước tiên là khiến tay chân kẻ ấy cóng lại, mất hẳn sự linh hoạt.

Đao kiếm chạm nhau vang rền, bóng người đảo lộn, chập chờn như đôi bướm quyện lấy nhau, trọng vô cùng đẹp mắt.

Cây hương chỉ thời gian đã cháy được phần tư, cho biết một khắc đã trôi qua mà vẫn chưa phân thắng bại.

Song chỉ giây lát, Hoàng Nghi Tuyệt đã lâm vào thế hạ phong, phải lùi dài. Gã kinh hoàng vì đôi màng nhĩ liên tiếp nhói đau khủng khiếp bởi sự công phá của loại âm thanh rất nhỏ và cao vút. Kẻ bị đâm vào màng tai thì sức lực đâu mà đánh đấm, bởi vậy, họ Hoàng trúng thêm hai kiếm vào đùi.

Gã định tuyên bố chịu thua thì nhìn thấy nụ cười ác độc trên môi Lã Tập Hiền. Biết đối phương quyết giết chết mình, Nghi Tuyệt không dám mở miệng hoặc nhảy lùi, tạo cơ hội cho địch hạ độc thủ.

Nghi Tuyệt còn cách mép đài đến hơn hai trượng, chẳng thể nhảy ngược một cái mà xuống đất được. Do thế, gã cắn răng chống đỡ, vừa đánh vừa lùi dần.

Khổ thay, màn kiếm ảnh của Lã Tập Hiền ngày càng mù mịt và âm thanh quỷ quái kia cũng sắc bén hơn trước! Nghi Tuyệt chẳng còn dám chần chờ, dùng hết sức tàn phóng bảo đao vào người họ Lã rồi tung mình thoái hậu, cố rời nơi hiểm địa.

Hoàng Nghi Tuyệt hạ thân cách mép đài nửa trượng, ngã quy xuống vì vết thương nơi hai đùi rách toang ra. Và Lã Tập Hiền đã né được thanh đao, lướt đến nơi, hung hãn chụp lưới kiếm xuống thân hình yếu ớt của chàng trai đất Liêu Đông.

Ban giám đài vội quát vang :

- Dừng tay!

Nhưng đã quá muộn vì Lã Tập Hiền không nuôi ý định ấy. Nào ngờ, từ dưới đất có hai bóng đen bay vút lên đài, nhắm thẳng vào họ Lã.

Bóng thứ nhất lao rất nhanh, xé gió vù vù, chạm vào lưới kiếm của Lã Tập Hiền.

Lão nghe cổ tay chấn động, kinh hãi nhảy lùi xa, nhận ra mình đã chém nát chiếc đôn bằng gỗ quí của chính nhà mình!

Còn bóng thứ hai chính là gã Tần Nhương Thư, tay lăm lăm trường kiếm, đứng che cho Hoàng Nghi Tuyệt.

Lã Tập Hiền giận điên người, tra kiếm vào vỏ, rời khỏi lôi đài.

Trong lúc Khánh Hỉ đại sư tuyên bố Lã Tập Hiền thắng thì Nhương Thư điểm huyệt chỉ huyết cho Nghi Tuyệt, và xé vạt áo trường bào băng bó.

Điền Ngọc Trâm và Thúy Sơn đã lên đến, mở bọc lấy thuốc kim sang và băng sạch. Hổ Hồng Nhan trách móc :

- Tiểu muội đã chuẩn bị rất nhiều vải sạch, sao đại ca lại phải xé áo?

Nhương Thư mỉm cười :

- Vì cấp bách nên ta quên mất.

Nghi Tuyệt không hề nói tiếng nào, mát nhắm nghiền, để mặc cho Nhương Thư chăm sóc mình.

Khi nghe chàng nói :

- Ngoại thương không có vết nào nặng nề, thực là may mắn! Dám hỏi bên trong cơ thể Hoàng túc hạ có tổn hại gì chăng?

Gã mở mắt lắc đầu, đứng lên xuôi hai tay dọc sườn, cúi xuống bái Nhương Thư một bái, nhận lấy thanh Huyền Băng đao trong tay Thúy Sơn, rồi tập tễnh hạ đài, rời khỏi đại hội.

Họ Hoàng đi khỏi là có nhiều người mở miệng chê trách gã là kẻ bạc bẽo, thọ ơn cứu mạng mà chàng nói lời cảm tạ.

Ngọc Trâm và Thúy Sơn không nói ra nhưng mặt đầy vẻ bất mãn.

Nhương Thư hiểu lòng họ, vui vẻ nói :

- Nghi Tuyệt sinh trưởng nơi quanh năm phủ tuyết, vắng bóng người, nên quen ít lời, vả lại, gã là đại trượng phu nên không phải lúc nào cũng thế thốt hoặc cám ơn rối rít như đàn bà.

Ngọc Trâm xấu hổ lườm chàng :

- Đại ca xem thường tiểu muội quá đấy! Nào phải nữ nhân mới nghĩ thế, cả gã Thúy Sơn kia cũng vậy mà.

Bạch Thúy Sơn cười hăng hắc :

- Xin đại tẩu đừng gắp lửa bỏ tay người khác! Tiểu đệ đâu hề có ý định chê trách họ Hoàng!

Ngọc Trâm tức tối bất ngờ giáng vào vai Thúy Sơn một quyền đau điếng. Gã đau đớn ẹo người nhưng vẫn cười sặc sụa.

Chương 5: An Dương Lã thị mưu chung đỉnh - Chính Khí khai trang huyết mãn môn

Theo đúng lễ chị dâu em chồng dù kết nghĩa, cũng không được làm thế. Thiết Kình Ngư nóng mũi nói bâng quơ :

- Chốn đông người mong nhị vị cẩn trọng để tránh hiểu lầm.

Ngọc Trâm tái mặt, lén liếc nhìn Nhương Thư, thấy chàng vẫn thản nhiên nhìn lên lôi đài, nàng mới yên tâm.

Thực ra, Nhương Thư đã nhìn thấy hết, vì nghĩ rằng cặp uyên ương kia rất xứng đôi Tuy hơi cay đắng nhưng lại hợp lý vì chàng đã quyết liều thân với Lã Tập Hiền.

Qua trận giao đấu lúc nãy, chàng tự hiểu rằng mình khó thắng họ Lã, chỉ có cách đổi mạng.

Song không phải hôm nay, vì cặp đấu thứ hai là Hán bang Liễu Văn Chiêu và Võ Di sơn chủ Từ Bạch Âu.

Sàn lôi đài đã được rửa sạch vết máu và hai cao thủ sắp sửa ra tay.

Võ Di là một danh sơn ở đất Phúc Kiến, Từ Bạch Âu dựng nhà trên ấy, tự xưng là Sơn chủ! Cũng như Bang chủ Hán bang, họ Từ ít khi xuất thủ nên võ lâm không thể ước lượng được bản lãnh của họ.

Đây là lần đầu hai người này biểu diễn võ thuật trước mặt quần hùng.

Những người tham gia cá cược chỉ có thể dựa vào tuổi tác mà đánh giá cao Từ Sơn chủ. Lão hơn họ Liễu hai tuổi, một khoảng cách rất nhỏ bé không có ý nghĩa quan trọng.

Võ Di sơn chủ có vóc người tròn trịa, phương phi, mặt hồng hào phúc hậu, râu năm chòm điểm bạc trông rất đẹp lão.

Ông thấp hơn Liễu Văn Chiêu nửa xích nhưng to ngang hơn.

Vũ khí của họ Từ là cây Tam Tiết côn bằng ống thép dầy, gồm ba đoạn được nối vào nhau bằng những khoeo sắt. Mỗi đoạn còn có chiều dài tương với trường kiếm, thân to bằng cổ tay trẻ con mới sinh Tam Tiết côn là vũ khí độc môn, xếp hàng thứ tám trong binh khí phổ, ít được làng võ ưa chuộng vì cồng kềnh, thô kệch và khó học. Chỉ có Võ Di sơn chủ là người giỏi nhất trong nghề đánh Tam Tiết côn.

Loại vũ khí này lợi hại ở chỗ có thể vươn xa đến hơn trượng, khi cận chiến thì trở thành đoản côn hoặc song đoản côn.

Quần hùng vô cùng cao hứng được chứng kiến thần oai của một loại binh khí hiếm hoi, reo hò thúc giục như chợ vỡ.

Nhưng kẻ được quyền xuất thủ trước lại là Bang chủ Hán bang Liêu Văn Chiêu, lão đã khiến cử tọa bàng hoàng bằng một đòn Ngự kiếm thượng thừa.

Lưỡi kiếm của lão mạ vàng nên kiếm quang rực rỡ đến chói mắt, dường như còn có tác dụng che giấu lộ số.

Chắc các vị đọc giả thắc mắc muốn biết thời xưa người ta mạ vàng vào kim loại bằng cách nào? Xin thưa rằng rất đơn giản, họ mài vàng thành hạt nhỏ, ngâm trong thủy ngân, là chất có thể hòa tan được vàng. Sau đó họ quét thứ hỗn hợp này lên mặt ngoài những vật cần mạ, rồi dùng lửa hơ khiến thủy ngân bốc hơi, chỉ còn lại vàng bám chặt. Cuối cùng, họ dùng mã não mài ép, làm lớp vàng mỏng kia thành sáng bóng.

Người Trung Hoa cổ xưa đã biết phương pháp mạ vàng này từ thới Xuân Thu - Chiến quốc, tồn tại qua các đời không hề gián đoạn. Thủy ngân thì chẳng thiếu vì ở đất Quý châu có rất nhiều hồ lớn chứa đầy thứ kim loại lỏng ấy.

Giờ hãy quay lại với lôi đài để xem Võ Di sơn chủ đối phó thế nào trước chiêu kiếm óng ánh sắc hoàng kim kia.

Từ Bạch Âu không hề lúng túng, song thủ nắm chặt đoạn giữa, vũ hợp hai đoạn ngoài, dựng nên bức tường thép cực kỳ kiên cố và kín đáo như da trời.

Hai ống thép nặng nề xoay tít như chong chóng, giáng những đòn nặng như búa tạ vào lưới kiếm, đánh văng Liễu Vân Chiêu ra xa!

Quần hùng hoan hô Từ lão nhiệt liệt, xuýt xoa tán dương côn thuật núi Võ Di.

Từ Bạch Âu phấn khởi, vũ lộng Tam Tiết côn phản kích bằng bốn chiêu liên hoàn, đẩy lùi họ Liễu hơn trượng.

Lúc này cử tọa mới biết Võ Di sơn chủ thần lực kinh nhân, dẫu tuổi đã gần thất thập Lão sử dụng cây côn ba khúc, nặng bốn chục cân rất nhẹ nhàng, thoải mái.

Liễu Văn Chiêu cắn răng chống đỡ những nhát côn như trời giáng, hoặc tận dụng khinh công mà né tránh, dùng phép du đấu, chờ cơ hội phản đòn.

Dưới này, Nhương Thư dần dần nhận ra sự quen thuộc trong kiếm pháp của Liễu Văn Chiêu. Nó rất giống với pho Hạo Thiên kiếm pháp mà Đệ tứ châu khanh của Tứ Phạn Thiên cung đã thi triển ở Điền gia trang.

Thì ra Liêu Văn Chiêu là người của Thiên cung. Lão mạ vàng trường kiếm để che những vệt sáng đặc trưng trong Hạo Thiên kiếm pháp.

Nhương Thư là người duy nhất so kiếm với cao thủ Thiên cung, trong suốt mười ba năm qua, chàng lại có ký ức rất tốt nên mới khám phá ra quỷ kế.

Thấy Bang chủ Hán bang đang cố tìm cách di chuyển về hướng Tây, chiếm vị trí đầu ngọn gió, Nhương Thư vội vận công nói lớn :

- Từ sơn chủ không được để cho họ Liễu chiếm hướng gió! Lão ta sắp phóng Vô Hình Chi Độc đấy!

Từ lão hoảng hồn, liền mở rộng lưới côn, quét văng Liêu Văn Chiêu trở lại hướng Đông.

Quần hùng nghe nói đến Vô Hình Chi Độc sợ đến đứng cả lên, ồn ào khôn tả.

Vô Ưu Cái nói ngay :

- Tần thiếu hiệp! Chẳng lẽ Liễu Văn Chiêu là người của Tứ Phạn Thiên cung?

Nhương Thư nghiêm giọng đáp!

- Tại hạ đoan chắc như thế! Họ Liễu đang thi triển Hạo Thiên kiếm pháp!

Từ khi biết Nhương Thư là học trò của vị thánh tăng núi Ngũ Đài sơn, quần hùng vô cùng ngưỡng mộ và tin tưởng.

Trong số họ có không ít người trực tiếp hay gián tiếp mang ơn Phật Đăng Thượng Nhân. Vì thế, mọi người hô vang :

- Giết gian tế!

Rồi họ nhảy xổ vào mười ba gã tùy tùng của Liễu Van Chiêu đang ngồi quanh bàn tiệc.

Kể tiên phong chính là Bạch Thúy Sơn và Tào Ưng. Họ Bạch quả xứng danh Vạn Lý Thần Điêu, từ bàn mình bốc lên cao, bay chếch hai trượng, bủa lưới thép xuống đầu kẻ địch. Trường kiếm của gã quét ngang theo hình nan quạt, đâm thủng đầu ba gã Hán bang.

Thiết Kình Ngư Tào Ưng chậm hơn một bước nhưng cũng đâm thủng ngực được một tên. Chín gã còn lại rút kiếm chống cự nhưng rốt cuộc cũng chết sạch dưới sự phẫn nộ của đám đông.

Cũng lúc ấy, có hai bóng người phi thân lên lôi đài, nam mặc áo xanh thẫm, nữ võ phục lam nhạt.

Nữ nhân áo lam nhạt ấy chính là Bạch Ngọc Tiên Tử Lam Đại Ngọc, Phó trang chủ Chính Khí trang. Nàng nhanh chân hơn nên lên trước Nhương Thư, vung Thiết địch lướt đến tấn công hậu tâm Bang chủ Hán bang.

Nhương Thư đành đứng một bên quan chiến, đề phòng họ Liễu đào tẩu. Chàng kinh ngạc khi nhận ra nét căm hờn trên gương mặt của Tiên tử. Dường như nàng có mối thù sâu đậm với Thiên cung vậy!

Cây Thiết địch đen bóng có hoa văn khảm chỉ vàng kia chính là vũ khí thành danh của Địch Thánh Dư Minh Thiều, nó không dầy nhưng được làm bằng huyền thiết nên rất rắn chắc. Phải chăng Địch Thánh đã tạ thế mới trao vật tùy thân cho đệ tử?

Địch Thánh đứng hàng thứ ba trong Vũ Nội tứ thần, nhưng do tính lão ôn nhu, văn nhã, không hiếu tháng, nên khó biết bản lãnh thực như thế nào? Họ Dư từng đánh thắng Hồng Diện Tôn Giả, song lại tự nhận mình kém Đao Đế và Phật Đăng Thượng Nhân, dù không hề tỷ thí.

Nay Nhương Thư được tận mắt chứng kiến chiêu sáo của Đại Ngọc, lòng tự nhủ rằng chưa chắc Đao Đế xứng với vị trí thứ hai.

Cây Huyền Thiết địch kia rít lên, hóa thành trăm bóng ảnh, uy hiếp từ đầu đến đùi sau của họ Liêu.

Trước sau đều ngộ địch, Bang chủ Hán bang chỉ còn cách mở đường máu đào vong.

Lão nghiến răng đánh bạt cây côn của Võ Di sơn chủ rồi quay ngoắt lại đối phó với Bạch Ngọc Tiên Tử.

Chẳng cần phải giấu diếm võ công nữa, họ Liễu xuất chiêu “Mãn Thiên Tinh Đẩu”, kiếm quang hiện rõ những vệt sáng dọc ngang như ngàn sao đang băng qua bầu trời.

Nếu Hạo Thiên kiếm pháp tầm thường thì Tứ Phạn Thiên cung đã chẳng nổi danh, cộng với công lực thâm hậu, họ Liêu đã giải phá được chiêu sáo của Bạch Ngọc Tiên Tử. Kiếm chạm Thiết địch vang lên những âm thanh trong trẻo và thọc mũi vào ngực Lâm Đại Ngọc.

Tiên Tử thất kinh, đảo bộ lùi xa để né tránh Liễu Văn Chiêu như hổ dữ cùng đường, lập tức tung mình xông đến, toan hạ thủ để rộng đường thoát thân.

Nhương Thư thấy lão cụp năm ngón tay của bàn tay tả lại, đặt dưới rốn, liền nhớ ra rằng Đệ tứ châu khanh cũng từng có động tác ấy, và sau đó chàng trúng độc. Chàng vội vung kiếm, xuất chiêu “Minh Đăng Thất Hiện”, lao vào mé hữu của lão.

Khi kiếm của Liễu Văn Chiêu vừa chạm lưới sáo của Lâm Đại Ngọc thì lão kín đáo vung tả thủ lên. Nhưng Nhương Thư đã đến nơi, trường kiếm vẽ nên bảy bóng ảnh sáng trắng, lung linh như ngọn lửa.

Liễu Văn Chiêu vội xoay kiếm chống trả, điểm liền mười tám thức, nhưng không sao giải phá được tuyệt học Ngũ Đài sơn. Lão rú lên thảm thiết, ngã ngửa ra sàn đày giãy giụa, máu từ hai vết thương nơi ngực tuôn như suối.

Quần hùng hân hoan reo cười, không để ý rằng Bạch Ngọc Tiên Tử đã quy xuống vì trúng độc. Nhương Thư đã can thiệp kịp thời nên nàng chỉ hít phải có một ít, song cũng không đứng vững nổi, phải ngồi xuống vận công trục ra ngay.

Nhương Thư cau mày bước đến nói :

- Cô nương hãy dồn chân khí vào kinh Thủ Thái Âm Phế, tại hạ sẽ giúp một tay.

Nói xong, chàng ngồi xuống sau lưng nạn nhân, hữu thủ áp vào Mệnh Môn, tả thủ đặt lên vai trái, ngón trỏ bấm vào huyệt Vân Môn, ở bờ dưới đầu ngoài xương đòn.

Luồng chân nguyên hùng hậu của Nhương Thư trút vào người Tiên tử như thác lũ, giúp nàng nhanh chóng trục hết dư độc ra ngoài cơ thể theo mồ hôi.

Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm đã lên đến, cầm kiếm đứng cạnh hai người, tư thế thì như hết lòng bảo vệ, mà lòng thì hậm hực, chỉ muốn đâm cho Bạch Ngọc Tiên Tử một nhát chết toi. Nàng trẻ đẹp thế này mà còn mê chàng, huống hồ gì cô ả gái già kia?

Ngọc Trâm ghen cũng phải vì nhan sắc của Lâm Đại Ngọc cũng thuộc hàng nhất lưu và thân thể đương nhiên nảy nở, hấp dẫn hơn Hổ Hồng Nhan.

Thời gian sao trôi qua quá chậm, phải chăng ả họ Lâm kia đã khỏe mà cố tình ngồi lì để được kề cận Nhương Thư?

Đúng khắc sau, Nhương Thư mới thu tay về, nhắm mắt điều tức, tái tạo lại số chân nguyên hao hụt.

Bạch Ngọc Tiên Tử thoát chết, quỳ lên bò ra xa một chút rồi quay lại, lạy tạ ân nhân. Nhưng nàng không bỏ đi mà cứ quỳ như thế để chờ đợi, mắt dán vào gương mặt nhân từ đôn hậu của chàng trai có đôi tai Phật.

Ngọc Trâm nghe máu ghen dồn lên óc, cười nhạt bảo :

- Thuyết phu thi ân bất cầu báo, cô nương bất tất phải chờ đợi! Hơn nữa, y phục của cô nương đã ướt đẫm và hôi hám, cần phải thay rồi đấy.

Bạch Ngọc Tiên Tử ngửi được mùi dấm chua của ghen tuông, tủm tỉm trả đũa :

- Ối chà! Té ra Tần công tử đây là trượng phu của Điền đại tiểu thư đấy sao? Thế mà mấy hôm nay ta cứ tưởng Bạch Thúy Sơn mới là rể của họ Điền! Không phải mình ta mà nhiều người cũng hiểu lẩm như thế đấy!

Đòn đau điếng này khiến mặt Ngọc Trâm lúc đỏ lúc tái xanh. Nàng giận dữ nạt :

- Tiện tỳ chớ nói càn!

Bị mạt sát, Tiên tử đứng phắt dậy, chỉ mặt Hổ Hồng Nhan gằn giọng :

- Thân nhi nữ dù học võ cũng giữ lễ! Nay nàng buông tuồng nhởn nhơ dạo phố với trai tơ, còn dám mắng người nữa sao? Nếu không nể Tần công tử thì ta đã xé rách miệng nàng ra rồi!

Ngọc Trâm thẹn quá hóa giận, rút kiếm định chém Tiên tử thì Tào Ưng nhảy vào giữa hai người. Gã lạnh lùng bảo :

- Lâm cô nương nói rất chí lý, sao tiểu thư lại phát tác?

Ngọc Trâm chết điếng khóc lóc :

- Đến Tào Ưng đại ca mà cũng nghi ngờ tiểu muội nữa sao? Chẳng qua tiểu muội muốn thử lòng Thúy Sơn để phòng sau này y gặp mặt ba đứa em gái của tiểu muội. Nếu họ Bạch có chút tà ý là tiểu muội sẽ có cớ đuổi đi ngay! Vẻ anh tuấn của Thúy Sơn chính là tai họa cho Nhương Thư đấy!

Tào Ưng nghe cũng có lý, gãi đầu nói :

- Sao nàng không nói trước? Hơn nữa, có những việc phải mà vẫn chẳng được phép làm, đi qua ruộng dưa thì chớ cúi xuống sửa giày, để lâm vào cảnh tình ngay lý gian.

Bạch Ngọc Tiên Tử mỉa mai :

- Bắt cá hai tay mà còn giả đò chính chuyên, thúi thực!

Hổ Hồng Nhan chưa kịp nổi tam bành thì Nhương Thư đã đứng lên, ôm nàng vỗ về :

- Ta đã hiểu tấm lòng của hiền muội.

Ngọc Trâm gục vào ngực chàng khóc rấm rức, lòng vô cùng hối hận. Nàng quen thói ngang ngạnh, nghĩ mình đúng là cứ làm nên mới có cảnh này.

Bạch Ngọc Tiên Tử nghiêng mình bái rối nói :

- Ơn cứu mạng hôm nay thiếp chẳng dám quên.

Dứt lời nàng nhảy xuống đất đi mất.

Bọn Nhương Thư cũng đã hạ đài được quần hùng xúm lại tán dương.

Vô Ưu Cái khám xác Liễu Văn Chiêu, phát hiện lão có mang mặt nạ, và trong cổ tay tả có giấu một túi the mỏng chứa độc phấn cực mịn.

Ông rất hân hoan trước chiến lợi phẩm này, dùng đũa gắp bỏ lọ sành mang về cho các danh y nghiên cứu cách giải độc.

Đã cuối giờ Tý nên Hầu bang chủ tuyên bố nghỉ trưa, đầu giờ Thân sẽ đấu trận của Nhương Thư và Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan.

Cơn trưa được dọn ra, dĩ nhiên không ngon lành bằng tiệc của Chính Khí trang ngày khai đàn.

Người võ lâm chỉ cần nhiều rượu là đủ nên chẳng hề phàn nàn. Họ vừa ăn uống vừa tranh luận về diễn biến bất ngờ lúc nãy. Dĩ nhiên là họ hết lời ca tụng Tần Nhương Thư, người đã phát hiện ra âm mưu của Tứ Phạn Thiên cung. Từ nay, thanh danh của chàng lẫy lừng tứ hải, dù có trở thành quyền Minh chủ hay không.

Nhưng Nhương Thư đã sớm rời khỏi Lã gia trang, quay lại thành An Dương nghỉ ngơi, thời gian hai canh giờ quá dài để ngồi nghe người khác tán tụng mình.

Bạch Thúy Sơn đã nghe được lời bộc bạch của Ngọc Trâm nên xấu hổ rủ Tào Ưng ở lại.

Về đến chỗ trọ, tắm táp và ăn uống xong, Hổ Hồng Nhan chui vào phòng đóng cửa lại, nằm khóc tỷ tê!

Khu phòng dành cho khách nam giới ở khá xa nên Nhương Thư không nghe thấy tiếng khóc, thản nhiên cởi áo ngả lưng cho khỏe.

Chẳng lẽ la làng lên để bị dám gia nhân trong nhà biểu huynh cười, Ngọc Trâm nín khóc, cắn môi suy nghĩ một lúc lâu rồi sang phòng Nhương Thư.

Cửa không đóng, Hổ Hồng Nhan bước vào, gài then cẩn thận, đi qua bức bình phong, đến trước giường của tình lang.

Nhương Thư đã ngồi lên, cười hỏi :

- Sao mắt của hiền muội đẫm lệ thế kia?

Điền Ngọc Trâm quị xuống, gục mặt vào gối Nhương Thư mà khóc thút thít.

Nàng mới gội đầu nên mái tóc huyền còn ẩm, buông xõa trên lưng và thoang thoảng mùi hương thơm của hoa lài.

Người ta đã tẩm tinh dầu hoa lài vài những viên bồ kết để thân thể và tóc được thơm tho. Chỉ có những giàu mới dám dùng loại này.

Trễ lắm là vào thời nhà Đường, người Trung Hoa đã biết dùng bồ kết để tắm gội. cách chế biến viên bồ kết rất đơn giản, còn được ghi lại trong bản thảo cương mục của danh y lý thời Trân Triều minh: “Tháng mười hái bồ kết về, đun chín, giã nát, hòa với bột mì trắng và hương liệu rồi viên lại!”

Nhương Thư vuốt tóc nàng rồi đỡ lên, đặt ngồi vào lòng. Thân hình mềm mại, ấm nóng và ngát hương của Ngọc Trâm đã khiến tâm hồn chàng lâng lâng một cảm giác hạnh phúc diệu kỳ.

Chàng ở trần để lộ thân trên săn chắc, bắp thịt không nở nang nhưng nắm lại thành múi rất rõ. Người học võ, ngoài việc luyện nội công còn phải nâng cao sức chịu đựng của cơ bắp và khung xương. Ví như kẻ bẩy đá, dù khỏe mạnh mà dùng đòn bằng gỗ nhỏ, yếu thì thất bại vì đòn bị gậy.

Tóm lại, các đại cao thủ đều kiêm thông nội công và ngoại công! Nhương Thư cũng vậy nên cơ thể rất đẹp, khiến cho Ngọc Trâm bị quyến rũ, dù đầy những vết thương chưa liền miệng. Nàng chìm dần vào trạng thái say đắm, run rẩy vuốt ve bờ ngực trái của chàng.

Nhương Thư có định lực rất thâm hậu, nhờ trai giới suốt mười mấy năm ròng, tuy xao xuyến nhưng vẫn không nổi tà tâm.

Hổ Hồng Nhan mỗi lúc thêm háo hức, nhìn chàng đắm đuối và đỏ mặt thì thầm :

- Đại ca! Tiểu muội xin dâng hiến để chứng tỏ lòng mình.

Nhương Thư mỉm cười :

- Nàng chứng tỏ tình yêu bằng cách ấy chỉ tổ khiến ta kiệt lực, tứ chi bải hoải, làm sao chiều nay có sức mà thượng đài?

Ngọc Trâm thẹn chín người, nhe răng cắn vào vai Nhương Thư rồi hờn dỗi bỏ về phòng mình.

Giữa giờ Mùi, hai người lên ngựa đi đến Lã gia trang. Được vài dặm, đường quan đạo nhỏ xuyên qua cánh rừng Hoàng Đàn già nua, vươn ra đến gần giữa lộ, tỉa mùi thơm thoang thoảng.

Hoàng Đàn thuộc họ long não, là loài thân gỗ lớn, thường xanh, thu về không rụng lá như ngô đồng. Chính vì thế, lữ khách khó có thể nhận ra những tên thích khách mặc y phục xanh lục ẩn mình trên cây. May thay, do giận dỗi nên Hổ Hồng Nhan chẳng thèm chuyện trò với Nhương Thư, giả đò ngắm nghía phong cảnh.

Nàng tức tối và hổ thẹn vì đã lỡ miệng hiến thân cho gã ngốc kia, để bẽ mặt vì bị chối từ!.. Dù rằng, lòng nàng rất khâm phục nhân phẩm của Nhương Thư, nếu là nam nhân khác thì chẳng mèo nào chê mỡ! Là nàng chợt nghĩ đến cảnh bụng mình to ra khi chưa cưới hỏi liền bật cười khúc khích! Rồi ánh mắt nàng chạm phải một đống lù lù trên tán cây bên đường, kinh hãi thét lên :

- Đại ca! Coi chừng mai phục!

Cả hai gò cương, rút kiếm phòng thân.

Thấy đã bị lộ, bọn thích khách đành nhảy xuống, chạy đến tấn công. Chúng đông độ hai chục tên, toàn thân phủ kín bàng vải màu xanh lá, chỉ chừa hai lỗ mắt, tay lăm lăm kiếm tuốt trần, chẳng hiệu thuộc bang hội nào?

Nhương Thư quắt mắt nói mau :

- Trâm muội cứ tìm cách thoát đi trước, để ta đoạn hậu cho.

Hổ Hồng Nhan lắc đầu :

- Không! Uyên ương sống chết có đôi!

Dứt lời, nàng thúc gót giầy vào bụng ngựa, tuấn mã chồm lên, lao vào hàng ngũ đối phương. Nhương Thư cũng phải bám theo ngay.

Đôi ngựa phi song song nên mỗi người chỉ phải đề phòng một phía, và trước mặt.

Nhương Thư nhoài người vung kiếm chém vào một tên vừa áp sát. Gã cử gươm đỡ đòn, nào ngờ nhát kiếm kia nặng tựa nghìn cân, lại từ trên cao giáng xuống, đã đánh văng vũ khí của gã, tên sát thủ chưa kịp thoái hậu thì mũi kiếm đối phương đã biến thế đâm thủng trán.

Bên kia, Hổ Hồng Nhan cũng đả thương được một gã, hứng chí tiến lên.

Nhưng bọn phục binh đã vung tay phóng ám khí như mưa, khiến Nhương Thư và Ngọc Trâm phải loang kiếm bảo vệ châu thân. Họ không thọ thương nhưng đôi ngựa hí lên não ruột, khuỵu xuống vì chân cắm đầy những mũi phi tiêu tẩm độc.

Phi tiêu là loại ám khí rất phổ biến, chế tạo dễ dàng và thủ pháp phóng cũng không khó. Nó cấu tạo bởi một đoạn thép dẹp, nhọn, dài nửa gang, đuôi cột chùm tơ để luôn bay thẳng. Chùm tơ ấy có tác dụng như những cái cánh ở đuôi trường tiễn. Nhờ thế, bất cứ ai cũng có thể phóng phi tiêu sau hơn tháng luyện tập.
Tiếng ngựa hí bi thương kia dường như đã đánh thức một kỷ niệm đẫm máu trong quá khứ của Nhương Thư! Ngày ấy, bọn bịt mặt cũng đã dùng ám khí đánh đòn phủ đầu, giết chết tuấn mã của cha chàng, khiến ông phải cõng chàng mà phá vây.

Sau này, khi điều tra ra lai lịch của Nhương Thư, Phật Đăng Thượng Nhân đã đến Trường Sa rước thân mẫu chàng đi Ngũ Đài sơn sum họp. Chính bà cũng không biết vì sao có kẻ lại muốn giết một kiếm sĩ chưa thành danh như Tần Tử Chính?

Cái chết oan uổng, đầy nghi vấn của ông đã khiến kỷ niệm xưa càng hằn sâu tâm hồn Nhương Thư. Giờ đây, sát khí phủ mờ gương mặt nhân hậu và mắt chàng lập lòe những tia oán độc.

Nhương Thư lại biến thành kẻ say máu, phóng tay chém giết. Nhưng trong phe đối phương có đến sáu, bảy cao thủ, bản lãnh tương đương hoặc hơn Thiết Kình Ngư.

Chỉ sau vài chiêu, chàng đã nhận ra gốc tích phe địch. Những sóng âm quái dị đang công phá màng nhĩ chàng chính là đặc tính của Huyết Tâm kiếm pháp.

Vậy là Lã Tập Hiền quả thật đã trở thành Giáo chủ Huyết Tâm giáo. Lão e ngại Nhương Thư nên cho thủ hạ diệt trừ, hoặc để tìm hiểu xem chàng có kháng cự nổi ma thanh như Phật Đăng Thượng Nhân hay không?

Năm xưa, Huyết Tâm Đế Quân vong mạng, tan nát cơ đồ cũng vì có kẻ giỏi nghề giả điếc như Phật Đăng!

Tuy tận mắt chứng kiến Nhương Thư phải lấy máu đổi mạng Hạt Nhãn Thần Ma, tức bản lãnh kém xa mình, song họ Lã vân chưa yên tâm! Trong võ lâm, không ai biết chắc pho kiếm pháp Phật Đăng có bao nhiêu chiêu, dường như cứ mỗi lần đụng phải đi thủ cao cường hơn là Thượng nhân lại ló ra một chiêu ảo diệu hơn.

Phật Đăng là bậc kỳ tài trong võ học, đã dựa trên sở học Ngũ Đài sơn mà sáng tạo ra Phật Đăng kiếm pháp và Nhiên Đăng tâm pháp, khiến cả võ lâm đê đầu bái phục!

Nhiên Đăng chân khí màu nhiệm vô song, giải trừ bách độc và các thứ tà pháp trên đời. Nhờ thiên bẩm và Quỷ Nấm, Nhương Thư đã luyện xong lớp thứ bảy của thần công, nên không chết bởi Vô Hình Chi Độc và xem thường ma âm của Huyết Tâm giáo.

Chàng dồn công lực tạo thành màn cương khí bảo vệ toàn thân, nhảy xổ vào gã sát thủ đối diện. Gã không ngờ đối phương chẳng hề hấn gì trước sáu đạo ma âm, kinh hãi cử kiếm đón chiêu.

Có thể nói rằng khi rơi vào trạng thái khát máu, đường kiếm của Nhương Thư lợi hại hơn bình thường. Những chiêu kiếm nhu hòa đã biến hóa theo hướng hiểm độc, không chừa một vị trí nào!

Ánh mắt dã thú của Nhương Thư đã khiến đối thủ rợn mình, song mũi kiếm của chàng mới mang đến sự chết chóc.

Chiêu “Nghiệp Chướng Nan Đào” chỉ có mười tám thức, đơn giản nên nhanh như chớp giật, trổ một lỗ lẻ loi trên ngực trái nạn nhân.

Đồng đảng của gã đâu chịu đứng im, ba tên liên thủ uy hiếp hậu tâm và tả hữu của Nhương Thư. Đối với kiếm thủ thượng thừa, vũ khí chẳng bao giờ lưu lại trong xác chết quá lâu, nên kiếm của Nhương Thư đã sớm rút về, hóa thành chiếc tán che thân.

Không chỉ đơn giản là dỡ đòn, mà là chiêu “Dạ Xoa Tán Hoa”, rải muôn nghìn đóa kiếm ảnh chặn đứng ba lưỡi kiếm kia và trùm lấy tên mé hữu. Gã cắn răng giữ tấn trụ lại chứ không lùi, loang kiếm tự vệ, hy vọng hai đồng bọn giải vây.

Lòng dũng cảm của gã đã thành vô ích vì Nhương Thư vừa thọc kiếm vào bụng dưới của gã xong là đề khí bốc lên cao ngay. Lưng chàng vướng kiếm đau rát nhưng không sâu, vẫn hung hãn sà xuống tấn công hai đối thủ của Hổ Hồng Nhan ở gần đấy. Hành động bất ngờ này đã thu được lãi to, Nhương Thư dễ dàng rạch đứt gáy hai gã xấu số, giải tỏa bớt áp lực cho Ngọc Trâm.

Hổ Hồng Nhan nãy giờ chiến đấu kiên cường, tóc tai rũ rượi, y phục vương đầy máu của ba gã áo lục thuộc hàng tốt đen, và bờ mông trái mơn mởn của nàng đã bị phe đối phương đâm thủng.

Vết thương ở phần thịt mềm nên không đau đớn lắm, chỉ chảy máu nhiều và khiến Hổ Hồng Nhan tức giận, lo lắng.

Đối với nàng, một vết sẹo dù ở chỗ nào cũng làm giảm đi nhan sắc khuynh thành.

Do vậy, khi được Nhương Thư sát cánh, nàng hùng hổ lao vào hàng ngũ địch để trút hận.

Tuy nhiên, có lẽ vì quá khiếp đảm kiếm pháp của Nhương Thư nên mười hai tên còn sống sót thay đổi đấu pháp.

Chúng vây chặt lấy hai người, khi kẻ nào bị tấn công thì hai gã bên cạnh lập tức liên thủ chống chọi, và cùng lùi lại. Nhờ vậy, chúng giảm thiểu được thương vong, cầm chân đối thủ.

Ngọc Trâm thức ngộ ra, la lên :

- Đại ca! Chúng không muốn ta đến đại hội kịp giờ!

Nhương Thư gật đầu :

- Nàng hãy bám sát ta mà phá vây!

Dứt lời, chàng dũng mãnh xông lên, tiếng kình rít lên như tiếng xé lụa, kiếm quang loang loáng dưới ánh nàng gắt làm hoa mắt người.

Nhương Thư đã dồn hết công lực thi triển phép khoái kiếm đến độ chót để mở đường máu. Chàng giết liến hai gã dại dột cản đường, đả thương thêm hai gã nữa, phá thủng vòng vây, dẫn Ngọc Trâm đào thoát, Bọn sát thủ kinh tâm táng đởm không dám có ý định duỗi theo, rút cả vào rừng.

Chạy được hai dặm, Ngọc Trâm nói :

- Đại ca! Chúng ta ghé vào rừng băng bó vết thương chứ! Chẳng lẽ để thế này mà chường mặt trước mấy ngàn người?

Nhương Thư gật đầu, cùng nàng rẽ phải vào rừng Hoàng Đàn, đến chỗ có suối nước liền dừng lại, chàng nóng ruột vì sợ trễ nên nói ngay :

- Nhanh tay lên, không thì trễ mất!

Ngọc Trâm thẹn thùng :

- Đại ca nhắm mắt lại đi!

Nhương Thư bật cười :

- Nhắm mắt làm sao thấy đường chăm sóc vết thương? Lúc trưa thì nồng nhiệt mà giờ thì bẽn lẽn, thực là khó hiểu!

Hổ Hồng Nhan đỏ mặt càng bội phần xinh đẹp Nhương Thư động lòng, bước đến cởi dải thắt lưng hộ nàng. Ngọc Trâm chỉ còn cách nhắm mắt để mặc chàng hành động, giọt lệ thẹn thùng ứa ra.

Đứng phơi trên bờ e không tiện, Nhương Thư bồng nàng mà đi xuống dòng suối, chọn chỗ nước xâm xấp đến mông, đặt Ngọc Trâm đứng xuống.

Thấy vết thương chẳng đáng gì, chàng cười bảo :

- Vết rách không sâu, tắm xong băng cũng được! Nàng tự cởi áo hay nhờ ta?

Một liều ba bảy cũng liều, Ngọc Trâm mở mắt, cởi bỏ chiếc áo đầy máu, chỉ còn lại yếm đào.

Dường như, sau mỗi lần bị kích động bởi cơn say máu, định lực của Nhương Thư giảm đi. Chàng say đắm bước đến hôn hít, vuốt ve gương mặt và thân hình ngà ngọc của mỹ nhân! Yếm đào cũng sớm trôi theo gióng nước suối!

Hổ Hồng Nhan rạo rực, ngất ngây ôm lấy tình lang, lát sau nàng sực tỉnh, khẽ nhắc :

- Đại ca! Sắp đến giờ Thân rồi!

Nhương Thư chỉ gật đầu mà chẳng chịu buông, định gầy cuộc ái ân. Ngọc Trâm bắt đầu sợ, nhắc thêm :

- Tiểu muội không tiếc thân nhưng chiều nay chàng còn thượng đài nữa!

Nhương Thư cười mát :

- Dầu có hai lão Quảng Đông Thần Đao ta cũng chấp!

Tuy nói thế nhưng chàng đã kiềm chế được dục vọng, bồng nàng lên. Hai người xức thuốc kim sang cho nhau, mặc lại y phục ướt rồi lên đường. May mà họ đã ném chúng lên bờ.

Trong lúc ấy, đại hội võ lâm xôn xao vì sự vắng mặt của Nhương Thư. Vô Ưu Cái nhấp nhổm như ngồi trên bàn chông.

Qua đầu giờ Thân chừng nửa khắc, Lã Tập Hiền lên tiếng :

- Có lẽ Tần công tử đã bỏ cuộc! Xin hội đồng võ lâm tuyên bố Quảng Đông Thần Đao thắng trận này!

Bạch Thúy Sơn vội lên tiếng bênh vực :

- Lã trang chủ sợ y hay sao mà lại gấp thế? Ít ra cũng phải chờ đúng một khắc rồi sẽ tính!

Quần hùng yêu mến Nhương Thư nên lên tiếng tán thành! Thời gian nặng nề trôi qua theo làn gió nhẹ của cây hương trên bàn giám đài. Nó vừa cháy đến vạch một khắc thì Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan lạnh lùng nói :

- Mong ban giám đài giữ đạo công bằng cho! Nếu không, Cốc mỗ chẳng để yên đâu!

Vô Ưu Cái rầu rĩ rời bàn, đi ra giữa đài, chuẩn bị tuyên cáo. Nào ngờ, từ phía ngoài cổng trang vọng vào tiếng quát trầm hùng :

- Khoan đã!

Hầu bang chủ thở phào, mặt tươi tỉnh hẳn lên. Nhương Thư và Ngọc Trâm vào đến nơi, y phục rách rưới và ẩm ướt, khiến mọi người ngỡ ngàng.

Có kẻ nói đùa :

- Chắc đôi uyên ương này mải mê quần thảo với nhau nên quên cả giờ giấc!

Cử tọa phát lên cường hô hố, khiến Ngọc Trâm đỏ mặt ngượng ngùng. Họ đã nói đúng một phần sự thật nên nàng không thể cãi! Nếu hai người không ôm ấp nhau dưới suối thì đâu đến nỗi trễ!

Nhương Thư phi thân lên đài, vòng tay nghiêm giọng :

- Kính cáo ban giám đài và chư vị đồng đạo! Tại hạ gặp mai phục ở cánh rừng Hoàng Đàn nên mới chậm chân!

Toàn trường sửng sốt ồ lên phẫn nộ khi Nhương Thư cởi áo để lộ vết thương dài sau lưng.

Một tay có lòng thương hương tiếc ngọc nào đó đã tỏ dạ quan tâm :

- Tần công tử mà còn thọ thương thì chắc Điền tiểu thư khó toàn vẹn.

Ai đó mừng rỡ thét lên :

- Ta thấy rồi! Quần của nàng bị rách ở mông!

Hổ Hồng Nhan vội quấn chặt áo choàng, ngồi gục đầu xuống bàn, chẳng dám ngẩn lên, chết lịm vì tiếng cười diễu cợt của mấy ngàn gã nam nhân khả ố!

Vô Ưu Cái ra hiệu cho họ im rồi hỏi :

- Tần công tử có nhận ra lai lịch của họ hay không?

Nhương Thư gật đầu, chậm rãi đáp, nhấn mạnh từng chữ :

- Huyết... Tâm.. giáo...!

Bọn thanh niên không biết nhưng đám võ sĩ già đều tái mặt, xầm xì bàn tán.

Ngọc Trâm giật mình ngẩng lên vì nghe giọng thánh thót ngọt ngào của Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc :

- Công tử có chắc không? Và vì sao họ lại chặn đường chàng?

Đây cũng là thắc mắc chung nên toàn trường im lặng lắng nghe. Nhương Thư điềm đạm đáp :- Huyết Tâm kiếm pháp phát ra tà âm công phá não bộ đối phương qua đường thính giác, đặc điểm này thì ai cũng biết! Còn về lý do khiến họ muốn giết tại hạ chính là vì chức danh quyền Minh chủ võ lâm!

Chàng không thể chỉ mặt tố cáo Lã Tập Hiền vì nhân chứng duy nhất là Hoàng Nghi Tuyệt đã bỏ đi. Gã bị hại bởi ma âm mà không biết đấy là sở học của Huyết Tâm giáo. Nếu gã có mặt, tất sẽ làm chứng rằng Lã Tập Hiền đã đả bại mình bằng một thứ âm thanh quái dị.

Song như thế cũng đủ để quần hùng nghi ngờ họ Lã và hai ứng cử viên còn lại là Quảng Đông Thần Đao và Võ Di sơn chủ!

Lã Tập Hiền phá lên cười khanh khách :

- Ngươi quả là khéo ngậm máu phun người! Huyết Tâm Đế Quân đã chết và biệt tích gần ba mươi năm, làm gì còn nữa?

Nhương Thư không phải là người giỏi khẩu chiến liền im tiếng, quay sang vái Quảng Đông Thần Đao :

- Tại hạ đã khiến Cốc đại hiệp phải chờ lâu, thật đắc tội!

Họ Cốc tươi cười hỏi :

- Tần thiếu hiệp đã thọ thương, liệu có giao đấu được không?

Nhương Thư gật đầu, rút kiếm chào rồi thủ thế. Cốc Hậu Nhan cũng rút bảo đao chờ đợi, vì đối phương được quyền xuất chiêu trước.

Không thù, không oán, Nhương Thư chậm rãi lướt đến tấn công, bằng một chiêu rất ôn hòa. Họ Cốc giải phá dễ dàng, đáp lễ bằng những đường đao đơn giản, dường như muốn thăm dò sở học của đối phương.

Lát sau, vết thương nơi lưng Nhương Thư bật máu khiến chàng phải dấy nhanh tốc dộ trận đánh, kết liễu sớm để còn băng lại.

Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan đang ở tuổi tứ thập, tướng mạo mập mạp, mặt phúng phính phúc hậu. Gã mở trường dạy võ ở Các Châu, đệ tử đông đến gần ngàn, tính tình hào sảng được xem là bậc hiệp sĩ.

Do vậy, Nhương Thư không có ý định máu lan nhanh. Dĩ nhiên, chân khí chàng giảm sút mau chóng, đường gươm mất uy lực, lúc này Cốc Hậu Nhan bắt đầu phản công quyết liệt, giáng những đòn như sấm sét. Nụ cười vẫn nở trên môi, song ánh mắt gã thấp thoáng những tia ác độc.

Nhương Thư thức ngộ rằng mình đã trúng độc của Quảng Đông Thần Đao, một kẻ Phật diện xà tâm! Chàng cố nén phẫn nộ, đứng im vận khí trục độc, điều khiển trường kiếm bằng sức mạnh của cơ bắp.

Nhiên Đăng tâm pháp mầu nhiệm ở chỗ có thể điều tức bằng mọi tư thế, dù đứng, nằm hay đang bước.

Quần hào kinh ngạc khi thấy cục diện trận đấu đã hoàn toàn đảo ngược. Giờ đây, Nhương Thư yếu ớt như cây liễu ngả nghiêng trước gió, di chuyển những bước thật ngắn, cố chống chọi với cơn bão thép của đối phương.

Nhưng cũng chính lúc này mới thấy được hết trình độ kiếm thuật siêu phàm của Nhương Thư. Đường kiếm của chàng không nhanh, không mạnh nhưng cực kỳ chuẩn xác, mỗi nhát kiếm đều nhắm đúng sơ hở trong nước đao, khiến họ Cốc khiếp vía phải bỏ lỡ chiêu công mà chống đỡ.

Kỳ diệu ở chỗ là kiếm của chàng chẳng hề chạm vào đao, nếu không đã bị đánh văng ra.

Tuy nhiên, Nhương Thư cũng chẳng phải là hoàn toàn lành lặn. Lưỡi đao của họ Cốc đã rạch mười mấy đường trên vai, ngực bụng, đùi Nhương Thư, dẫu chỉ rách da nhưng cũng đủ khiến chàng tả tơi, thê thảm, y phục đứt nát.

Ngọc Trâm đau lòng khóc ngất và gọi vang :

- Đại ca chịu thua đi!

Quần hùng và các Chưởng môn ngơ ngác, không hiểu điều gì đang xảy ra. Khi cây nhang cháy gần đến giới hạn hai khắc thì Vô Ưu Cái mới thức ngộ được ẩn tình, thất thanh :

- Nhương Thư trúng độc!

Khánh Hỉ đại sư liền vận thần công “Sư Tử Hống” quát vang như sấm :

- Dừng tay!

Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan còn kém xa Hạt Nhãn Thần Ma nên giật bắn mình, tay chân bủn rủn. Đúng lúc này, Nhương Thư ập đến xuất chiêu “Tu La Hiến Bảo”, mũi kiếm hóa thành chín đốm sáng, rực rỡ như châu ngọc.

Họ Cốc cố gượng lùi lại và cử đao đỡ gạt nhưng không còn kịp nữa. Gã rú lên thê thiết, buông đao ôm ngực, lảo đảo quy xuống.

Nhương Thư cũng buông gươm ngồi xuống sàn lôi đài, xếp bằng trục nốt dư độc. Dầu sao thì ngồi kiết già vẫn hơn.

Phổ Chứng thiền sư, Chưởng môn phái Nga Mi, vội rời bàn, bước đến ngồi xuống sau lưng chàng, truyền công hỗ trợ. Người thân của Nhương Thư đã nhảy lên vây quanh, gồm Ngọc Trâm, Tào Ưng, Thúy Sơn và... Bạch Ngọc Tiên Tử.

Vô Ưu Cái thì cùng ba vị Chưởng môn kia đến cạnh xác Cốc Hậu Nham khám xét Quảng Đông Thần Đao không mang mặt nạ nhưng trong chùm tơ xanh ở chuôi đao lại có giấu một túi the nhỏ chứa chất độc, còn trong thắt lưng lại giấu mảnh ngọc bội hình trái tim bằng mã não đỏ, trên khắc bốn chữ: Nam đường Đường chủ!

Vô Ưu Cái thở dài nói nhỏ :

- Có thể là Huyết Tâm giáo và Tứ Phạn Thiên cung đã liên kết với nhau! Dã tâm của Lã Tập Hiền thật đáng sợ!

Nhưng không có cách gì để chứng minh, bốn vị Chưởng môn đành trở về bàn giám đài để thương lượng, tính toán.

Ba khác sau Nhương Thư mới thoát hiểm hoàn toàn. Chàng nghiêng mình vái tạ Phổ Chứng thiền sư :

- Đệ từ đội ơn thiền sư đã ra tay tế độ!

Phổ Chứng cười hiền :

- Sao lại xưng hô như thế? Ngươi phải gọi ta là sư huynh mới đúng chứ!

Nga Mi, Thiếu Lâm, Phật Quang đều là chùa thiền tông, có quan hệ rất mật thiết, thường qua lại thăm hỏi và bàn luận bàn luận kinh điển. Nhương Thư là sư đệ của trụ trì chùa Phật Quang, vì Phật Đăng Thượng Nhân là sư thúc của Chân Không đại sư! Mà Phổ Chứng thì ngang hàng với Chân Không, ở vai sư huynh của Nhương Thư là phải.

Nhương Thư mỉm cười :

- Phật huynh để râu dài bạc trắng nên tiểu đệ ngượng miệng.

Quần hùng chưa rõ sự việc nên nhao nhao hỏi han :

- Tần công tử! Phải chăng lão họ Cốc kia đã phóng độc?

Nhương Thư quay xuống, vòng tay đáp :

- Thưa phải! Lão ta dùng chất độc đặc biệt, ngửi thì không sao nhưng gặp vết thương là theo máu mà xâm nhập.

Trong cử tọa cũng có người trí giả, người này đưa ra cao luận :

- Lão phu cho rằng đây là bước tiếp theo của trận mai phục mà công tử đã gặp! Đối phương không hy vọng giết được công tử, chỉ mong cầm chân, hoặc gây thương tích để Quảng Đông Thần Đao hoàn tất âm mưu!

Mọi người rất khâm phục suy luận ấy, và có kẻ đã nhận ra lai lịch bậc cao nhân, mừng rỡ gọi vang :

- Bất Trí thư sinh!

Tuy mang danh Bất Trí nhưng Cao Trường Toản lại là người thông minh tuyệt thế, kình địch số một của Ngọa Long Tú Sĩ.

Họ Cao năm mươi lăm tuổi, trước giờ ẩn cư ở núi Tử Kim, đất Tứ Xuyên. Lão mang tướng ngũ bộ, xấu xí, thô kệch, dung mạo kém xa Ngọa Long Tú Sĩ, nhưng tài cán thì chưa biết ai hơn ai?

Bất Trí thư sinh tinh thông tam giáo, mặc áo học trò nhưng thông hiểu cả Đạo Tạng lẫn kinh điển nhà Phật. Lão thường đến những chùa lớn, cùng các bậc cao tăng đàm đạo về Phật pháp, biểu lộ một trí tuệ siêu phàm, khiến ai cũng phải kính phục.

Cao Trường Toản cũng tìm đến các phái đạo giáo như Võ Đang, Hoa Sơn, Thiên Sư, Toàn Chân.. mà học hỏi tư tưởng Lão Trang. Thực ra, họ Cao còn giỏi hơn bọn đạo sĩ, làm họ kinh ngạc, lắc đầu Cao Trường Toản còn là bạn vong niên của Bang chủ Cái bang, xưng hô là huynh đệ mà kính nhau như bằng hữu! Nay họ Cao đột nhiên xuất hiện chốn này, Hầu Mộ Thiên mừng rỡ gọi :

- Cao hiền đệ! Ngươi mau lên đây ngồi với bọn ta!

Bốn Chưởng môn kia cũng mời mọc nên Bất Trí thư sinh đành tuân mệnh.

Trong lúc ấy, bọn gia nhân Lã gia trang dọn dẹp lôi đài, mang xác Quảng Đông Thần Đao ra phía sau. Phần Nhương Thư thì được đưa vào chỗ kín đáo để chăm sóc vết thương.

Thiết Kình Ngư Tào Ưng cau mày bảo :

- Điền tiểu thư hãy tránh mặt để ta và Thúy Sơn làm được rồi! Nàng là gái ở đây không tiện.

Chẳng lẽ khai ra rằng mình và Nhương Thư đã từng lõa thể ôm ấp nhau, Ngọc Trâm đành bỏ di.

Bạch Thúy Sơn cứ đứng im như phỗng khiến Tào Ưng bực bội nạt :

- Sao không phụ ta cởi y phục của công tử?

Thúy Sơn vội bước đến, dùng kiếm cắt quần, gỡ những mảnh vải tang thương ra khỏi các vết thương.

Lát sau, cơ thể của Nhương Thư chẳng còn chút gì che đậy, lồ lộ trước ánh mắt ngượng ngùng của Vạn Lý Thần Điêu. Gã đỏ mặt, hổ thẹn đến nỗi run tay. Tào Ưng phì cười :

- Nam nhân với nhau có gì mà ngươi phải xấu hổ! Sẽ có ngày đến lượt ngươi phải thọ thương thì cơ thể cũng phơi ra thôi.

Họ Tào xách vò rượu năm cân lấy từ bàn tiệc, mở nắp rồi nói tiếp :

- Ta sẽ rưới rượu lên thương tích, còn ngươi dùng vải sạch lau hết máu me đi.

Thúy Sơn líu ríu tuân lệnh, nhưng run như cầy sấy. Gã cắn răng lau chùi huyết tích, không dám nhìn vào dương v*t của Nhương Thư.

Tào Ưng còn cười khà khà, tấm tắc khen :

- Tần công tử có thân hình rắn chắc và thần thương thật dễ nề! Ai mà làm vợ công tử thì phúc bảy mươi đời!

Nhương Thư cũng hơi ngượng ngùng nhưng không để lộ ra. Chàng chỉ cười đáp :

- Ai mà chả thế, chúng ta là võ sĩ mà!

Tào Ưng bác ngay :

- Không phải! Như gã họ Bạch này tuy là đệ tử danh gia, có đến ba mươi năm công lực mà thân hình gầy ốm, mảnh khảnh, cơ bắp nhỏ xíu, có gì đẹp đâu.

Bạch Thúy Sơn lí nhí biện bạch :

- Ta ghét vẻ vai u thịt bắp nên không luyện ngoại công.

Tào Ưng mỉa mai :

- Ngươi lười biếng thì có! Sau này khi lâm vào hoàn cảnh tương tự như Tần công tử, làm sao có đủ sức cầm vững kiếm mà chống chọi.

Thúy Sơn lặng im không dám cãi, chăm chú làm việc! Thấy các vết thương phía trên đã sạch máu và rượu bẩn còn dính đầy hạ thể của Nhương Thư, Tào Ưng nói :

- Giờ rửa đến phần dưới!

Thúy Sơn run bắn người, ấp úng :

- Ta không làm được đâu!

Nhương Thư cũng thấy kỳ :

- Để ta tự rửa cũng được!

Tào Ưng liền trao vò rượu cho Thúy Sơn :

- Ngươi hãy đổ rượu để công tử rửa! Ta đi tìm Chưởng môn phái Hoa Sơn xin thuốc kim sang! Sinh nhục tán của họ tốt nhất võ lâm!

Thúy Sơn máy móc đưa tay nhận lấy vò rượu, ngẩn ngơ như người trong mộng, nhìn theo bước chân của họ Tào.

Luật âm dương chi phối vạn vật, trong dương có âm và ngược lại. Do vậy, một số nam nhân lại giàu nữ tính, không đến mức đồng tình luyến ái nhưng rất hay xấu hổ trước người cùng phái.

Nhương Thư hiểu điều ấy nên an ủi Thúy Sơn :

- Bạch hiền đệ chớ quá mềm yếu như thế! Đã dấn thân vào giang hồ là phải cứng cỏi, dầy dạn. Người không bỏ được tính cả thẹn thì sẽ mất dần tính nam nhi đấy! Chúng ta là huynh đệ chứ đâu phải xa lạ.

Thúy Sơn thở dài, hít một hơi lấy dũng khí, nâng và đổ rượu vào chỗ kín của Nhương Thư. Họ Bạch cúi gầm mặt nên chàng không thể nhìn thấy ánh mắt kỳ quái của gã.

Tào người đã trở lại, hớn hở vì xin được thuốc quý. Gã cẩn trọng rắc loại thuốc bột màu xám kia lên thương tích của Nhương Thư.

Chư vị độc giả đọc truyện võ hiệp sẽ thường thấy nhắc đến linh đan trị nội thương và thuốc kim sang dùng ngoài da của bọn khách giang hồ. Thực ra, loại này đều có chung một dược vị chính, đó là sâm tam thất!

Tam thất cùng họ với ngũ gia bì, là loài thân thảo, sống nhiều năm, tác dụng dược lý của nó và nhân sâm không hoàn toàn giống nhau, nhưng hình thái thì tương tự, nên gọi là sâm tam thất.

Tam thất có thân rễ thịt bò ngang, đầu thân có lá hẹp hình bàn tay xòe mọc rộng, mùa hạ ra hoa nhỏ màu vàng lục nhạt.

Loài dược thảo quý này mọc ở Vân Nam, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Tây Tạng của Trung Hoa, và có cả ở việt Nam và miền Bắc Ấn Độ!

Tam thất rút ngắn thời gian đông máu, tăng thêm tiểu cầu, làm liền vết thương, giảm đau, tan chỗ bầm sưng nên trở thành thuốc kim sang.

Ngoài ra, bột tam thất còn có tác dụng làm tan hòa khối trong máu, chủ trị té ngã, dập thương và các chứng xuất huyết nội. Người té ngã từ trên cao xuống, cả người bầm tím, sưng vù đau đớn, hoặc bị đánh hộc máu tươi, dùng bột tam thất mà trong uống ngoài thoa là thoát hiểm.

Tóm lại, người học võ đã dùng bột tam thất làm dược vị chủ yếu trong thuốc trị nội, ngoại thương. Tùy theo trình độ y thuật của từng phái, người ta thêm vào một ít những dược vị khác để làm tăng công dụng.

Sinh Nhục tán của Hoa Sơn cũng bào chế bằng bột tam thất, song nhờ phối hợp chung trong một toa bí truyền, nên diệu dụng như thần, nổi tiếng võ lâm.

Nhương Thư khoan khoái nghe vết thương mát rượi và chẳng còn đau đớn, và Thúy Sơn dùng những dải vải sạch quấn chặt thân thể chàng, Nhương Thư hỏi :

- Trận so tài giữa Lã Tập Hiền và Võ Di sơn chủ sao rồi?

Tào Ưng đáp :

- Lúc Tào mỗ vào đến thì họ vừa nhập cuộc!

Nhương Thư lộ vẻ lo lắng :

- Tội nghiệp cho Võ Di sơn chủ, ta sợ rằng ông ta không thoát khỏi độc thủ của họ Lã! Tập Hiền nhất định sẽ giết lão để diệt khẩu, để che giấu việc thi triển ma âm.

Quả đúng như chàng dự đoán, tiếng thét lìa đời thảm khốc của Từ Bạch Âu đã vọng đến, ngay lúc Nhương Thư vừa mặc xong y phục. Chàng đã phải mượn áo quần của Thiết Kình Ngư.

Ba người rời khỏi vườn hoa, phi thân trở lại khu lôi đài, đau lòng nhận ra Võ Di sơn chủ đã toi mạng. Nhương Thư phẫn nộ nhảy lên lôi đài, nhận ra đôi mắt họ Từ trợn trừng, đầy vẻ oan khuất.

Chàng vuốt mắt cho lão rồi thầm khấn :

- Tại hạ thề sẽ báo thù cho lão bá!

Chàng đứng lên, chỉ vào mặt Lã Tập Hiền và mắng :

- Quân cẩu tặc! Lão lấy được Huyết Tâm lệnh kỳ, luyện thành Huyết Tâm kiếm pháp, âm mưu đoạt ngôi Minh chủ, dùng tàn dư Huyết Tâm giáo để thống trị võ lâm! Âm mưu ấy đã bị lộ rồi, khôn hồn thì bẻ kiếm qui ẩn đi, ta không để lão đắc ý đâu!

Tuy không có bằng chứng song cũng đủ để lòng người chấn động, nghi ngờ và chán ghét Lã Tập Hiền. Vả lại, họ đâu có mù mà không thấy việc Võ Di sơn chủ đột nhiên xuống sức trong lúc giữ thế quân bình?

Toàn trường xôn xao, nói lên nhận xét của mình. Riêng Bạch Ngọc Tiên Tử thì phản ứng rất gay gắt. Nàng nhảy lên lôi đài, vòng tay nói :

- Kính cáo võ lâm! Kể từ nay Lâm Đại Ngọc không còn là người của Chính Khí trang nữa!

Quần hùng liền vỗ tay hoan hô sự thức tỉnh của nàng. Lã Tập Hiền giận run, không ngờ sự có mặt của Nhương Thư lại khiến cơ đồ của lão sắp tan tành. Khi chuẩn bị khởi nghiệp, lão không hề tính đến gã đồ đệ của Phật Đăng Thượng Nhân!

Lã Tập Hiền chưa kịp quạt lại Nhương Thư thì Vô Ưu Cái đã đứng lên, lạnh lùng tuyên bố :

- Hội đồng võ lâm cảm thấy rằng cái chết của Võ Di sơn chủ có điều khuất tất. Vì vậy hội đồng quyết định giải tán đại hội và sẽ tiến hành điều tra! Nếu quả thực Lã trang chủ có tội đúng như lời tố cáo của Tần Nhương Thư thì vụ việc sẽ được đưa ra công đường phủ Hà Bắc!

Cử tọa đồng thanh tán thành nên Lã Tập Hiền cứng họng. Lão trút hận lên đầu Nhương Thư, gằn giọng bảo :

- Ngươi vu oan giá họa, làm nhục lão phu và tông môn họ Lã. Thù này không thể bỏ qua, lão phu chính thức hẹn ngươi tử đấu vào đúng giờ Tỵ ngày đầu tháng hai tại đỉnh Sáp Vân, gần Nam Dương!

Quần hùng có dịp la hét, đốc thúc Nhương Thư nhận lời! Chàng điềm tĩnh gật đầu :

- Được! Tại hạ cũng đang muốn diệt trừ tai họa cho võ lâm!

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau