TẦN NHƯỢNG THƯ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Tần nhượng thư - Chương 11 - Chương 15

Chương 11: Huyết lưu Tây Nhạc Ma vương tẩu - Hả dạ Thần Long đáo cửu tuyền

Sau khi xây xong mộ cho Tử Chính, bọn Nhương Thư rời Lâm Đồng, đến thành Đồng Quan. Ngay trưa hôm sau, tức ngày mồng bốn tháng ba, bọn tiểu cái đến báo tin rằng đã phát hiện nhiều toán kỵ mã đi qua Đồng Quan, tiến về hướng huyện Hoa Lâm.

Biết tà ma đang trên đường chinh phạt phái Hoa Sơn, Vô Ưu Cái lập tức ra lệnh khởi hành.

Cả đoàn cải trang cẩn thận, bám theo đối phương nhưng cách xa đến vài dặm. Dường như Tứ Phạn Thiên cung đã ấn định ngày giờ tấn công thích hợp nên cước trình chẳng hề vội vã. Họ giả làm lái buôn, từng tốp nhỏ xâm nhập huyện thành Hoa Âm, phân tán ra mà tìm chỗ trọ.

Phe Nhương Thư thì đi thẳng lên núi Hoa Sơn để báo hung tin và bàn cách cự địch.

Hoa Sơn được nhắc đến rất nhiều trong truyện võ hiệp, phái Hoa Sơn đã nổi tiếng với những nhân vật như Lệnh Hồ Xung, Nhạc Linh San, Quân Tử Kiếm Nhạc Bất Quần... nay tác giả xin mạn phép miêu tả sơ địa thế Hoa Sơn để chư vị độc giả thưởng lãm.

Hoa Sơn được phong làm Tây Nhạc trong Ngũ Nhạc của Trung Hoa, nằm ở huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây, Bắc giáp sông Vị, phía Nam là rặng Tần Lĩnh.

Hoa Sơn có đến năm đỉnh, một ở giữa và bốn đỉnh còn lại vây quanh tựa một đóa hoa. Đỉnh trung tâm có tên Ngọc Nữ, do truyền thuyết kể rằng con gái Tần Mục Công là Ngọc Nữ đã rời bỏ Hoàng cung, đến nơi này ẩn tu. Chính vì vậy mà ở đây có nhiều danh thắng mang tên Ngọc Nữ như: Đền Ngọc Nữ, bồn gội đầu của Ngọc Nữ, Ngọc Truyền Viện.... v.v...

Đỉnh phía Bắc tên gọi Vân Đài, chắc là do luôn bị mây bao phủ. Đỉnh phía Tây có cung Thúy Vân, trước cửa cung có tảng đá lớn hình dạng giống đóa sen, nên đỉnh Tây còn có tên là đỉnh Liên Hoa.

Trên đỉnh Đông có đài Triều Âm,nơi du khách có thể quan sát bốn phía Hoa Sơn, vì thế Triều Âm trở thành tên của đỉnh núi này.

Ngọn cao nhất của rặng Hoa Sơn chính là đỉnh nam, độ khoảng sáu trăm năm mươi ba trượng, bốn phía có rừng tùng bao phủ.

Hoa Sơn đẹp nhờ thế núi kỳ tú, và cũng nhờ hàng trăm công trình kiến trúc phong phú, gồm đình, chùa, lâu các, miếu mạo. Nổi tiếng nhất là những thắng cảnh đã kể trên, cùng vài nơi khác nhưu Miếu Tây Nhạc, trấn Nhạc Quan, Thiếu Hoa Sơn, và đoạn trường thành đời nhà Ngụy.

Thế thì căn cứ của Hoa Sơn Kiếm phái nằm ở ngọn nào? Xin thưa rằng do đường đi đến Hoa Sơn cực kỳ hiểm trở, chỉ có một lối đi duy nhất ở hướng Nam, nên Đạo cung của phái Hoa Sơn bắt buộc phải nằm ở sườn Nam của đỉnh Nam. Hoa Sơn phái trước hết là một cơ sở đạo giáo, phát nguyên từ Toàn Chân giáo ở Hoa Bắc. Tổ sư phái Hoa Sơn là một nhân vật có thực, tên gọi Hách Đại Thông.

Họ Hách lại là đệ tử của tổ sư phái Toàn Chân Vương Trùng Dương, nhân vật chính trong tác phẩm Võ Lâm Ngũ Bá.

Sau khi sư phụ thăng thiên, Hách Đại Thông về núi Hoa Sơn lập Đạo cung, quáng bá giáo nghĩa Toàn Chân. Truyền đạo thì cần đông tín đồ, nên Thuần Dương đạo cung phải tọa lạc ở nơi bách tính dễ lui tới. Nếu nằm quá cao, quá xa thì các đạo sĩ Hoa Sơn chỉ có nước chết đói vì chẳng được lê thứ cúng dường.

Khác với Nhạc Bất Quần, Chưởng môn phái Hoa Sơn, Ngọc Tâm Tử là một đạo sĩ thứ thiệt, suốt đời chay tịnh và không có vợ con.

Ông mừng rỡ đón chào bọn Vô Ưu Cái, mời vào khánh xá ở mé tả Thuần Dương đạo cung. Cái tên này xuất phát từ việc Vương Trùng Dương nhận mình là đệ tử của Lã Thuần Dương đời nhà Đường. Thực ra Toàn Chân và Hoa Sơn đều thờ Chân Võ Đế Quân. Nghe Vô Ưu Cái báo tin dữ, Ngọc Tâm Tử buồn rầu nói :

- Bần đạo vốn dốt đặc về binh pháp, phiền Cao thí chủ chủ trì dùm cục diện.

Bất Trí thư sinh nói vài câu khiêm tốn rồi đưa ra ngay một kế hoạch ứng phó vô cùng tuyệt diệu.

Ngọc Tâm Tử triệu tập môn đồ để Cao thư sinh phân phó nhiệm vụ. Tuy phái Hoa Sơn đông đến ba trăm, trong khi đối phương chỉ độ hai trăm, song các đạo sĩ đều không có kinh nghiệm giao đấu, thua xa bọn sát thủ Thiên cung, đấy là chưa kể đến chất độc Vô Hình.

May thay bọn Vô Ưu Cái đã xuất hiện, mang theo cả phương pháp đối phó với kỳ độc. Đến xẩm tối thì ai cũng được trang bị khăn phòng độc khí, sẵn sàng diệt địch. Nhưng không phải là chờ kẻ thù đến tận nhà mà là mai phục ngay đoạn đường hiểm yếu dưới chân núi.

Như đã nói ở trên, chỉ có một con đường duy nhất dẫn vào các ngọn núi của Hoa Sơn. Đường độc đạo này trước tiên đi ngang qua đỉnh Nam, trổ nhánh rẽ phải, con đường nhánh này dành cho những khách thập phương đến cúng bái ở Thuần Dương đạo cung của phái Hoa Sơn.

Đoạn đường dài năm dặm ấy xuyên qua rừng tùng rậm rạp, rộng mười hai bước chân, xe ngựa có thể đi được nhưng hơi chậm vì lên dốc.

Mấy đời đệ tử Hoa Sơn đã phải đổ biết bao mồ hôi để khai phá con đường này. Do địa hình sơn cước, cao dần về hướng núi nên họ đã phải đào đắp, san lấp những đoạn gồ ghề, những dốc đá dựng đứng, để có được một con đường bằng phẳng, thoai thoải hiện nay.

Đất đá dư ra trong quá trình làm đường, được đổ đầy hai bên lộ, tựa như đê vậy. Trên hai dãy đê lổn nhổn này, cỏ dại, bụi rậm mọc đầy, trở thành chỗ bố trí phục binh rất lý tưởng, trong con mắt tinh tường của một kẻ đầy bụng lục thao, tam lược như Bất Trí thư sinh.

Đầu canh một, trinh sát Cái bang ở huyện thành Hoa Âm đến cấp báo rằng phe đối phương đã rời chỗ trọ. Lực lượng Hoa Sơn lập tức chiếm lĩnh vị trí đã định, lặng lẽ đợi chờ.

Giữa canh hai, một đoàn quân Hắc y đông đảo tiến về Đường mòn, lướt đi rất nhanh với bước chân êm ái của những kẻ có thân pháp cao cường.

Tưởng mình ở thế bất ngờ nên Tứ Phạn Thiên cung rất an tâm, nhất là hai gã tiền trạm dọ đường không hề có tín hiệu báo nguy.

Rừng tùng hai bên đường đều có tuổi hơn trăm, lại gặp lúc xuân về nên xanh tốt, cành lá vươn ra gần giữa lộ, che kín cả ánh sao khuya. Và trong khung cảnh tối tăm ấy, phe Hoa Sơn hoàn toàn chiếm lợi thế khi từ đích đê trút xuống trận mưa đá. Các đạo sĩ không biết thủ pháp phóng ám khí nhưng ném đá thì chẳng khó. Họ đứng trên cao, cật lực phang những hòn đá núi to hơn nắm tay vào hàng ngũ kẻ thù.

Đòn ám tập này thu được kết quả mỹ mãn, đả thương mấy chục gã Hắc Y, tiếng rên la, kêu cha gọi mẹ vang dậy đêm xuân.

Hai đầu đường đã bị chặn kín, bọn Thiên cung chỉ còn cách nhảy lên lũy đất hai bên lộ, đào tẩu bằng lối rừng tùng. Đương nhiên chúng bị các đạo sĩ chặn lại bằng đá và bằng trường kiếm.

Giờ đây, quân số Tứ Phạn Thiên cung chỉ còn lành lặn hơn trăm, bằng nửa phái Hoa Sơn, đúng như dự kiến của Bất Trí thư sinh. Bước kế tiếp là dùng số đông mà áp đảo kẻ thù, cứ hai đạo sĩ đánh với một gã Hắc y.

Đuốc nhựa thông được thắp sang rực, soi rõ đấu trường, cả trên lũy lẫn dưới lòng đường.

Bọn đầu não Thiên cung đã đánh thốc ngựa ra ngoài, mở đường máu cho thuộc hạ. Họ cũng bịt kín đầu nên chẳng thể nhận diện được. Tuy nhiên, dựa vào võ công có thể đoán ra sự có mặt của Độc Biển Thước. Tả Nho Quan phối hợp kiếm chưởng, tiến ra như vũ bão, theo sau là bốn đại cao thủ võ nghệ cao cường.

Thống lĩnh rút chặn hướng Nam chính là Ngọc Tâm Tử và hai sư đệ, cùng hai chục đạo sĩ Hoa Sơn. Độc Biển Thước bản lãnh vô song, chỉ một chưởng cách không đã đẩy lùi Ngọc Tâm Tử, còn kiếm thì quét văng hai cao thủ hàng chữ Ngọc của Hoa Sơn.

Họ Tả nhờ máu Huyết Hoa Lộc mà sở hữu đến trăm năm công lực, chưởng kình nặng như núi, có thể đả thương người từ khoảng cách trượng rưỡi, lợi hại gấp bội Lã Tập Hiền. Đấy là chưa nói đến việc lão tinh thông đủ bảy mươi hai chiêu Thần Quang chưởng pháp, đòn ra thần tốc và cực kỳ ảo diệu. Với tu vi ấy, Thần Quang Kiếm Pháp cũng không có đối thủ, dù còn kém Phật Đăng kiếm pháp một bậc. Nay Thượng nhân đã nhập Niết Bàn, Tả Nho Quan cho rằng mình là kẻ vô địch.

Sau khi đánh bại Chưởng môn phái Hoa Sơn và hai sư đệ. Độc Biển Thước hung hãn xông vào đám đạo sĩ, tưởng chỉ một,hai chiêu là quét sạch. Tiếc thay, bọn cừu non kia chẳng hề sợ hãi, ngang ngạnh xông lên tấn công.

Độc Biển Thước ngạo nghễ vỗ liền bốn chưởng theo hình nan quạt để đả thương những kẻ đi đầu. Không ngờ có ba đạo sĩ trung niên bốc lên không trung như chiếc pháp thăng thiên, rồi bủa lưới thép xuống đầu họ Tả, và người thứ tư thì xông thẳng đến.

Kiếm phong, đao kình rít lên veo véo. Chứng tỏ công lực của bốn tay đạo sĩ kia chẳng hề non kém.

Độc Biển Thước không chút bối rối, tả thủ đẩy liền chín chưởng như vũ bão, đánh bật ba gã trên cao, rồi lướt đến cử kiếm tiếp gã trước mặt. tên đạo sĩ này có vẻ chẳng đáng sợ, bước chân nặng nề dậm thình thịch trên mặt đường. Song khi còn cách nhau hơn trượng, gã ta đột ngột lao vút đến như tên bắn, trừơng kiếm xé không gian, kiếm kình cuồn cuộn như thác lũ, kiếm ảnh lấp loáng phản chiếu ánh đuốc, hiện rõ mười tám ngọn lửa chập chờn.

Đã từng thảm bại dưới Phật Đăng kiếm pháp nên Tả Nho Quan nhận ra ngay chiêu “Nghiệp Chướng Nan Đào”, vội nghiến răng đánh chiêu “Tà Huy Tây Chiếu”, còn tả thủ vỗ một chưởng ngàn cân vào thượng bàn đối phương.

Độc Biển Thước rèn luyện hơn hai chục năm, đạt đến mức tinh tuý của tuyệt học Thần Quang, thủ pháp Kiếm Chưởng Hợp Bích rất cao siêu.

Gã đạo sĩ kia liều lĩnh nghiêng người, để đạo chưởng kình đánh phớt vào vai trái và vẫn tiếp tục ập vào. Khả năng chịu đòn của gã thật đáng khâm phục, nếu là người khác thì đã gẫy xương, dập phổi.

Hai luồng kiếm quang chạm nhau chỉ trong khoảnh khắc đã tắt lịm, và Tả Nho Quan rú lên kinh hoàng vì ngực, bụng thủng đến ba lỗ. Chưởng là sở trường của Thần Quang nhưng kiếm thuật lại là nghề của vị hòa thượng Ngũ Đài sơn nên họ Tả phải chịu thiệt thòi.

Độc Biển Thước công lực thông thần, chẳng vì ba vết thương ấy mà nhục chí, bốc lên cao giáng chưởng xuống đầu gã láo xược kia. Nhưng ba tên lúc nãy đã đề khí bay lên, liên thủ đánh lão ngay trên không trung. Lợi hại nhất là thanh bảo đao trắng tỏa khí lạnh căm căm.

Nhận ra Tuyết Hoa đao pháp của Đao Đế, Độc Biển Thước chột dạ, khi truyền nhân của hai người đứng đầu Vũ Nội tứ thần liên thủ thì rất đáng ngại. Nhất là lão đã thọ thương, đánh lâu sẽ kiệt lực vì mất máu.

Tả Nho Quan vung chưởng giáng vào lưới đao, mượn lực phản chiếu với vị trí cũ, hạ thân xuống đất, lập tức bị bốn cao thủ kia vây chặt.

Lúc này mới thấy hết được bản lãnh kinh thiên động địa của họ Tả. Lão thi triển một bộ pháp thần kỳ, lượn lờ giữa vòng vây, kiếm phong rít gió rợn người và chưởng kình liên tiếp đẩy ra như bão tố. Chưa đầy nửa khắc lão đã lần lượt đánh cho bốn đạo nhân kia rỉ máu miệng, và Độc Biển Thước đã nhận ra thêm hai pho kiếm của Vương Ốc lão nhân và Hồng Diện Tôn Giả.

Lão rất kinh ngạc vì Tần Nhương Thư và Bạch Thúy Sơn đã bỏ mạng dưới vực thẵm Sáp Vân Phong. Nhớ đến cái chết của Phân đàn chủ Lạc Dương là Trác Thiên Lộc, lão thức ngộ ngay rằng Nhương Thư còn sống. Phật Đăng Thượng Nhân chỉ có hai đồ đệ mà thôi.

Tả Nho Quan giận dữ gầm lên :

- Tần Nhương Thư! Ngươi phải thay lão trọc Phật Đăng trả nợ cho lão phu.

Chẳng có ai thèm đáp vì họ đang cố lợi dụng cơ hội tốt này để ập vào tấn công Độc Biển Thước.

Tả Nho Quan liền bốc cao hai trượng, nhanh tay tra kiếm vào vỏ bên hông, múa song chưởng giáng xuống. lão hiểu rằng kiếm thuật là sở trường của Nhương Thư nên chẳng dại gì tiếp tục dùng kiếm nữa.

Chiêu “Thái Dương Tán Sắc” gồm đến ba mươi sáu đạo chưởng phong, kình lực mãnh liệt phi thường, đánh bạt đao kiếm, đẩy văng cả bốn đối thủ ra xa.

Gã đạo sĩ nhỏ người chính là Thúy Sơn, còn gã to ngang là Thiết Kình Ngư Tào Ưng. Hai người này trúng đòn khá nặng nên phải rút ra ngoài điều tức để Nhương Thư và Nghi Tuyệt chống cự.

Có tiếng ai vọng đến :

- Tả Nho Quan! Lính của lão chết gần rồi đấy. Hãy bó tay qui hàng đi thôi.

Đúng là hai đánh một chẳng chột cũng què, phe Tứ Phạn Thiên cung thương vong rất nhiều, tình thế mỗi lú thêm nguy ngập.

Họ Tả cười nhạt :

- Để lão phu giết hai gã này mà gỡ vốn vậy.

Thế là lão múa tít song thủ, xuất những chiêu độc ác và mãnh liệt khiến hai gã Tần, Hoàng phải tối tăm mặt mũi. Song Nhương Thư đã khiến họ Tả phải ngán ngẩm trước khả năng chịu đòn phi thường. Chàng liên tiếp hộc máu nhưng vẫn ôm kiếm lăn xả vào. Độc Biển Thước không dám để đối phương áp sát, đành dùng bộ pháp “Thần Quang Hoán Vị” mà né tránh.

Người vừa nói chính là Bất Trí thư sinh Cao Trường Toản. Lão đang đứng trên ngọn cây tùng gần đấy để bao quát trận địa. Họ Cao bỗng bảo :

- Hoàng lão đệ hãy lùi xa, để mình Nhương Thư đối phó.

Quyết định kỳ lạ này của lão đã khiến Nghi Tuyệt sửng sốt nhưng phải tuân theo.

Họ Hoàng bỏ trận địa nhảy lên lũy đất, đau lòng nhìn Nhương Thư cứ phải lùi mãi về hướng Nam, cách khá xa đấu trường chung.

Bất ngờ, trên ngọn tùng thứ hai, gần vị trí mới của Nhương Thư và Độc Biển Thước, phát ra tiếng ho khan. Họ Tần lập tức bay lên như pháo thăng thiên, rơi chếch phía sau con đê đất ở ven đường. Cùng lúc ấy, hai vật lạ từ ngọn Tùng chạm mảnh đất dưới chân Tả Nho Quan.

Hai tiếng nổ long trời phát ra gần như đồng thời, tưởng rằng đã phân thây họ Tả. Nhưng Độc Biển Thước xảo quyệt có thừa đã kịp rời chỗ. Tuy nhiên, sức ép của hỏa khí đã khiến lão phải hộc máu, và thân sau đau nhức vì hàng trăm mảnh đá vụn bắn vào. Lão kinh hoàng chạy thẳng, chẳng dám quay đầu lại.

Đám cao thủ chủ chốt của Thiên cung đang giao đấu với các đạo sĩ già của phái Hoa Sơn, cũng vội nối gót Tả Nho Quan.

Bọn đệ tử Thiên cung không đủ bản lãnh thoát đi, đành ở lại chịu chết. Ba ả họ Điền được sự bảo vệ của Tô Châu ngũ tặc nên yên tâm tả xung hữu đột, lập được nhiều chiến tích.

Ngọc Tâm Tử bất nhẫn lên tiếng kêu gọi bọn sát thủ Thiên cung qui hàng, song chẳng tên nào đáp ứng, chiến đấu mãi đến giọt máu cuối cùng.

Chiều mười ba, bọn Nhương Thư có mặt ở Đồng Quan. Tối hôm ấy, Nhương Thư sang phòng Vô Ưu Cái, gặp cả Bất Trí thư sinh và Dạ Quân Tử ở đấy. Ba lão nhân này đang bàn bạc kế hoạch đối phó với Độc Biển Thước.

Vô Ưu Cái nghiêm giọng bảo chàng :

- Tần hiền đệ! Lão phu biết mấy hôm nay ngươi rất ưu phiền vì bản lãnh kém xa Tả Nho Quan, nhưng đấy là lẽ thường tình vì chu vi quá chênh lệch.

- Thực ra, ngươi chính là kình địch số một của họ Tả, bởi lão không thể nào giết được ngươi. Trận vừa rồi đã chứng minh việc ấy. Bọn lão phu sẽ tạo cơ hội để hiền đệ ra tay bất ngờ, tất sẽ tiêu diệt được Độc Biển Thước.

Nhương Thư lắc đầu gượng cười :

- Tiểu đệ không trẻ con đến mức tự ái về điều đó, chẳng qua trong lòng lo lắng cho Bạch Ngọc Tiên Tử đấy thôi.

Ba người kia nhìn nhau với ánh mắt kỳ lạ, khiến Nhương Thư chột dạ, Vô Ưu Cái thở dài :

- Hiền đệ hãy cố trấn tĩnh nghe lão phu nói đây. Thực ra, Lâm Đại Ngọc đã rơi vào tay Âm Sơn lão tổ Lương Dã Toàn, sư phụ của Thiểm Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi. Gã khốn kiếp họ Lạc đã đem người yêu cũ dâng cho sư phụ. Hai thầy trò gã đã đến Lã Lương sơn giết sạch Lâm gia trang, bắt sống Đại Ngọc. May thay, có một ả nữ tỳ chưa chết nên đã kể lại khi đệ tử bổn bang đến hỏi thăm.

Hung tin này như sét đánh ngang tai, khiến Nhương Thư chết điếng. Một hồi lâu mới mở miệng được :

- Nhưng người của Cái bang ở Âm Sơn có biết Bạch Ngọc Tiên Tử sống chết thế nào không?

Hầu bang chủ ứa nước mắt đáp :

- Đại Ngọc bị bắt ngày mùng bốn tết, và đến gần cuối tháng giêng thì thi thể được phát hiện trong cánh rừng vắng ở ngoại thành Du Lâm. Đệ tử bổn bang đã chôn cất nàng tử tế.

Nhương Thư bình thản đến mức chẳng ai ngờ được, chỉ ánh mắt là rực rỡ nỗi đau đớn và thù hận. Chàng từ tốn hỏi :

- Phải chăng Âm Sơn lão tổ đang ở Du Sơn với Thiểm Bắc Thần Long?

Vô Ưu Cái gật đầu :

- Đúng vậy! Nghe nói lão quỷ già họ Lương ấy tình cờ tìm được một bụi thiên niên Tuyết Sâm trên đỉnh núi Âm Sơn băng giá, nên tóc đen trở lại, dục tính rất mạnh, phải về ở chốn phồn hoa mới có đủ nữ nhân để đáp ứng.

Bất Trí thư sinh tư lự :

- Âm Sơn lão tổ tuổi đã tám ba, nay ăn được kỳ trân công lực không dưới trăm năm. Lão ta mà có dã tâm bá chủ như Độc Biển Thước thì võ lâm cũng khốn đốn.

Và lão quay sang bảo Nhương Thư :

- Ta biết hiền đệ đã quyết đi Du Lâm để báo thù cho Bạch Ngọc Tiên Tử. Có đúng thế chăng?

Nhương Thư gật đầu, mắt sáng rực :

- Tiểu đệ dù không địch lại cũng có thể thừa cơ tập kích Lương lão quỷ. Khi tiểu đệ đã liều mạng thì trong võ lâm khó ai lành lặn.

Vô Ưu Cái quắc mắt mắng :

- Hồ đồ! Ngươi kế thừa sự nghiệp giáng ma của Phật Đăng Thượng Nhân, tính mạng thuộc về võ lâm, sao lại dám mở miệng nói đến việc liều chết? Đấy là chưa kể hạnh phúc của ba cô gái họ Điền, ngươi làm thế liệu có hợp đạo lý hay không?

Nhương Thư toát mồ hôi vái dài :

- Tiểu đệ đã hiểu đại nghĩa, cảm tạ Hầu lão ca đã dạy bảo.

Bất Trí thư sinh mỉm cười :

- Thực ra việc giết Âm Sơn lão tổ cũng không khó, chỉ cần hai trái Bạt Sơn Thần Lựu là đủ. Tuy nhiên, qua trường hợp thoát chết của Độc Biển Thước, chúng ta phải nghĩ đến việc Lương Dã Toàn cũng có thể sống sót. Một kẻ sở hữu trăm năm công lực thì mỗi cú nhảy xa đến hơn ba trượng, trong khi thần lực không nổ ngay khi chạm đất, mà lại phải sau khoảng thời gian vài cái chớp mắt. Âm Sơn lão tổ không chết tất sẽ vào Trung Nguyên, tìm Nhương Thư báo thù, không chừng sẽ liên thủ với Độc Biển Thước. Hậu quả thế nào thì ai cũng hiểu.

Nhương Thư nghe lão phân tích mà choáng váng, buồn rầu nói :

- Thế thì tiểu đệ phải làm sao?

Bất Trí thư sinh lắc đầu :

- Không phải thế! Ngươi và Bạch Thúy Sơn vẫn cứ đem Bạt Sơn Thần Lựu đi Du Lâm, tuỳ cơ ứng biến. Hai ngươi sẽ đóng vai vợ chồng mang lễ vật hậu hĩnh, xưng là người của Tứ Phạn Thiên cung đến cầu kiến lão Tổ. Nếu thấy không có thời cơ để sử dụng hỏa khí thì đánh lén một đòn rồi đào tẩu.

Họ Lương chết thì tốt, bằng không, lão ta sẽ tìm Độc Biển Thước hỏi tội.

- Chúng ta sẽ cung cấp tiền bạc và nhân lực để Âm Sơn lão tổ vững lòng tương sát với Tứ Phạn Thiên cung. Khi lão giết xong Tả Nho Quan, lão phu hứa sẽ có cách giao Lương Dã Toàn cho hiền đệ kết liễu.

Vô Ưu Cái và Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi hồ hởi dơ ngón cái khen ngợi diệu kế của họ Cao.

Nhương Thư biết mình và các bằng hữu không đủ sức tiêu diệt Độc Biển Thước, đành vì đại cục mà chấp nhận kế hoạch này của Bất Trí thư sinh.

Chàng khẳng khái đáp :

- Tiểu đệ xin tuân mệnh. Song vì sao lại phải bắt Thúy Sơn giả gái, đóng vai vợ chồng với Thư này?

Cao Trường Toản khề khà giải thích, ánh mắt đầy vẻ diễu cợt :

- Nếu ngươi và Nghi Tuyệt đi thì Lão tổ sẽ cảnh giác vì sát khí quá mạnh. Còn với một đôi nam thanh nữ tú thì sát khí của ngươi bị vẻ ôn nhu của Thúy Sơn che lấp, và chỉ mình y mới đủ bản lãnh khinh công để cùng ngươi đào tẩu.

- Biết y có làm nổi không đấy! Với cái dáng đi khệnh khạng, tay khuỳnh khuỳnh kia, làm sao giả gái được?
Ba lão nhân không còn kìm nổi, ôm bụng cười sặc sụa nhưng chẳng dám lớn tiếng. Thấy Nhương Thư ngơ ngáo, Vô Ưu Cái hổn hển nói :

- Ngươi đúng là một gã đại ngốc. Thúy Sơn vốn là gái giả trai đấy.

Nhương Thư giật bắn mình, thảng thốt biện bác :

- Thật thế sao! Nhưng tiểu đệ đã kiểm tra, thấy ngực y bằng phẳng, lại có cả dương v*t cồm cộm trong quần nữa.

Bất Trí Thư Sing nghiêm giọng :

- Trước đây lão phu cũng bị lừa, chỉ sau khi hai người từ đáy vực hồi sinh thì lão phu mới rõ trắng đen. Những con cá màu đen dưới vực thẳm Sáp Vân Phong là Hắc Dâm Ngư, có tác dụng bồi bổ chân nguyên rất kỳ diệu, nhưng đồng thời lại làm cho người hưởng thụ rơi vào trạng thái mê man, đòi hỏi nữ nhân để quân bình Âm Dương. Nếu đúng Thúy Sơn là trai thì ngươi đã chết hoặc trở thành điên loạn suốt đời rồi. Nàng ta yêu ngươi tha thiết nên mới nhảy xuống vực chết theo, nào ngờ lại cứu được ngươi bằng cách hy sinh thân xác.

Nhương Thư xấu hổ đến mức chỉ muốn chui xuống gầm bàn, và rất cảm kích trước mối chân tình của Thúy Sơn.

Cao lão hắng giọng nói tiếp :

- Lão phu đã xem lại y kinh hiểu rằng Thúy Sơn mang chứng Tiên Thiên Bất Túc ở Kinh Túc Thái Âm Tỳ, cơ thể thiếu những chất nội tiết dành cho nữ giới. Do vậy, ngực của nàng ta chẳng phát triển và kinh nguyệt cũng không. May thay trong quyển cổ thư này có một toa thuốc để điều trị, hãy cho nàng uống thuốc và giao hợp hằng ngày, sẽ thấy kết quả tốt.

Nhương Thư đỏ mặt tía tai, chỉ gật đầu chứ không dám mở miệng. Dạ Quân Tử bỗng lên tiếng :

- Tần hiền đệ mấy lần ăn được kỳ vật mà công lực chẳng tăng tiến bao nhiêu, kể cũng lạ thực.

Bất Trí thư sinh gật gù :

- Lão phu cũng thắc mắc mãi về điều ấy. Có lẽ do ba loại Quỷ Nấm, Thủy Xà Giác Huyết, và Hắc Dâm Ngư có dược tính đối kháng nên hiệu quả kém đi. Tuy nhiên, việc y thoát khỏi tử hạn ba năm, có được thân thể sắt thép và một công lực hơn bốn mươi năm cũng là quá diễm phúc rồi.

Vô Ưu Cái thở dài :

- Tiếc rằng bao nhiêu ấy cũng chưa đủ để đối phó với Độc Biển Thước hoặc Âm Sơn lão tổ.

Sáng hôm sau, đoàn người lên đường đi Lạc Dương. Khi đến Tổng đàn Cái bang được ba ngày thì Dạ Quân Tử mới làm xong chiếc mặt nạ mang dung mạo Cung chủ Tứ Phạn Thiên cung Âu Dương Lăng. Nhương Thư sẽ dùng thân phận của gã để bái kiến Âm Sơn lão tổ, thực hiện kế Di Họa Giang Đông.

Ba ả họ Điền không hề biết ẩn tình về Bạch Ngọc Tiên Tử, cứ ngỡ Nhương Thư ra đi vì việc công của võ lâm. Họ cũng không được tiết lộ thân phận nữ nhi của Bạch Thúy Sơn, chỉ trầm trồ khen lấy khen để rằng gã giả gái rất hợp, nhan sắc chẳng thua gì họ. Bộ ngực lép kẹp phải độn bông của Thúy Sơn đã làm cho ba nữ nhân chẳng chút nghi ngờ.

Mờ sáng ngày hai mươi hai tháng ba, Nhương Thư và Thúy Sơn rời Lạc Dương đi lên hướng Bắc, vượt sông Lạc Hà, đến chiều thì đã ở bờ Bắc Hoàng Hà.

Hai người vào trọ trong lữ điếm, chờ sáng hôm sau mới khởi hành. Đã đóng vai vợ chồng thì phải ở chung phòng, ngủ chung giường, Nhương Thư đã có cơ hội để thực hiện lời khuyên của Bất Trí thư sinh. Tuy đang đau khổ vì cái chết của Bạch Ngọc Tiên Tử, song chàng vẫn có nhiệm vụ với Thúy Sơn. Thế gian vốn vô thường, chúng sinh chìm đắm trong luân hồi, tử sinh chẳng thể tránh, nên kẻ thức giả an nhiên thụ mệnh, xem sống chết là một.

Đêm đến, Nhương Thư trao cho Thúy Sơn một viên dược hoàn màu xanh, nhỏ như hạt đậu :

- Hiền đệ uống đi!

Thúy Sơn mỉm cười hỏi :

- Thuốc bổ chăng?

Nhương Thư gật đầu, hài lòng khi thấy Thúy Sơn mau mắn nuốt ngay. Hai người lên giường vì đêm đã khuya. Nhương Thư ngượng ngùng ôm lấy nàng, chẳng còn thanh thản như lúc trước nữa. lát sau, Thúy Sơn thở hổn hển, run rẩy hỏi :

- Đại ca cho tiểu đệ uống xuân dược ư?

Nhương Thư dịu giọng bảo :

- Sơn muội! Ta đã biết nàng là gái giả trai.

Thúy Sơn hổ thẹn bật khóc :

- Tiểu muội chẳng đủ tư cách nữ nhân, đâu xứng với đại ca?

Nhương Thư biết nàng ám chỉ bộ ngực, liền an ủi :

- Hiền muội sai rồi. Chẳng lẽ một nam nhân không râu thì không phải đàn ông? Hơn nữa những viên linh đan kia sẽ giúp hiền muội khắc phục khiếm khuyết ấy.

Chàng liền kể lại lời nói của Bất Trí thư sinh. Thúy Sơn vừa mừng vừa thẹn, giấu mặt vào vai tình quân.

Nhương Thư cũng đã động tình, cởi áo nữ nhân, lần đầu được nhìn rõ bộ ngực lép kẹp của Thúy Sơn. Chàng say đắm hôn hít, vuốt ve thân hình thon dài, ngà ngọc rồi gầy cuộc truy hoan. Đêm nay, chàng hoàn toàn tỉnh táo nên động tác nhẹ nhàng, điêu luyện khiến Thúy Sơn tận hưởng những cảm giác ngút ngàn hơn hẳn những lần bị dày vò dưới đáy vực.

Cuộc hành trình ngàn dặm, xuyên cao nguyên Sơn Tây đã trở thành tuần trăng mật ngọt ngào của hai kẻ yêu nhau. Sau gần tháng mặn nồng ân ái và uống thuốc, kỳ diệu thay, ngực của Thúy Sơn đã có dấu hiệu nảy nở hơn trước, và khi họ đến thành Du Lâm thì kinh nguyệt xuất hiện.

Đôi uyên ương sẽ phải nghỉ ngơi ở khách điếm vài ngày, chờ niềm vui kia qua đi thì mới tính đến chuyện bái kiến Âm Sơn lão tổ. Ngay ngày đầu tiên, họ có bí mật đến tế mộ Bạch Ngọc Tiên Tử. Nhương Thư chỉ sa lệ, còn Bạch Thúy Sơn khóc như mưa, đúng với bản chất nữ nhi của nàng.

Hai hôm sau là hai mươi lăm tháng tư, hai người tìm gặp Phân đà của Cái bang ở Du Lâm. Kim Tiền Cái Lộ Đăng Tâm đã báo cho họ một tin không vui, là việc Âm Sơn lão tổ sắp khai trương Âm Sơn Thần Giáo vào ngày đầu tháng năm tới. Xem ra lão già hồi xuân ấy quyết làm bá chủ vùng Tây bắc và sau đó có thể là cả Trung Nguyên.

Kim Tiền Cái có người bà con làm gia nhân trong nhà Thiểm Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi nên biết rất rõ nội tình. Lão khề khà kể :

- Bẩm công tử! Dã tâm của Âm Sơn lão tổ rất lớn. Lão ta chiêu mộ bọn dũng sĩ của bộ tộc Đảng Hạ ở đất Tây Hạ, lực lượng rất đông đảo hùng mạnh. Một đạo quán đồ sộ được xây trên núi Âm Sơn trở thành thánh địa, còn Tổng đàn của Âm Sơn giáo thì lại ở Diên An. Việc này chứng tỏ Lão Tổ sẽ bành trướng vào Trung Nguyên. Hiện nay lão ta đang ở Âm Sơn để chuẩn bị lễ khai giáo, còn Lạc Nhất Lôi thì lo việc xây dựng Tổng đàn ở Diên An.

Mục tiêu biến mất, kế Di Họa Giang Đông bị phá sản, Nhương Thư chán nản hỏi Thúy Sơn :

- Thế thì chúng ta sẽ phải làm gì?

Thúy Sơn cau đôi mày liễu suy nghĩ, lát sau bàn rằng :

- Xét ra thì tội của Thiểm Bắc Thần Long còn nặng hơn Âm Sơn lão tổ. Nay chúng ta cứ đi ngay Diên Ân giết gã Lạc Nhất Lôi để báo thù cho Bạch Ngọc Tiên Tử.

Sáng hôm hai mươi sáu, Nhương Thư và Thúy Sơn lập tức xuôi Nam để đi Diên An. Lần này lộ trình thuộc bờ Tây nhánh phải Hoàng Hà, hoàn toàn nằm trên cao nguyên Hoàng thổ của đất Thiểm Tây, nên phong cảnh hoang vu, địa thế gập ghềnh hiểm trở, bụi vàng bay mù mịt, phủ kín cả người lẫn ngựa.

Hơn mười ngày sau đôi uyên ương mới có mặt ở Diên An, tìm khách điếm để nghỉ ngơi và trút bỏ bụi đường.

Chiều hôm ấy họ đã được Phân đà Cái bang ở Diên An báo cáo :

- Bẩm công tử! Sào huyệt của Âm Sơn giáo còn đang xây dựng dở dang, chỉ mới xong được phần kết cấu, chưa tô trát, sơn phết. nằm trên lưng chừng núi Kiếm Sơn, cách cửa Đông Thành hơn chục dặm.

Thúy Sơn ngắt lời gã :

- Việc phòng vệ ở nơi ấy thế nào?

Phân đà Chủ Cái bang ở Diên An là một hán tử sáu túi, tuổi bốn mươi tám, tên gọi Đại Chủng Cái Địch Cùng Nam, vì có cái miệng rộng gấp đôi người thường. Họ Địch cười đáp :

- Bẩm phu nhân! Tổng số nhân thủ ấy đông độ ba trăm, toàn là người của bộ tộc Đảng Hạ. Ho vừa là thợ xây cất, vừa là võ sĩ canh phòng. Có lẽ để che giấu tung tích nên bọn Đảng Hạ ấy đã cạo trọc những mái tóc kỳ dị, chít khăn. Tuy nhiên, có nhiều tên không biết tiếng Hán, hoặc chỉ trọ trẹ vài câu. Thiểm Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi luôn túc trực ở công trường, song thỉnh thoảng cũng vào thành Diên An nghỉ đêm và hưởng lạc.

Nhương Thư mừng rỡ :

- Hay lắm! Phiền Địch túc hạ cố điều tra xem lúc nào y có mặt trong thành thì báo ngay cho ta biết.

Đại Chủng Cái cung kính nhận lệnh đi ngay, ba ngày sau quay lại với thư của Vô Ưu Cái. Trong thơ, Hầu Mộ Thiên đốc thúc bọn Nhương Thư mau chóng kết liễu việc ở Diên An để đi ngay Ngũ Hành sơn, tham gia chiến dịch tiêu diệt Thần Quang giáo.

Độc Biển Thước đã chính thức dương cờ Thần Quang, đúng lúc chất độc Tiêu Trường Vụ phát tác, lão cho người âm thầm loan báo đến những nạn nhân rằng phải có mặt ở chân núi Mộc Sơn trước ngày mùng tám tháng sáu để nhận giải dược. Đấy cũng là ngày lễ khai đàn của Thần Quang giáo.

Bất Trí thư sinh đã tương kế tựu kế, mang giải dược của mình đến đấy cho quần hùng, rồi cùng họ đánh một đòn bất ngờ. Tuy nhiên, cần phải có người không sợ độc, cầm chân Tả Nho Quan, và người ấy chỉ có thể là Nhương Thư.

Đọc thư xong, chàng cau mày hỏi Đại Chủng Cái.

- Địch túc hạ! Mấy ngày qua Thiểm Bắc Thần Long không vào thành sao?

Họ Địch áy náy đáp :

- Bẩm công tử quả đúng thế! Dường như Lạc Nhất Lôi bị vợ quản thúc chặt chẽ nên không dám vào thành thăm bọn kỹ nữ nữa. Hôm kia có một nữ nhân tìm đến Kiếm Sơn, được bọn võ sĩ Đảng Hạ xưng hô là Công chúa. Đệ tử đoán nàng ta là Ba Lặc Kỳ Dung, ái nữ của Đại tù trưởng Đảng Hạ, cũng là ái thê của Thiểm Bắc Thần Long.

Nhương Thư đanh mặt :

- Nếu thế thì đêm nay ta sẽ đến tìm gã họ Lạc vậy.

Thúy Sơn tán thành :

- Âm Sơn lão tổ đã khai giáo, lộ rõ dã tâm, chúng ta chẳng cần gieo vạ thì lão cũng sẽ đụng độ với Độc Biển Thước. Đại ca cứ sử dụng Bạt Sơn Thần Lựu mà phá nát cơ đồ của Âm Sơn lão tổ cho bõ ghét.

Đại Chủng Cái bỗng dặng hắng xen vào :

- Bẩm công tử! Theo thiển ý của đệ tử thì sức mạnh của Âm Sơn giáo nằm ở lực lượng võ sĩ Đảng Hạ. nếu công tử nhân dịp này bắt sống được Công chúa Ba Lặc Kỳ Dung làm con tin thì bá chủ Tây Hạ là Đại tù trưởng Ba Lặc Sinh Hòa sẽ phải rút quân, và Âm Sơn giáo sẽ tan rã.Nhương Thư là người toàn tâm vì võ lâm nên rất hoan nghênh kế hoạch này. Chàng hớn hở đáp :

- Địch túc hạ quả là cao kiến. Thủ đoạn này tuy hơi bá đạo nhưng sẽ khiến võ lâm bớt một mối lo.

Thúy Sơn cười mát :

- Đại ca quả là háo sắc, nghe nói Ba Lặc Kỳ Dung đẹp như tiên nên vội vã tán thành mà không nghĩ đến hậu quả.

Nhương Thư hổ thẹn, lúng túng biện bạch.

- Sơn muội chớ hiểu lầm. Ta nào biết Ba Lặc Kỳ Dung xấu đẹp thế nào?

Đại Chủng Cái ranh mãnh đổ dầu vào lửa :

- Quả thực là Công chúa Ba Lặc Kỳ Dung xinh đẹp phi thường, được đời tôn là Tây bắc Đệ nhất mỹ nhân. Hôm kia, đệ tử đã được tận mắt chiêm ngưỡng dung nhan thiên kiều bá mị của nàng ta.

Nhương Thư liếc thấy mặt Thúy Sơn tái đi, biết nàng nổi ghen, liền nói liều :

- Địch túc hạ quá lời, người Đảng Hạ thô lậu, man rợ, đầu cạo trọc chỉ chừa vài món tóc lòng thong, làm sao đẹp được.

Đại Chủng Cái cười hì hì :

- Công tử lầm rồi. Nữ nhân Đảng Hạ cũng búi tóc như người Hán chúng ta. Nhất là sau khi đất Tây Hạ thuộc về Đại Minh thì nền văn hóa Đảng Hạ cũng khác xưa, y phục, trang sức của đàn bà gần giống Trung Nguyên.

Nhương Thư ngượng ngùng :

- Thế thì thôi vậy. Ta chẳng bắt cóc Ba Lặc Kỳ Dung nữa.

Đại Chủng Cái sợ ý kiến của mình bị phế bỏ nên tìm cách chữa cháy :

- Tuy Kỳ Dung có chút nhan sắc nhưng không thể nào sánh với phu nhân đây. Vả lại khi công tử giết chồng nàng ta là Lạc Nhất Lôi thì hai bên thành thù nhân, làm sao có chuyện yêu đương, luyến ái được. Mong phu nhân vì đại cục giang hồ mà rộng lượng cho.

Đàn bà vốn hay ghen nhưng không bao giờ chịu nhận,Thúy Sơn gượng cười :

- Tiểu muội nói cho vui chứ nào có ghen tuông gì. Chúng ta cứ theo cao kiến của Địch túc hạ mà hành động.

Đại Chủng Cái mừng rỡ cáo lui. Canh hai đêm ấy, gã hướng dẫn bọn Nhương Thư đi Kiếm Sơn. Đúng như lời họ Địch đã nói, Tồng đàn Âm Sơn giáo gạch đá ngổn ngang vì chưa hoàn tất. Tòa nhà chính leo lét ánh đèn, biểu thị rằng Thiểm Bắc Thần Long và phu nhân đang cư trú nơi ấy.

Việc canh phòng cũng lơi lỏng vì chẳng ai biết rằng có kẻ lại mạo hiểm đến đây làm gì. Mối quan hệ giữa Nhương Thư và Bạch Ngọc Tiên Tử hoàn toàn thầm kính.

Công việc xây dựng ban ngày đã khiến bọn người Đảng Hạ mệt nhoài, sớm ngủ vùi, chỉ để lại vài tên canh gác lấy lệ. Nhương Thư và Thúy Sơn mau chóng đột nhập, tìm đến phòng ngủ của vợ chồng Lạc Nhất Lôi.

Trong kiến trúc mang dáng điện thờ này, có một nơi đã xây dựng gần hoàn chỉnh, dùng làm nơi nghỉ ngơi của vợ chồng họ Lạc. Đó là một phòng lớn ở cuối, sau này có lẽ dành cho Giáo chủ.

Khí hậu vùng cao nguyên Hoàng Thổ cực kỳ khắc nghiệt, chỉ mới đầu hạ mà tiết trời đã nóng như đổ lửa, vô củng oi bức. Do vậy, tất cả những cánh cửa đều được mở toang, để khách dạ hành tha hồ chiêm ngưỡng cảnh tượng bên trong.

Một nam nhân anh tuấn, tuổi gần bốn mươi, đang hì hục hành lạc, nhấp nhô trên thân hình trắng muốt, khêu gợi của một nữ lang. Chẳng khó gì để đoán ra lai lịch của đôi uyên ương kia.

Thúy Sơn đỏ mặt thì thầm :

- Đại ca! Chúng ra rút thôi.

Nhương Thư gằn giọng :

- Nàng mắc cỡ thì cứ tránh mặt, phần ta quyết không tha cho Lạc Nhất Lôi.

Thúy Sơn thở dài :

- Tiểu muội sẽ nhắm mắt lại, đứng ngoài này chờ đợi.

Nhương Thư gật đầu, quắc mắt nhìn cảnh giao hoan mà lòng không gợn chút tà tâm. Chàng chợt nhận ra nữ lang kia không hề hứng khởi, đôi mắt huyền dán vào ngọn đèn tọa đăng trên bàn, dường như đang cố chịu đựng cho qua. Phải chăng Ba Lặc Kỳ Dung chẳng thích thú gì trong cuộc ái ân này?

Chàng thầm khen dung mạo của nữ nhân người Đảng Hạ, không ngờ đất Hoàng Thổ lại sản sinh được một giai nhân như thế.

Chẳng lẽ cứ rình rập mãi cảnh truy hoan, Nhương Thư nghiến răng lao mình qua cửa chính, xông về phía chiếc giường hoan lạc, vung kiếm tấn công Lạc Nhất Lôi.

Thiểm Bắc Thần Long phản ứng thần tốc và bất ngờ, ngã mình xuống giường, đưa thân hình nõn nà của Ba Lặc Kỳ Dung lên che chắn và quăng nàng ta vào lưỡi kiếm của Nhương Thư. Chỉ một hành động này cũng đủ chứng tỏ gã xảo quyệt và tàn nhẫn phi thường, dám hy sinh cả người đầu ấp tay gối.

Nhương Thư vội thu kiếm, đưa tả thủ đỡ Kỳ Dung. Trước tiên ngón trỏ của chàng điểm vào huyệt Kiên Tĩnh của nàng, sau mới dám ôm lấy. Chàng đảo bộ, đặt con tin xuống cạnh tường phòng rồi quay lại với Lạc Nhất Lôi.

Lúc này, họ Lạc đã chụp được thanh côn trên giường thủ thế và gầm lên :

- Bắt gian tế!

Bọn dũng sĩ người Đảng Hạ đang ngủ trong những lán trại chung quanh bật dậy, xách vũ khí hớt hải chạy đến.

Thấy nguy, Bạch Thúy Sơn cắn răng bước vào phòng chụp lấy Ba Lặc Kỳ Dung, giật rèm cửa sổ quấn tạm, đưa ra trước cửa phòng rồi nói với Công chúa :

- Kỳ Dung! Nếu nàng không bảo bọn thủ hạ đứng yên thì ta sẽ cắt mũi nàng trước đấy.

Kỳ Dung biến sắc vội quát lên thánh thót bằng tiếng Đảng Hạ :

- Tất cả ở ngoài chờ lệnh, không được xông vào.

Người Đảng Hạ thuộc giống dân Hồi ở đất Tây Hạ, văn minh kém cỏi nhưng rất kiêu dũng, quen nghề trận mạc. Vào thời nhà Tống, các bộ tộc Đảng Hạ đã liên kết lại, thành lập một vương triều hung mạnh, uy hiếp cả Trung Nguyên. Họ có tham vọng độc lập, từng dựa vào chữ Hán để làm ra văn tự của dân tộc mình.

Do man rợ nên họ rất trung thành với thủ lĩnh, răm rắp tuân theo lệnh Công chúa Kỳ Dung. Vương triều Tây Hạ đã bị quân Mông Cổ tiêu diệt, và sau này đất đai sát nhập vào lãnh thổ nhà Minh, song các bộ tộc Đảng Hạ vẫn giữ được nền tự trị. Dù Tây Hạ cũng đầy đủ quan lại từ phủ đến huyện, nhưng thực quyền của các tộc trưởng rất mạnh. Ba Lặc Sinh Hòa, cha của Kỳ Dung là vị Tù trưởng cao cả nhất.

Bên ngoài đã yên nhưng cuộc chiến trong phòng thì chưa ngã ngũ, vì Thiểm Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi là một võ sĩ có thực tài. Gã được chân truyền pho Âm Sơn côn pháp, chống cự rất quyết liệt, chẳng chịu chết ngay.

Con rồng đất Thiểm Bắc đang hoàn toàn lõa thể, để lộ thân hình lực lưỡng, cuồn cuộn những bắp thịt rắn chắc. Cánh tay gã to lớn, cơ bắp nổi vòng, biểu hiện một sức mạnh phi thường, liên tiếp giáng những đòn sấm sét nát đá tan vàng.

Cây côn thép của Lạc Nhất Lôi là đoản côn, chỉ dài hơn trường kiếm vào lóng tay, song phải nặng đến hai mươi cân, được mạ bạc bóng loáng. Họ Lạc lên núi Âm Sơn luyện võ từ ngày sáu tuổi, hơn hai mươi năm sau mới hạ sơn, và lập tức nổi danh khắp miền Tây bắc vì chưa hề gặp đối thủ.

Âm Sơn là rặng núi hiểm tuấn, hung vĩ và cực kỳ lạnh giá, quanh năm tuyết phủ, nằm cạnh nhánh trái của vòng cung lớn Hoàng Hà trên ranh giới giữa Tây Hạ và Nội Mông.

Chính nơi đây, Âm Sơn lão tổ đã luyện thành pho Hàn Tuyết chân khí, tương tự với Huyền Băng chân khí của Đao Đế Liêu Vân Nhạc. Lạc Nhất Lôi căn cơ thượng phẩm đã đạt được tám thành hỏa hầu, côn kình tỏa hơi lạnh thấu xương, gã tưởng rằng có thể sớm nghiền nát tên hắc y bịt mặt, không ngờ càng đánh càng bị hạ phong.

Cây Ngân Tuyết côn của gã có sức đập nghìn cân mà không sao đánh bại nổi thanh trường kiếm mỏng manh kia, chứng tỏ đối phương có công lực vô cùng thâm hậu.

Song điều đáng sợ nhất chính là trình độ kiếm thuật của Hắc y nhân, chiêu nào cũng gồm hàng trăm thức, kiếm ảnh mờ mịt, hư thực khó phân. Chỉ sau vài chục chiêu, Thiểm Bắc Thần Long đã bị rạch hai đường trên vai và ngực, kinh hoàng múa tít thanh Bạch Ngân côn, phòng thủ kín đáo hơn.

Tiếng thép chạm nhau không ngớt, xé nát đêm trường tĩnh mịch, và khiến bọn võ sĩ Đảng Hạ ở bên ngoài thêm lo lắng. Họ vô cùng khâm phục Lạc Nhất Lôi vì gã bao giờ cũng đắc thắng trong vòng một trăm chiêu. Người Đảng Hạ rất hiếu võ, đã bất giác kéo đến các khung cửa sổ để quan chiến và kinh hãi nhận ra thủ lĩnh thọ thương.

Tốc độ chiết chiêu cực kỳ nhanh, thấm thoát đã quá số ba trăm và trên người Thiểm Bắc Thần Long chi chít những vết thương đẫm máu. Tuy chỉ là thương tích nhẹ nhưng cũng đủ làm cho Lạc Nhất Lôi đau đớn, cử động khó khăn. Gã nhận ra Hắc y nhân đã bỏ qua hàng chục cơ hội kết liễu, cứ như muốn hành hạ mình cho thỏa thích vậy. Gã nghĩ mãi không ra mình đã gây thù kết oán với tay Đại kiếm thủ này trong trường hợp nào? Lạc Nhất Lôi nhiều lần định đào tẩu nhưng không thành công vì đối phương đứng chặn đúng hướng cửa chính và đã dồn gã vào sát vách tường hướng Đông.

Bức vách được xây bằng đá núi rất kiên cố nên Lạc Nhất Lôi chẳng thể phá mà chui ra được. Trong nỗi tuyệt vọng,gã giận dữ lộng Ngân côn, cố đẩy lùi đối thủ rồi quát nhanh :

- Ngươi là ai? Vì sao lại muốn giết ta?

Gã bịt mặt hờ hững điểm nhanh hàng chục nhát, đẩy gã thoái hậu rồi đáp :

- Ta đến để báo thù cho ái thê là Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc.

Nói đến đây, mắt gã lóe lên những tia oán hận và mũi kiếm rít lên vo vo, công phá lưới côn, cuối cùng rạch một đường trên gương mặt trắng trẻo, đồng thời tiện đứt dương v*t của Thiểm Bắc Thần Long.

Lạc Nhất Lôi đau đớn rú lên như heo bị chọc tiết, điên cuồng múa côn đổi mạng.

Nhương Thư nãy giờ kéo dài trận đấu chẳng phải vì chơi trò mèo vờn chuột, giết kẻ thù một cách tàn ác mà chính vì muốn tìm hiểu côn pháp của Âm Sơn lão tổ, để sau này đối phó. Giờ đã tạm đủ, chàng thầm khấn với hương hồn Lâm Đại Ngọc rồi xuất chiêu “Tâm Băng Bất Tức”, kiếm ảnh chập chờn hàng trăm ngọn lửa trùm lấy đối phương. Và những đốm lửa nhỏ bé ấy chợt bung lên, như lớn hơn, rực rỡ hơn, thi nhau bắn vào người họ Lạc.

Thiểm Bắc Thần Long kinh hoàng trước chiêu kiếm thần kỳ, vung nhanh côn bạc cố chặn đứng những kiếm ảnh ma quái kia. Song đốm lửa này bị dập tắt thì đốm lửa khác hiện ra, liên miên bất tuyệt. Chỉ sau vài chục tiếng tinh tang, Lạc Nhất Lôi nghe lồng ngực vạm vỡ của mình đau đớn khủng khiếp và gã rú lên ai oán, gục xuống trong lúc mắt vẫn mở trừng trừng.

Nhương Thư cẩn thận lia ngang cắt rời thủ cấp của kẻ thù. Sau lần suýt chết dưới tay Chính Khí trang chủ Lã Tập Hiền, chàng cho rằng chặt đầu là chắc ăn nhất. Chính Bất Trí thư sinh đã xác nhận rằng việc tim người nằm bên ngực hữu không phải là quá hiếm.

Tiếng la hét giận dữ của bọn Đảng Hạ vang lên ngoài cửa khiến Thúy Sơn lo ngại, vội hăm dọa Kỳ Dung :

- Chúng mà vọng động thì nàng mất mạng đấy.

Kỳ Dung cười nhạt :

- Ngươi đừng sợ! Chưa có lệnh của ta thì chẳng ai dám hành động cả.

Nhương Thư đã giật khăn trải giường phủ lên cái xác lõa lồ, đẫm máu của Lạc Nhất Lôi. Chàng lên tiếng :

- Sơn muội hãy đưa Công chúa vào đây thu xếp hành lý.

Thúy Sơn liền nhấc bổng Kỳ Dung đi vàp phía giường Bát Bửu.

Nhương Thư ôn tồn nói với tù nhân :

- Do Âm Sơn lão tổ lợi dụng lực lượng các bộ tộc Đảng Hạ để mưu đồ bá chủ nên tại hạ mạo muội mời Công chúa vào Trung Nguyên chơi một chuyến. Bọn tại hạ hứa sẽ chiêu đãi như thượng khách, chờ sau khi diệt xong Lão tổ sẽ cung kính tiễn Công chúa hồi hương.

Chồng bị giết mà Ba Lặc Kỳ Dung không hề nổi giận, không mắng chửi hung thủ một câu, lại nhìn Nhương Thư bằng ánh mắt hiếu kỳ, chậm rãi đáp :

- Các hạ muốn ta đi theo thì phải để lộ chân diện mục, khai rõ lai lịch, xem có đáng tin cậy hay không?

- Bổn Công chúa là nữ nhân Đảng Hạ, mười bốn tuổi đã xông pha chiến trận, xem cái chết rất nhẹ, và lúc ấy thì hai người cũng khó mà thoát được. Chưa kể đến việc cái chết của ta sẽ khiến các bộ tộc Đảng Hạ nổi dậy, bắt triều đình nhà Minh phải tìm cho ra thủ phạm. Lúc ấy, tội tru di tam tộc sẽ đổ lên đầu hai ngươi.

Nhương Thư và Thúy Sơn rùng mình nhìn nhau. Chàng họ Tần thở dài :

- Thế thì tại hạ đành phải bỏ ý định mời Công chúa về làm khách vậy. Mong nàng cho phép bọn tại hạ rút lui.

Ba Lặc Kỳ Dung biết ngay chàng trai võ nghệ cao cường này hiền lành, dễ nắm gáy, liền tủm tỉm cười :

- Muộn rồi! Các hạ đã giết trượng phu của ta, đâu dễ bỏ đi như thế. Hay các hạ lại hèn nhát đến mức không cho ta cơ hội báo thù chồng? Hãy cởi khăn và khai danh tính ra ngay.

Thúy Sơn vội ngăn cản Nhương Thư :

- Đừng đại ca! Tội giết Phò mã Đảng Hạ cũng có thể bị truy nã, lộ mặt chỉ có hại. Chúng ta dùng Kỳ Dung làm mộc thoát thân thôi.

Ba Lặc Kỳ Dung ngắt lời :

- Ta thề sẽ tự lực báo thù, không nhờ đến quan quân. Người Đảng Hạ đã nói là không nuốt lời.

Nhương Thư thở dài :

- Thôi được. Tại hạ xin tuân mệnh. Song phiền Công chúa cho bọn thủ hạ lui ra xa.

Kỳ Dung gật đầu. Quay ra đuổi bọn dũng sĩ. Chúng ngoan ngoãn rút đi, lập vòng vây phía ngoài.

Nhương Thư cởi khăn che mặt, trầm giọng bảo :

- Tại hạ Tần Nhương Thư. Công chúa muốn báo thù xin cứ đến Tổng đàn Cái bang gởi thư phó ước, tại hạ sẽ lập tức ứng hầu.

Đôi mắt hơi sâu và đen láy của Kỳ Dung dán vào gương mặt hiền hòa, đôn hậu của chàng, môi anh đào nở hoa :

- Té ra chàng là Đệ nhất kiếm thủ của Trung Nguyên đấy ư? Từ lâu bổn Công chúa vẫn được nghe danh, không ngờ lại được diện kiến chốn này.

Bạch Thúy Sơn cảm thấy rõ sự ngưỡng mộ, say đắm của Kỳ Dung, liền nổi cơn ghen, cằn nhằn :

- Hay thực! Ai mà lại tán dương kẻ giết chồng mình cơ chứ?

Ba Lặc Kỳ Dung phì cười :

- Ngươi ghen sao? Gái Đảng Hạ ân oán phân minh, tính tình thẳng thắn, dẫu là kẻ thù mà đáng trọng thì cứ trọng. Vả lại, Lạc Nhất Lôi đã nhẫn tâm xô ta vào lưỡi kiếm của Tần công tử, đâu đáng để ta tiếc thương.

Thúy Sơn cứng họng, không biết nói ra sao. Ngay lúc ấy, nàng vô tình lỏng tay kiếm góc tấm rèm cửa lật xuống để lộ ngực trái căng tròn, mơn mởn của tù nhân. Thúy Sơn đứng kềm sau lưng Kỳ Dung nên không phát hiện ra, song Nhương Thư thì thấy hết, lúng túng cúi đầu.

Ba Lặc Kỳ Dung cười mát :

- Lúc nãy công tử ôm ta, tay đã đặt vào ngực, mắt ngắm trọn thân thể ngàn vàng, sao giờ này lại xấu hổ?

Thúy Sơn giật bắn mình, vội nhìn lại, kéo rèm lên che ngực Kỳ Dung rồi nạt Nhương Thư :

- Đi thôi! Đại ca thích ở lại đây lắm sao?

Nhương Thư luống cuống cột lại khăn che mặt, vái chào Kỳ Dung :

- Bọn tại hạ xin cáo từ, mong Công chúa mở cho sinh lộ.

Chương 12: Cốc trung thi diệu kế - Thần lựu khiếp Thần Quang

Gần cuối tháng năm, Nhương Thư và Thúy Sơn có mặt ở Lạc Dương, hội ngộ cùng bọn Vô Ưu Cái!

Các Chưởng môn bạch đạo có mặt đầy đủ song người thân của Nhương Thư lại vắng mặt mất ba. Vô Ưuu Cái buồn rầu nói :

- Sau khi hiền đệ đi đuợc vài ngày thì Võ Lâm Mạnh Thuờng Quân Điền Đông Giám đến Lạc Dương bắt ba cô con gái về Tế Nam! Lão nhắc đến hiền đệ mang sính lễ đến cuới hỏi đàng hoàng!

Nhương Thư mỉm cười :

- Điền trang chủ hành động đúng lễ, vì sao Hầu lão đại ca không vui?

Vô Ưu Cái thở dài :

- Sự tình chẳng hề đơn giản như thế. Mới đây, lão phu nhận đuợc tin rằng Điền Đông Giám đã liên minh với Hải Long giáo, thành lập Sơn Hải bang, gồm hai Bang chủ là họ Điền và nguyên Giáo chủ Hải Long giáo Kỵ Ba Thần Quân Thành Vô Chiến! Trinh sát bổn bang còn nghe phong thanh rằng Điền Đông Giám được đứng ngang hàng với họ Thành là nhờ gia tài cự cạn và gả cả ba ái nữ cho Thần Quân. Các cô gái này không chịu nên đã bị hạ gục!

Thúy Sơn kinh hãi rú khẽ, thương cho ba kẻ chung thuyền, Nhương Thư thì biến sắc, nghiêm giọng :

- Sau trận này tiểu đệ sẽ đi ngay Tế Nam!

Và chàng hỏi sang chuyện võ lâm. Bất Trí thư sinh hắng giọng bảo :

- Hồi tháng trước, chất độc Tiêu Thường Vụ đã phát tác và mấy ngàn nạn nhân ấy đã đuợc thông báo đến đây quy phục Thần Quang giáo. Tuy nhiên, chúng ta đã kịp thời phân giác giải dược. Phá tan âm mưu của Độc Biển Thước. Do lo ngại tài dụng độc của Tả Nho Quan nên lão phu đã phải thay đổi kế hoạch, ngăn cản quần hào đến tham dự lễ khai đàn của Thần Quang giáo. Giờ đây, chỉ còn những người có võ công cao cường đại diện cho phái Bạch đạo đến Hắc Ưng cốc theo thiếp mời! Cùng lắm thì chúng ta sẽ phá vây thoát ra!

Nhương Thư khen phải, kể lại chuyến đi của mình! Cử tọa đều thất sắc khi biết đuợc dã tâm của Âm Sơn lão tổ.

Khánh Hỷ đại sư, phương trượng Thiếu Lâm tự cảm khái nói :

- Chẳng bao giờ võ lâm phải đương đầu với nhiều tai họa đến thế! Trung Nguyên có Độc Biển Thước, phía Đông thì Kỵ Ba Thần Quân vào lục địa, giờ thêm Âm Sơn lão tổ từ hướng Tây bắc xuống, tình hình nguy ngập khôn lường.

Vô Ưu Cái cười nhạt :

- Đại sư lo lắng làm gì, xưa nay tà bất thắng chính! Ba lão ma đầu kia vì danh lợi mà hành động, tất sẽ tương sát, tiêu diệt lẫn nhau thôi! Chỉ cần chúng ta khéo léo một chút là xong!

Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi ngứa miệng :

- Chẳng hay kế sách của Hầu lão ca thế nào, sao không nói thử cho mọi người yên tâm?

Họ Quách nhờ thân phận bái huynh của Nhương Thư mà đuợc ngồi ngang hàng với các Chưởng môn, lòng vô cùng khoan khoái, vinh dự, luôn miệng gọi Vô Ưu Cái là anh cho thỏa tấm lòng!

Hầu bang chủ gật gù :

- Diệu kế thì đã có, song thành công hay không hoàn toàn trông vào tài trí của Quách lão đệ đấy!

Dạ Quân Tử hồ hởi đáp :

- Thực thế sao? Vậy thì tiểu đệ xin xả thân thi hành mệnh lệnh của lão ca!

Phổ Chứng thiền sư, Chưởng môn phái Nga My vốn ở Tứ Xuyên nên biết rất rõ tài các và bản chất của lão trộm già họ Quách, liền thắc mắc khi thấy lão đuợc giao trọng trách. Ông tủm tỉm nói đùa :

- Thiện tai! Thiện tai! Quách thí chủ cơ trí tuyệt luân, đã chịu vì đại nghĩa mà ra tay thì quả là phúc cho võ lâm!

Dạ Quân Tử biết đối phương bỡn cợt mình, song vẫn thản nhiên cười khanh khách :

- Đa tạ thiền sư đã tán thưởng! Cây cong còn có chỗ dùng, lão phu tuy bất tài nhưng nếu đuợc sử dụng đúng chỗ thì cũng chẳng đến nỗi tồi!

Vô Ưu Cái gạt đi, nói ngay vào đề :

- Thôi đừng tung hứng nưa, Quách lão đệ hãy lắng nghe diệu kế. Sau lễ khai đàn của Thần Quang giáo, ngươi sẽ đi lên vùng Tây bắc, tìm cách gia nhập Âm Sơn giáo, trở thành người tin cẩn của Âm Sơn lão tổ. Ngươi sẽ kích động lòng hiếu danh của Lương Dã Toàn, biến lão ta thành cứu tinh của võ lâm, tự nguyện đứng ra tiêu diệt Độc Biển Thước và Kỵ Ba Thần Quân!

Vào hang cọp tiềm phục là một việc vô cùng khó khăn nguy hiểm, nên Dạ Quân Tử chột dạ :

- Không phải lão phu sợ chết, mà chỉ e thân phận không đủ để mua chuộc lòng tin của Lão tổ! Ai chẳng biết Dạ Quân Tử chỉ là một tên trộm đất Tứ Xuyên?

Bất Trí thư sinh mỉm cười, đỡ lời Vô Ưu Cái :

- Quách lão đệ yên tâm! ông sẽ đến với Âm Sơn giáo bằng thân phận cao cả của một bậc nhân sĩ Trung Nguyên! Trời sinh người này và túc hạ có dung mạo, dáng vóc rất giống nhau, y chính là Trung Nguyên Cao Sĩ Phương Tử Kiến, Bảo chủ Cô Ðộc bảo đất Khai Phong!

Cả nhà ồ lên kinh ngạc còn Quách Tàn Bôi thì nhăn như khỉ :

- Lão phu chỉ có chút mẹo vặt, chẳng hề tinh thông binh thư, trận đồ sao đóng vai Trung Nguyên Cao Sĩ đuợc?

Bất Trí thư sinh khoát tay trấn an :

- Việc ấy không đáng ngại vì lão phu sẽ cho đệ tử là Nghiên Tái Thuần theo phò tá túc hạ. Thuần nhi thông minh tuyệt thế, đã tiếp thu được tám thành sở học của lão phu!

Dạ Quân Tử há hốc miệng :

- Cao huynh định nói đến gã tiểu tử đầu to, mắt hiếng, vừa đến đây sáu hôm trước đấy sao? Mặt gã trông đần bỏ mẹ, đâu có nét gì gọi là nhân kiệt?

Vô Ưu Cái cười hả hả :

- Ngươi lầm rồi đấy! Nếu Thuần nhi ngu ngốc thì đâu thể trở thành học trò cưng của Bất Trí thư sinh. Tướng mạo y tuy thô thiển xấu xí nhưng cơ trí thuộc hàng thượng thặng đấy!

Nhương Thư hiếu kỳ nói :

- Té ra Cao lão ca thu đuợc truyền nhân đắc ý, sao không gọi y lên cho tiểu đệ diện kiến?

Bất Trí thư sinh tủm tỉm cười, rút chiếc chuông đồng rung nhẹ, lát sau, một gã thư sinh tuổi hai mươi ba xuất hiện. Quả đúng như lời mô tả của Dạ Quân Tử, Nghiên Tái Thuần có chiếc đầu khá to, ngất ngưởng trên cần cổ gầy gò trông rất hoạt kê. Trán gã dô ra, điểm cặp chân mày thưa thớt, lấm tấm mụn đỏ lại thêm những nét đẹp như mũi thấp, miệng rộng môi mỏng, răng thưa, cho nên họ Nghiên còn xấu xí hơn cả sư phụ là Cao Trường Toản!

Tái Thuần bị tật liếng mắt khi nhìn ai, đâu phải nghiêng sang một bên, chẳng hay ho chút nào cả! Trong bộ trường bào bằng vài xanh thô bạc phếch, họ Nghiên là hiện thân của kẻ sinh ra dưới một ngôi sao xấu, bị tạo hóa ruồng bỏ!

Tuy nhiên, Nghiên Tái Thuần lại có nụ cười rất quyến rũ, khiến Nhương Thư phải ngạc nhiên. Khi gã cười, dường như tất cả những vẻ xấu xí trên mặt đều bị mờ đi.

Tái Thuần vòng tay kính cẩn chào cả bàn, rồi hỏi Bất Trí thư sinh :

- Ân sư gọi đồ nhi về việc gì?

Cao Trường Toản vui vẻ chỉ Nhương Thư và Thúy Sơn :

- Con hãy bái kiến Tần sư thúc và Bạch sư thúc!

Trong nghề võ, em của sư phụ luôn đuợc gọi bằng sư thúc, bất kể nam hay nữ. Thúy Sơn đã thoát khỏi mặc cảm khuyết tật nên quyết định không giả trai nữa, trông nàng kiều diễm tuyệt vời.

Tái Thuần tươi cười vái dài :

- Tiểu điệt Nghiên Tái Thuần xin ra mắt nhị vị sư thúc!

Nhương Thư đầy dạ từ bi, thấy Tái Thuần chịu nhiều thiệt thòi, có ý định bồi đắp cho gã. Chàng thân mật vẫy :

- Ngươi lại đây ngồi chung với ta!

Tái Thuần thản nhiên tuân mệnh, ngồi xuống ghế trống mé tả họ Tần, chăm chú lắng nghe các trưởng bối dặn dò. Khi biết mình phải tháp tùng Dạ Quân Tứ đi Âm Sơn làm nội gián, Tái Thuần cười đáp :

- Sao sư phụ không chọn Độc Biển Thước Tả Nho Quan làm đối tượng mà lại bắt đồ nhi phải lặn lội đến Tây bắc?

Cao lão nghiêm giọng :

- Bên cạnh họ Tả có mặt Ngọa Long Tú sĩ, chút kế mọn này làm sao qua mắt lão ta đuợc?

Nhương Thư lên tiếng :

- Còn Kỵ Ba Thần Quân thì sao? Nếu cài đuợc người vào Điền gia trang chúng ta sẽ cứu bọn Uyển Xuân ra thuận lợi hơn!

Bất Trí thư sinh lắc đầu :

- Không đuợc! Thành Võ Chiến tinh thông Nhiếp Tâm thuật, dễ dàng bắt kẻ khác thổ lộ ruột gan! Do vậy trong ba đại ma đầu, chỉ có mình Âm Sơn lão tổ là khờ khạo, dễ kích động nhất!

Quách Tàn Bôi thầm chán ngán sứ mệnh sắp tới, song ngoài mặt vẫn không để lộ, giả đò đi sâu vào chi tiết!

- Kế hoạch đưa Âm Sơn lão tổ và ngàn thủ hạ về hùng cứ Cô Ðộc bảo sẽ đòi hỏi một ngân sách rất lớn, chúng ta lấy đâu ra gạo mà nuôi họ?

Vô Ưu Cái tủm tim ứng tiếng :

- Ngươi chớ lo việc ấy! trước khi bị cha bắt về Tế Nam, ba con bé họ Điền đã lén đưa cho lão phu số vàng mười lăm vạn lượng, nhờ giao cho Tần hiền đệ! Nếu y chịu bỏ ra một phần ba cũng đủ vốn thì hành diệu kế!

Nhương Thư nghe nhắc đến ái thê, lòng vô cùng đau đớn, rầu rĩ nói :

- Hầu lão ca cứ giữ lấy mà lo cho đại sự võ lâm! Tiểu đệ cần vàng làm gì!

Khánh Hỉ đại sư, trụ trì chua Thiếu Lâm tự hắng giọng :

- A di đà Phật! Tuy Tần thí chủ có dạ Bồ Tát, nhưng đây là việc chung, chẳng thể để mình thí chủ gánh vác. Sau khi diệt xong tai kiếp, các phái võ lâm sẽ hoàn lại mọi khoản cho Tần gia!

Nhương Thư định từ chối thì bị Thúy Sơn lén véo vào hông ngăn cản. Và nàng nói lãng sang chuyện khác :

- Tiểu... muội thắc mắc một điều là vì sao Độc Biển Thước biết rõ chúng ta nắm giữ Bạt Sơn Thần Lựu mà vẫn gióng trống tổ chức lễ khai đàn?

Chưởng môn phái Hoa Sơn là Ngọc Tâm Tử tán thành ngay :

- Bần đạo cũng cùng một ý với Bạch thí chủ! Tả Nho Quan đã giả vờ như chưa bao giờ đến tấn công Hoa Sơn, gởi thiếp mời bần đạo dự lễ!

Thông Thiên chân nhân, Chưởng môn phái Võ Đang, cũng tư lự!

- Ngọa Long Tú Sĩ cơ trí sâu sắc hơn người, e rằng đã bày sẵn độc kế ở Hắc Ưng cốc! Đối phương phải có điều sở cậy mới dám xem thường hỏa khí của chúng ta!

Vô Ưu Cái trầm ngâm :

- Lão phu đã cùng Cao hiền đệ suy nghĩ nát óc mà vẫn không giải thích đuợc. Do vậy, chỉ còn cách ngăn cản quần hùng đến dự để khỏi rơi vào mẻ lưới lớn của đối phương!

Nhương Thư tình cờ phát hiện Nghiên Tái Thuần thoáng mỉm cười, liền hỏi :

- Phải chăng sư điệt có cao kiến về việc này? Nếu đúng thế thì cứ phát biểu, đừng ngại gì cả!

Họ Nghiên từ tốn đáp :

- Cảm tạ sư thúc đã chiếu cố, tiểu điệt xin đuợc nói ra thiển kiến của mình!

Gã hắng giọng rồi chậm rãi tiếp lời :

- Tần sư thúc chính là cột trụ võ lâm, nếu đối phương khống chế đuợc người thì các phái Bạch đạo tuyệt đối không dám loạn động. Vì thế, tiểu điệt phỏng đoán rằng Độc Biển Thước đang cầm giữ một con tin rất quan trọng khả dĩ khiến Tần sư thúc không dám sử dụng Bạt Sơn Thần Lựu!

Bất Trí thư sinh kinh hãi run giọng :

- Phải chăng Thuần nhi muốn hỏi đến ba vị tiểu thư nhà họ Điền?
Nghiên Tái Thuần gầt đầu, nói với giọng chắc nịch :

- Bẫm phải! Xưa nay chính tà lưỡng lập, bọn ác ma luôn sẵn sàng liên kết để diệt trừ chúng ta, sau đó, mới tính đến chuyện tương sát để giành ngôi bá chủ!

Cả nhà chết điếng trước sự thực nát lòng mà họ Nghiên đã nói ra. Lập luận của gã vô cùng hữu lý, và đã làm sáng tỏ mọi việc!

Phổ Chứng thiền sư, Phương trượng Vạn Niên tự núi Nga My, cất lời tán dương Tái Thuần :

- Nghiên tiểu thí chủ quả là bậc anh tài xuất chúng, luận việc như thần, khiến lão nạp vô cùng bái phục. Năm xưa, Hải Long giáo từng cho Lã Tập Hiền mượn bảo giáp Hắc Giao Bì để đấu với Tần thí chủ, thì giờ đây có liên thủ cũng là điều khả dĩ!

Bất Trí thư sinh gật gù :

- Thuần nhi giỏi lắm! Lão phu rất hài lòng khi thấy trò giỏi hơn thầy!

Tái Thuần đỏ mặt, định nói vài câu khiêm tốn thì bị Thiết Kình Ngư cướp lời. Tào Ưng cằn nhằn :

- Đừng dông dài nữa! Nếu Nghiên tiểu tử có thực tài thì mau đua kế sách giải cứu tù nhân xem nào?

Tào Ưng rất yêu mến ba ả họ Điền nên vô cùng nóng ruột! Nghiên Tái Thuần nghiêng nghiên cái đầu to tướng, nhìn vào mặt họ Tào, lúng túng đáp :

- Việc hệ trọng này thì tiểu điệt không dám lạm bàn, xin Tào sư thúc hãy hỏi gia sư! Trứng chẳng thể nào khôn hơn vịt đuợc!

Câu nói khiêm tốn, đắc sách này đã khiến sư phụ gã là Bất Trí thư sinh hài lòng. Trò hơn thầy là điều đáng mừng, song trong tâm tư người thầy chẳng trách đuợc chút tổn thương, chua xót!

Đây cũng là một trong những lý do khiến nhiều công phu võ học của Trung Hoa bị mai một. Trừ phi cha dạy con, kỳ dư ai cũng giấu lại một chiêu tối lợi hại để đề phòng học trò phản bội, và cũng để củng cố vị trí của bậc sư phụ. Họ chỉ truyền lại khi sắp qua đời, nên đôi lúc quá muộn vì những cái chết bất ngờ.

Cao Trường Toản cũng là kẻ khôn ngoan, biết lễ, quay sang hỏi các Chưởng môn chứ không nói ngay mưu kế của mình.

- Xin chư vị chỉ giáo!

Thông Thiên chân nhân, Chưởng môn phái Võ Đang lên tiếng :

- Bần đạo tuy bất tài nhưng cũng xin trình bày chút thiển ý! Nay đối phương âm thầm nắm giữ con tin để uy hiếp Tần công tử cùng các phái Bạch đạo, quyết buông một mẻ lưới mà tóm gọn võ lâm, song lại không ngờ chúng ta đã đoán ra độc kế! Do vậy, bần đạo chủ trương tiên hạ thủ vi cường, đột nhập Hắc Ưng cốc trước ngày lễ khai đàn để giải thoát ba vị nữ thí chủ họ Điền, xuất kỳ bất ý, công kỳ võ bị, hy vọng chúng ta sẽ thành công!

Hoàng Nghi Tuyệt ít khí mở miệng, giờ đây khẳng khái tán thành :

- Đạo trưởng dạy chí phải! Chúng ta chỉ còn cách ấy mà thôi! Tại hạ sẽ cùng Tần công tử xâm nhập Hắc Ưng cốc!

Thúy Sơn phụng phịu xen vào :

- Cả tiểu muội nữa! Hai người làm sao cõng đuợc ba?

Vô Ưu Cái khoát tay :

- Đừng tranh giành nữa! Hắc Ưng cốc bốn bề là vách đá dựng đứng, cửa ra thì hẹp, giờ đây lại đầy dẫy thủ hạ của Tứ Phạn Thiên cung và Huyết Tâm giáo, các ngươi có vào đuợc cũng không chắc cứu nổi người! Đấy là chưa kể đến võ công của Độc Biển Thước và Kỵ Ba Thần Quân! Một trong hai lão ấy mà đứng chặn cửa cốc thì ba ngươi cũng trở thành tù nhân!

Cử tọa nghe hữu lý, buồn bã thở dài. Nhương Thư nói với giọng thê lương :

- Chẳng lẽ chúng ta phải bó tay?

Vô Ưu Cái trợn mắt :

- Làm gì có việc ấy? Lão phu đã sẵn diệu kế rồi!

Đầu tháng sáu, các trấn gần chân núi Mộc Sơn cực kỳ nào nhiệt vì sự hiện diện của hàng trăm khách giang hồ. Tuy Cái bang đã phân phát thuốc giải độc, cảnh báo đám nạn nhân năm ngoái tránh xa Hắc Ưng cốc, song vẫn có một số ở lại vì hiếu kỳ và cũng vì thù hận. Bọn hảo hán ngang ngạnh này tức tối vì trúng kế Độc Biển Thước, chịu đau đớn suốt mấy tháng trời. Muốn khuynh đảo võ lâm, Độc Biển Thước chẳng thể chỉ dựa vào vài trăm tay kiếm của Tứ Phạn Thiên cung và Huyết Tâm giáo. Vì thế lão đã âm thầm thu phục rất nhiều cao thủ ở vùng phụ cận Thái Hàng sơn, thuộc ba phủ Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam! Với võ công và tài phóng độc kỳ tuyệt, Tả Nho Quan chẳng mất nhiều thời gian để khống chế đối tượng.

Giờ đây, những tay bá chủ, thổ nào, địa phương ấy đang lũ lượt kéo đến Mộc Sơn để dự lễ khai giáo, tất nhiên không quên mang theo vàng ngọc để tỏ lòng quy phục.

Đám hàng thần này đuợc đặc ân vào thẳng Hắc Ưng cốc nghỉ ngơi, không phải trọ bên ngoài.

Trưa mùng bảy, một trong số những thượng khách bất đắc dĩ ấy xuất hiện ở cửa Hắc Ưng cốc. Cánh rừng trận pháp trước cốc đã đuợc khai phá thành một con đường rộng hai mươi bước chân cho dễ đi lại.

Đoàn khách này gồm sáu người, y phục sang trọng nhưng chẳng hề đẹp mắt vì họ đều là những người tàn tật, chột mắt, cụt tay, cụt chân, mất mũi, mất hai lỗ tai...!

Thủ lĩnh của họ là một lão nhân ngũ tuần độc nhãn, dung mạo tuấn tú, lạnh lùng, râu ba chòm đen nhánh. Con mắt còn lại của lão sáng rực như sao, luôn làm chột dạ những kẻ yếu bóng vía.

Lão ta không thèm lên tiếng, chỉ búng một mảnh bái thiếp về phía ba người đang ngồi sau chiếc bàn gỗ ở mé hữu cửa cốc. Một trong ba người phụ trách lễ tân này chính là Hắc Lang Bành Đạo Nha, kẻ từng giữ chức Tổng quản Chính Khí trang. Họ Bành huơ tay chụp lấy, không mở xem đã cười ha hả, vòng tay thi lễ :

- Bổn Cốc vinh hanh đuợc đón tiếp ngọc giá của Tàn Khuyết môn! Tả giáo chủ vẫn thấp thỏm mong chờ Chu môn chủ mãi! Xin mời nhập Cốc!

Thì ra, lão già chột mắt này chính là Môn chủ Tàn Khuyết môn ở đất Giới Hưu phủ Sơn Tây, tên gọi Chu Tuế Nguyệt!

Vì sao Độc Biển Thước lại phải khổ công thu phục một bang hội toàn những người tàn phế làm gì? Xin thưa rằng bởi vì họ sở hữu mấy chục mỏ than trên đất Sơn Tây!

Chu Tuế Nguyệt vốn xuất thân con nhà thế gia vọng tộc, đất phong của tổ tiên rộng đến hàng ngàn dặm vuông, lại chứa đầy than đá nên rất giàu có.

Họ Chu mang bản chất anh hùng hiếu võ, hai mươi tuổi đã rời nhà hành hiệp, đến lúc bị cường địch đâm mù một mắt mới chịu về quê chăm sóc cơ nghiệp tổ truyền.

Cao nguyên Sơn Tây là một mỏ than vĩ đại nhất Trung Hoa. Số công nhân sống bằng nghề mỏ đông đến hàng trăm vạn. Riêng các mỏ của Chu Tuế Nguyệt ở Giới Hưu cũng có nữa vạn người!

Công nhân mỏ than thường mắc phải một thứ bệnh hiểm nghèo là phổi nhiễm bụi than. Chu Tuế Nguyệt thất thế liền đem tâm pháp nội công ra truyền cho họ để giảm thiểu tác hại của bệnh nghề nghiệp. Thế là có khá nhiều người đòi học luôn cả quyền cước, kiếm thuật. Tóm lại, hiện nay dưới trướng Chu Tuế Nguyệt có cả ngàn võ sĩ chứ chẳng chơi!

Tuy nhiên, do cảm khái thân phận, Chu Tuế Nguyệt lại đặc biệt ưu ái cho những kẻ tàn tật do những tai nạn dưới mỏ. Ông nuôi dưỡng, dạy dỗ họ tận tình, và quy tụ trong một tổ chức võ lâm có tên là Tàn Khuyết môn. Đồng thời, ông cũng tiếp nhận luôn những cao thủ võ lâm khác, quý hồ họ bị tàn tật!

Dù trên danh nghĩa, số môn nhân chỉ độ hơn trăm, song khi cần thì Chu Tuế Nguyệt lại có thể huy động cả ngàn công nhân mỏ của mình! Giới Hưu cách Thái Hàng sơn không xa, tất nhiên Thần Quang giáo chẳng thể bỏ qua việc thu phục một thế lực hùng mạnh là Tàn Khuyết môn. Do vậy, tháng trước, Độc Biển Thước đã đích thân đến Giới Hưu hạ độc vợ con và mẹ già của Chu Tuế Nguyệt để khống chế!

Tuy biết họ Chu chỉ miễn cưỡng hàng phục, song Tả Nho Quan rất coi trọng đối tác này. Gia tài khổng lồ của Chu Tuế Nguyệt là nhân tố sống còn, quyết định thành bại cho sự nghiệp Thần Quang giáo. Ngay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương cũng phải nhờ vào hầu bao của bọn đại phú đất Giang Nam mới đánh đuổi đuợc quân Mông Cổ đuợc cơ mà?

Vì thế, giờ đây dù thấy thái độ lạnh nhạt, trịch thượng của Chu Tuế Nguyệt, Hắc Lang vẫn không dám thất lễ. Bành Đạo Nha vội quát một ả tỳ nữ phía sau hướng dẫn khách nhập cuộc.

Có lẽ vì thiếu ngân sách nên các công trình trong Cốc đều bằng gỗ, lá, tuy trang nhã nhưng cũng là cơ ngơi của kẻ nghèo. Riêng tòa nhà ở chính giữa đước xây dựng kiên cố bằng gạch đá, mái lợp ngói đỏ, gồm đến hai tầng.

Đoàn đại biều Tàn Khuyết môn đuợc đưa tới khu mộc xá, chiếm lấy ba căn. Lát sau, có người đến mời Chu Tuế Nguyệt lên đại sảnh hội kiến Tả giáo chủ, tức Độc Biển Thước!

Chu Tuế Nguyệt đang ở chung phòng với gã thủ hạ mất hai vành tai. Gã này có dung mạo trông rất dữ tợn, bởi đôi lông mày xếch và rậm rạp, cùng chiếc mũi ưng cong khoằm. Dường như để che giấu khuyết điểm nên gã đã nuôi bộ râu quai nón um tùm, xanh tốt và lại còn xỏa tóc nữa!

Dẫu thế, rất nhiều người biết rằng Tiêu Trung Kiếm Ngụy Vô Cương là một kẻ thiếu đôi vành tai! Phải chăng họ Ngụy bị ai chặt đứt mà do trời sinh như thế.

Tiêu Trung Kiếm thành danh ở Lưu vực sông Phần, phủ Sơn Tây, từ năm mười chín tuổi. Bốn năm trước, lúc tròn ba chục, gã đến Giới Hưu xin gia nhập Tàn Khuyết môn, đuợc Chu Tuế Nguyệt nhận làm nghĩa đệ, phong cho chức vụ Tổng hộ pháp.

Hôm nay, khi đi vào hang cọp, Chu Tuế Nguyệt đã mang theo tiêu Trung Kiếm. Hai người vừa bước vào sảnh thì đuợc chủ nhân bước ra đón chào. Với thái độ trang trọng, vui vẻ và ân cần.

Ngoài Độc Biển Thước Tả Nho Quan còn có vài nhân vật nữa như Ngọa Long Tú Sĩ, tân Cung chủ Tứ Phạn Thiên cung Âu Dương Lãng, Hắc Lang Bành Đạo Nha, và đặc biệt nhất là ba nữ lang võ phục đen rất xinh đẹp, lúc nào cũng theo sát Tả Nho Quan như hình với bóng.Họ Tả tươi cười vài chào Chu Tuế Nguyệt, giới thiệu phe mình rồi mời khách vào bàn tiệc. Độc Biển Thước đã nghe nói về Tiêu Trung Kiếm nên không lấy làm lạ khi thấy gã tháp tùng Chu môn chủ.

Ngụy Vô Cương quả là một nam tử hán có cái tâm sắt thép, chẳng hề nhìn đến ba nữ lang Hắc y kia, dù nhan sắc của bọn tiểu thư nhà họ Điền đất Tế Nam vốn lừng danh thiên hạ! Giờ đây, tuy đôi mắt họ dại đi, cử động máy móc tựa người trong mộng, nhưng dung mạo vẫn như tiên nga giáng thế.

Vậy là Mã Lan, Bạch Cúc, Uyển Xuân đã bị trúng tà pháp, luôn quanh quẩn cạnh Độc Biển Thước, vai lại mang bảo kiếm như sẵn sàng bảo vệ chủ nhân. Phương pháp này hữu hiệu hơn là đem ba nàng nhốt vào ngục đá.

Chủ khách an tọa, Chu Tuế Nguyệt cười mát :

- Tả giáo chủ quả là nhân vật phong lưu, biết hưởng thụ, nên lúc nào cũng có nữ nhân bên mình!

Độc Biển Thước đắc ý đáp :

- Chu lão đệ không biết đấy thôi. Ba con bé này chính là bùa hộ mệnh của lão phu đấy! Đây cũng là cơ sở để lão đệ thêm tin tưởng vào sự thành công của lão phu!

Chu Tuế Nguyệt cười nhạt :

- Giáo chủ có quá lời chăng? Ba nữ nhân này lẽ nào lại có thể khắc chế Bạt Sơn Thần Lựu của phe Bạch đạo?

Tả Nho Quan vuốt râu cười khanh khách :

- Linh hồn của bọn chính phái là Tần Nhương Thư, đệ tử Phật Đăng Thượng Nhân, Bạt Sơn Thần Lựu cũng trong tay họ Tần. Nay lão phu thu phục ba ái thê của gã, liệu Nhương Thư còn dám kháng cự nữa hay không?

Chu Tuế Nguyệt khẽ giật mình sửng sốt, giơ ngón cái khen ngợi :

- Té ra là thế! Tài thao lược của Tả giáo chủ khiến Chu mỗ phải đê đầu bái phục và yên tâm hợp tác!

Lão dừng lời rồi nói tiếp :

- Nhưng còn Sơn Hải bang ở đất Sơn Đông thì sao? Bản lãnh và thế lực của Kỵ Ba Thần Quân đâu phải tầm thường?

Độc Biển Thước xua tay :

- Chu lão đệ cứ an lòng, Kỵ Ba Thần Quân đã cùng bổn giáo liên minh thề chia đôi thiên hạ. Ba ả họ Điền này cũng là do Thần quân cho mượn đấy!

Gương mặt cương nghị của Chu Tuế Nguyệt tươi tỉnh hẳn, lão vòng tay nói :

- Thế thì lão phu nguyện một lòng một dạ hợp tác với Tả giáo chủ, chẳng còn lo sợ nữa! Trước mắt, lão phu xin dâng ba vạn lượng vàng, nửa tháng sau sẽ cho người mang đến thêm năm vạn nữa. Chỉ mong Giáo chủ chớ quên lời hứa phúc họa cùng hưởng và ban thuốc giải độc cho gia mẫu cùng thê tử của Chu mỗ!

Dứt lời, Chu Tuế Nguyệt lấy ra một xấp ngân phiếu, đặt trước mặt Tả Nho Quan!

Độc Biển Thước khoan khoái cười ha hả :

- Chu lão đệ bất tất phải nhọc nhằn! Nửa tháng nữa lão phu sẽ đích thân đến Giới Hưu nhận vàng, nhân tiện giải độc cho quý quyến!

Chu Tuế Nguyệt bị đối phương nắm đằng cán mà vẫn mỉm cười :

- Tả giáo chủ đề phòng vô ích! Chu mỗ đã quyết tâm làm bá chủ đất Sơn Tây tất sẽ không tiếc của và không phản bội! Nếu sai lời, Chu mỗ nguyện chết dưới búa của Lôi Thần.

Tả Nho Quan thấy đối phương dám thề độc, mừng rỡ đáp :

- Chu lão đệ đã có lòng thành như thế khiến lão phu rất cảm động, và cũng xin thề với Lôi Thần rằng sẽ không quên công lao của lão đệ!

Hai người cùng đứng lên, xiết tay nhau để ký kết liên minh, ngửa cổ cười vang!

Độc Biển Thước rất vui vì có đuợc một kẻ giầu nứt đố đổ vách làm hậu thuẫn! Tuy nắm giữ mẹ và vợ con Chu Tuế Nguyệt. Song lão vẫn thấp thỏm vì sợ họ Chu tìm được Thần y giúp đỡ. Cao nhân tắc hữu cao nhân trị. Tả Nho Quan thừa hiểu thuốc độc của mình chẳng phải tuyệt đối không có giải dược. Muốn khống chế người khác, lão đã phải dùng thuốc độc mạn tính, phát tác chậm, do vậy, đủ thời gian cho một danh y nghiên cứu. Chỉ có thứ độc làm người ta chết tức khắc mới không có thuốc giải! Nay Chu Tuế Nguyệt cũng có tham vọng riêng, cam tâm thần phục, khiến Tả Nho Quan nhẹ cả lòng!

Vài món nhậu mới đã đuợc bưng lên, chủ khách vui vẻ mời nhau, khi ngà say, Chu Tuế Nguyệt tủm tỉm hỏi :

- Tả giáo chủ tuổi hạc đã cao, mà đêm đêm ôm ấp một lúc ba nữ nhân, tiểu đệ lấy làm lo ngại đấy!

Tả Nho Quan cười khanh khách :

- Lão phu làm gì có đuợc phúc phận ấy! Họ là báu vật của Kỵ Ba Thần Quân nên lão phu dù có thèm khát cũng đành phải cố nhịn! Tối đến là phải nhốt chúng vào phòng kế bên đấy!

Tiệc tàn, Môn chủ Tàn Khuyết môn và Tiêu Trung Kiếm ngất ngưởng trở về tiểu xá, lăn ra ngủ vùi, tiếng ngáy vang như sấm. Đến chiều ả tỳ nữ túc trực tiểu xá lên vào tin cho Giáo chủ được rõ. Độc Biển Thước hài lòng bảo Ngọa Long Tú Sĩ :

- Lỗ quân sư quá đa nghi đấy thôi, họ Chu vì danh lợi tất phải thực tâm hợp tác!

Lỗ Đăng Hân nhăn vầng trán rộng :

- Giáo chủ dạy chí phải! Lão phu vì chút linh cảm xấu nên đã lo xa!

Tả Nho Quan nhếch mép cười nham hiểm :

- Thực ra, lão phu còn lo xa hơn quân sư nên đã âm thầm hạ độc hai người ấy rồi!

Đã giữa canh ba mà Hắc Ưng cốc vẫn nhộn nhịp như ban ngày. Chuẩn bị cỗ bàn cho cuộc đại lễ sáng mai. Tiếng dao thớt rộn ràng, tiếng heo, gà, vịt vang lên inh ỏi, người qua lại tấp nập.

Cửa Cốc được phòng thủ cực kỳ nghiêm mật, dẫu một con chuột cũng chẳng thể lọt qua. Song trong cốc thì lại chỉ có vài toán tuần tra lấy lệ.

Thứ nhất là trong cốc toàn người nhà, thứ hai là bốn bề vách đá cao vời vợi chẳng sợ kẻ thù xâm nhập.

Tuy nhiên, chung quanh chính sảnh là một vòng đai võ sĩ dầy đặc, đứng im như tượng gỗ, để canh gác cho cuộc họp của Giáo chủ và các cao thủ đầu não.

Môn chủ Tàn Khuyết môn cung đuợc mời dự. Ngồi một hồi, lão đứng lên xin phép ra sau tiểu tiện. Tất nhiên chẳng ai nghi ngờ gì cả, Độc Biển Thước liền sai tỳ nữ dắt thượng khách đi.

Nào ngờ, khi vừa khuất sau bức bình phong cuối sảnh, Chu Tuế Nguyệt đột ngột vươn tay điểm huyệt ả nữ tỳ. Rồi họ Chu lấy ba vật lạ, nhắm phương vị cẩn thận, quăng về phía chiếc bàn lớn giữa sảnh.

Ba tiếng nổ kinh hoàng phát ra gần như một lượt, xé nát và hất văng cơ thể của những kẻ chậm chạp, đồng thời còn làm cho tòa đại sảnh rung chuyển mạnh, tường sập, ngói rơi.

Tuy nhiên, vẫn có ba kẻ thoát chết, đó là Độc Biển Thước, Ngọa Long Tú Sĩ và Cung chủ Tứ Phạn Thiên cung Âu Dương Lăng.

Theo nghi lễ của người Trung Hoa, ghế chủ vị nằm ở góc Đông nam của bàn. Tả Nho Quan ngồi ở đấy và hai người kia bên cạnh. Họ lại có võ công siêu phàm, cơ trí tuyệt luân nên phản ứng vô cùng thần tốc, vừa nghe tiếng Bạt Sơn Thần Lựu chạm nền gạch là tung mình nhảy ngược về phía cửa đại sảnh.

Song sức công phá khủng khiếp của hỏa khí đã làm họ bị trọng thương, máu miệng trào ra như suối. Ba người văng ra thềm trước, lồm cồm gượng đứng lên, càng thêm kinh hoàng khi nghe những tiếng nổ vang trời ngoài cửa cốc, cùng với tiếng reo hò như sấm của hàng ngàn kẻ địch.

Với uy lực của Bạt Sơn Thần Lựu, phòng tuyến ở giữa cốc mau chóng bị đánh thủng và phe đối phương kéo vào như thác lũ, đuốc thông sáng rực trời đêm.

Độc Biển Thước biết thế đã cùng, dậm chân than trời rồi đỡ hai người kia đào tẩu về phía sau. Lão có trăm năm công lực nên thương thế nhẹ hơn đồng đảng. Không có ai ngăn chặn nên bọn họ êm thắm chui vào một động ở sau vách núi. Lối ra vào này chỉ một mình Độc Biển Thước biết mà thôi.

Lúc đầu, đệ tử Thần Quang giáo chống cự quyết liệt, song mãi không thấy thủ lĩnh xuất hiện chỉ huy nên chẳng còn dũng khí nữa. Lại thêm những tiếng nổ long trời của hỏa khí khiến tinh thần bọn chúng thêm sa sút.

Muốn thoát ra cũng không đuợc vì cửa cốc chật hẹp đã bị trấn giữ bởi những cao thủ cực kỳ lợi hại.

Quần hùng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, ai nấy đều che mũi miệng bằng khăn bọc độc khí, nên chất độc Vô Hình của hai trăm kiếm thủ Tứ Phạn Thiên cung bị vô hiệu hóa. Tiếng reo hò ồn ào của trận đại loạn chiến vĩ đại cũng làm cho Ma âm của Huyết Tâm kiếm pháp mất tác dụng.

Lực lượng quần hùng võ lâm đông gấp bội nên hoàn toàn chiếm ưu thế, sát hại đuợc rất nhiều kẻ địch.

Đúng là cảnh máu chảy thành sông, tiếng rên la khiến lòng kẻ từ bi phải não ruột, Khánh Hỷ đại sư liền vận thần công “Sư Tử Hống” gọi hàng.

Thế là, trừ bọn ác ôn của hai tổ chức Thiên cung và Huyết Tâm giáo, kỳ dư đều buông vũ khí quy phục.

Trận huyết chiến đuợc thu nhỏ lại và những kẻ ngoan cố tiếp tục ngã. Thực ra, dẫu họ có đầu hàng cũng không tránh đuợc sự trừng phạt của nha môn, Tứ Phạn Thiên cung và Huyết Tâm giáo đứng đầu trong danh sách truy nã của triều đình!

Trong phe quần hùng, lợi hại nhất chính là Tiêu Trung Kiếm Ngụy Vô Cương. Gã hung thần này đã rút thanh kiếm bản nhỏ trong thân tiêu ra, gieo rắc cái chết nhanh chóng lên hàng ngũ địch.

Kiếm pháp của Ngụy Vô Cương đã đạt đến cảnh giới thượng thừa, nhanh như thiểm điện và ảo diệu vô song. Ngay cả lão Đệ tứ Hộ cung Chân khanh cũng không qua nổi hai mươi chiêu.

Tuy nhiên, trước khi chết lão cũng đạt được một kết quả khiêm tốn là nhận ra lai lịch đối phương. Lão kinh hãi quát vang :

- Phật Đăng kiếm pháp!

Lão từng đấu với Tần Nhương Thư ở Điền gia trang năm trước nên dễ dàng phát hiện cố nhân! Dù Tiêu Trung Kiếm không có vành tai, nhưng gã lại chính là Tần Nhương Thư, vì chỉ mình chàng sở đắc Phật Đăng kiếm pháp! Chàng phải mượn thân phận Tiêu Trung Kiếm, giấu hai vành tai nổi tiếng của mình mà vào hang cọp cứu ái thê.

Nhương Thư mỉm cười lạnh lẽo, rung kiếm đâm thủng ngực đối phương chẳng nể nang chút tình quen biết cũ.

Giết xong Đệ tứ Hộ cung Chân khanh, Nhương Thư lại đi tìm mục tiêu khác, như muốn tranh công với Hoàng Nghi Tuyệt, Bạch Thúy Sơn vậy.

Đến sáng thì cuộc chiến kết thúc, và lúc này bọn Vô Ưu Cái mới biết Độc Biển Thước cùng hai thủ hạ đắc lực đã thoát chết. Hầu Mộ Thiên rầu rĩ than thở :

- Trời không giúp ta nên mới để lão ác ma thoát khỏi mẻ lưới kín đáo này! Tả Nho Quang còn sống tất cả sẽ trả thù các phái bằng mọi giá!

Bất Trí thư sinh cũng ngao ngán :

- Đúng là số trời! Ba trái Bạt Sơn Thần Lựu nổ tung khoảng không gian chật hẹp của đại sảnh mà chẳng giết được lão ta!

Tàn Khuyết môn chủ dở mảnh da che mắt trái, vuốt mặt biến thành Dạ Tử Quách Tàn Bôi, rồi nghiêm giọng :

- Chắc chắn họ đào tẩu về Tứ Phạn Thiên cung ở Càn Sơn, chúng ta đuổi theo ngay biết đâu sẽ bắt kịp!

Nhương Thư bàn thêm :

- Nhân lúc Độc Biển Thước và Âu Dương Lăng đang thọ thương, tại hạ sẽ xâm nhập Thiên cung để diệt trừ họ!

Kế hoạch táo bạo này rất có cơ sở vì chàng không sợ độc và thừa sức phá vây để thoát đi. Song dẫu sao, một mình vào hang cọp cũng là liều linh, Phổ Chứng thiền sư ái ngại can ngăn :

- Tuy Tần thí chủ thần công tuyệt thế nhưng lão nạp vẫn chẳng yên lòng! Hay là chờ đến tháng bảy hãy hội quân tiến đánh Càn Sơn, lúc ấy Mông Hãn Hoa tàn úa, không tỏa ra độc khí!

Các danh y của phe Bạch đạo đã tìm ra đuợc thời điểm quý giá ấy, sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu.

Nhương Thư cười buồn :

- Chỉ sợ lúc ấy Tả Nho Quan đã bình phục, chẳng ai giết nổi nữa.

Mọi người công nhận chàng có lý song Vô Ưu Cái gạt đi :

- Khoan hãy tính đến việc ấy. Trước mắt phải cứu tỉnh ba con nha đầu họ Điền cái đã!

Chương 13: Càn Sơn Biển Thước nạn thiêm thọ - Vong ngã, vong dung hữu nhất nhân

Người Trung Hoa làm lịch dựa theo chu kỳ vận hành của mặt trăng, chia một tháng thành ba tuần: Thượng, trung, hạ. Nghĩa là mỗi tuần có đến chín hoặc mười ngày.

Đầu trung tuần tháng sáu, bọn Vô Ưu Cái về đến Lạc Dương. Ba nữ nhân họ Điền, nạn nhân của phép Nhiếp Hồn thuật, được đưa đến cơ sở mật của phe Bạch đạo.

Đấy chỉ là một dược đường nhỏ trên phố Tam Tạng, thưa khách vì vị đại phu họ Tạ kia bất tài, chữa đâu chết đó.

Thực ra, Tạ Y Chuyên chính là bậc thần y đất Triều Châu, phía Bắc tỉnh Phúc Kiến. Ông nghe theo lời thỉnh cầu của Vô Ưu Cái nên về Lạc Dương sinh sống, chủ trì việc nghiên cứu các loại thuốc độc của phe Hắc đạo, trong đó có Mông Hãn Hoa và Vô Hình Chi Độc của Tứ Phạn Thiên cung!

Tạ đại phu vốn có tài diệu thủ hồi xuân, nhưng Cái bang lại tung tin đồn nhảm để bảo toàn bí mật cho cơ sở. Rốt cuộc, bách tính quanh vùng chỉ đến mua thuốc chứ không dám để Tạ lang băm chẩn mạch kê toa.

Dưới trướng Tạ Y Chuyên còn có bảy tám vị lương y già nữa. Họ được nuôi dưỡng suốt đời, vừa nghiên cứu y thuật, vừa hưởng cảnh thanh nhàn trong tòa gia trang rộng rãi, u nhã ở phía sau An Dân đường.

Tạ gia trang nhiều phòng ốc nên Hoàng Nghi Tuyệt, Thúy Sơn và Bất Trí thư sinh cũng đến đấy ở luôn.

Hoàng Nghi Tuyệt đã vể Lưu Sơn, còn Dạ Quân Tử và Nghiên Tái Thuần đã đi Thiểm Tây, thực hiện kế hoạch xâm nhập hàng ngũ Âm Sơn giáo. Thiết Kình Ngư Tào Ưng cùng Tô Châu ngũ tặc thì đóng đô tại Tổng đà Cái bang.

Ba cô gái họ Điền bị phong tỏa chân khí và huyệt đạo tứ chi để Thiều Chân Thần Y chẩn bệnh. Họ không hề nhận ra người thân, ngơ ngác nhìn với ánh mắt sợ hãi, cứ như lọt vào tay kẻ cướp vậy.

Tạ thần y thăm mạch, cắm thử vày cây kim lên đầu Mã Lan. Không thấy hiệu quả, ông gượng cười nói với Nhương Thư :

- Nhiếp Tâm thuật của Kỵ Ba Thần Quân xuất xứ từ Thiên Trúc, thuộc loại tà pháp bí truyền, chẳng thể giải trừ ngay được mà cần có thời gian. Lão phu chỉ dám hứa thành công sau ba tháng, mong công tử lượng thứ cho.

Nhương Thư từng được nghe sư phụ nói về sự lợi hại của tà thuật này nên điềm đạm đáp :

- Tại hạ cũng hiểu được điều ấy, chẳng dám thúc bách, mong Tạ lão ca cứ từ tốn mà chữa trị.

Hai ngày sau, Nhương Thư dặn dò Thúy Sơn :

- Nàng hãy ở lại đây săn sóc bệnh nhân, ta phải đi ngay Tứ Phạn Thiên cung tiêu diệt Độc Biển Thước. Nếu để lão bình phục thì sau này sẽ không còn cơ hội nữa.

Thúy Sơn tái mặt song không dám ngăn cản, chỉ thỏ thẻ :

- Mong đại ca bảo trọng, đừng để bốn chị em tiểu muội phải đau khổ suốt đời.

Nhương Thư cảm động gật đầu, xách trường kiếm và tay nải nhỏ rời Tạ gia trang lúc trời còn mờ tối. Chàng không cho Bất Trí thư sinh biết, sợ lão sẽ ngăn cản. Vì vậy, sáng ra Cao lão dậm chân kêu trời, tất tả chạy sang Tổng đà Cái bang báo với Vô Ưu Cái.

Hầu Mộ Thiên mỉm cười :

- Lão phu đã tiên đoán rằng Nhương Thư sẽ hành động như thế. Tuy y hơi ngốc nhưng cốt cách anh hùng, chẳng biết sợ là gì, tất sẽ noi gương Phật Đăng Thượng Nhân mà dấn thân vào chốn long đàm hổ huyệt. Thực ra, Nhương Thư đi là đúng vì đây là thời cơ tốt nhất. Vả lại, nội bộ tà ma ở Càn Sơn đang lủng củng, có thể đi đến cuộc tương sát giữa Âu Dương Lăng và Độc Biển Thước. Nhương Thư đi chuyến này không chừng sẽ phá tan được cả ổ quỷ đấy.

Bất Trí thư sinh cười mát :

- Tiểu đệ lấy làm lạ khi thấy lão ca chẳng hề lo lắng cho Nhương Thư?

Hầu Mộ Thiên nghiêm sắc mặt :

- Nào phải lão phu vô tình, song y đã kế nghiệp Phật Đăng Thượng Nhân là chấp thuận gác ngoài sanh tử, để lo cho đại cục võ lâm, ngay bản thân lão phu cũng lao tâm khổ trí suốt ba chục năm nay, nào có được an nhàn một khắc nào đâu?

Cao Trường Toản nghe lời chính khí vội vái dài, chậm rãi nói :

- Tiểu đệ vì tình riêng với Nhương Thư mà quên cả đại cục, quả là đáng hổ thẹn. Tuy nhiên, gần đây thần sắc Tần hiền đệ u ám, ấn đường phủ mây đen, e rằng sẽ gặp nạn.

Vô Ưu Cái tái mặt, trầm ngâm một lúc rồi nghiến răng hỏi lại :

- Chuyện đã lỡ, lão phu muốn biết liệu y có sống mà trở về hay không thôi?

Cao Trường Toản bấm tay tính toán, tư lự hồi lâu mới đáp :

- Tuyệt xứ phùng sinh! Y chẳng thể chết được.

Vô Ưu Cái gật gù :

- Y còn sống là đủ rồi! Lão đệ hãy về Tạ gia trang để ta họp hội đổng trưởng lão.

Cao Trường Toản đi rồi, Vô Ưu Cái ngồi lặng người, suy nghĩ rất lung.

Nhắc lại, Nhương Thư rời Lạc Dương lên hướng Bắc. Chàng hóa trang thành Tiêu Trung Kiếm Ngụy Vô Cương nên chẳng sợ hào kiệt võ công nhận ra.

Tàn Khuyết môn chủ Chu Tuế Nguyệt là bái đệ của Vô Ưu Cái nên đã vui lòng hợp tác để giáng cho Độc Biển Thước một đòn chí tử.

Ngay sau người thân bị Tả Nho Quan hạ độc, Chu môn chủ đã thông báo cho Hầu Mộ Thiên biết. Hầu bang chủ đã cử Tạ thần y đi ngay Giới Hưu đối chứng lập phương giải độc, nhưng lại dặn Chu Tuế Nguyệt cứ giả vờ như vẫn còn bị khống chế. Ông định đưa họ Chu vào làm nội gián trong Thần Quang giáo, nào ngờ, ba chị em họ Điền bị bắt nên phải sử dụng ngay vũ khí bí mật này!

Thanh kiếm bản nhỏ, vỏ là đoạn tiêu sắt, chính thị vũ khí tùy thân của Ngụy Vô Cương chứ chẳng phải đồ giả. Họ Ngụy đã khẳng khái tặng luôn cho Nhương Thư sử dụng.

Vai trò của Tàn Khuyết môn trong cuộc chiến ở Hắc Ưng cốc không được nhiều người biết đến, ngoài bọn Độc Biển Thước và các Chưởng môn Bạch đạo. Do vậy, Nhương Thư có thể bình yên thoát khỏi những lời tán tụng của thiên hạ. Bọn hào khách gặp chàng cũng chỉ vẫy tay chào qua loa vì chút tình cùng nhau chiến đấu mà thôi. Họ không biết Tiêu Trung Kiếm là Tần Nhương Thư.

Giờ đây, thanh danh của Nhương Thư vang dội khắp nơi vì đã phá hủy được Thần Quang giáo. Thực ra, công đầu thuộc về Bang chủ Cái bang Hầu Mộ Thiên, những tiếng nổ long trời của Bạt Sơn Thần Lựu đã khiến người ta chỉ nhớ đến Tần Nhương Thư. Không có Thần lựu của chàng thì kế hoạch kia chẳng thể thành công.

Từ đầu tháng đến nay, đâu đâu cũng xôn xao kể cho nghe về chiến thắng Hắc Ưng cốc. Hàng ngàn hảo hán có mặt đêm ấy đã không quên vỗ ngực kể lể, nhân tiện khoe rằng mình đã tham gia.

Trưa mười hai, Nhương Thư sang đất bờ Bắc Hoàng Hà, một mình dong ruổi dưới ánh nắng gay gắt và những trận mưa hạ tầm tã như trút nước.

Hành trang của chàng là tay nải nhỏ chứa y phục, sáu trái Bạt Sơn Thần Lựu và hình bóng của ái thê. Không phải chỉ ba đôi mắt lạc thần, si dại mà có cả dáng vóc yêu kiều của người quá cố là Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc.

Chiều xuống, khói lam từ bếp của những nếp nhà tranh đơn sơ bên bia rừng bốc lên, quyện với sương lạnh, hờ hững, bãng lãng trên tàn cây, nhắc nhở đến một cuộc sống gia đình êm đềm mà chàng chưa bao giờ được hưởng.

Sau mười mấy năm nương nhờ cửa Phật, tu hành trai giới, chàng lại lao ngay vào cuộc sống giang hồ sóng gió và tanh máu, chẳng một ngày yên ả. Nhương Thư thở dài, chua chát thầm nghĩ :

- “Tứ đại giai không, vạn vật vô thường, sao ta lại phải bôn ba lận đận làm gì nhỉ? Kẻ nào gieo nhân ác, sẽ gặt quả xấu, ta có quyền gì mà đem báo ứng đến cho họ? Phật tổ Như Lai nào có dạy đệ tử dĩ sát chỉ sát?”

Nhương Thư bỗng xấu hổ khi nhớ đến ân sư. Suốt đời hành hiệp, tạo phúc cho bách tính, ông chưa hề giết một ai cả. Chính bởi chàng bất tài nên mới phạm giới sát, máu nhuộm đỏ đôi bàn tay từng Thanh Đăng Cổ Phật.

Tiếng chuông chùa từ đâu vọng lại làm Nhương Thư rùng mình vì hối hận, đau đớn kêu lên :

- Ân sư! Đồ nhi đã sai rồi!

Trong tâm trạng hoang mang, Nhương Thư quên cả việc bóng chiều ngã dần để nhường chỗ cho đêm tối. Chàng lỏng dây cương, lững thững phi nước kiệu, mặc cho tiếng chim về tổ hối thúc trên cao. Nhương Thư trân trối nhìn đỉnh Càn Sơn phía xa, đang che khuất vầng dương để những đường nét được viền một dải ánh hồng rực rỡ. Chàng phân vân chẳng biết có nên đến đây nữa hay không, vì sáu trái Bạt Sơn Thần Lựu sẽ rút ngắn chu kỳ hạn quả của hàng trăm thủ hạ Tứ Phạn Thiên cung.

Được vài dặm, Nhương Thư gương mặt vì tiếng sột soạt ở bìa rừng mé hữu. Chàng quay sang nhìn và phát hiện một con đường mỏn nhỏ, dẫn đến ngôi chùa cổ đang thấp thoáng không xa, có lẽ tiếng chuông lúc nãy xuất phát từ đây?

Ăn năn vì sát nghiệp nặng nề, Nhương Thư khao khát được quỳ trước Phật đường mà sám hối. Chàng mừng rỡ rẽ vào Phật đường.

Nhương Thư buồn rầu nhìn ngôi cổ tự hoang phế, tiêu điều, đầy cỏ dại. Lòng tự hỏi vì sao nơi hoằng dương đạo pháp, giáo hóa chúng sinh lại đến nỗi này?

Và tiếng hổ gầm đâu đó đã giải đáp thắc mắc của Nhương Thư. Chính bầy ác thú đã xua đuổi tăng lữ ra khỏi chùa.

Chàng bâng khuâng xuống ngựa bước vào đại điện, nhận ra các pho tượng Phật đều đã biến mất. Bảng gỗ mục nát nằm lây lất trước hiên vẫn còn lờ mờ ba chữ Đồng Phật tự, nghĩa là trước đây chùa này thờ Phật đúc bằng đồng. Phải chăng bọn trộm cướp đã khiêng cả tượng đi bán rồi?

Nhương Thư vén áo đảnh lễ tòa sen trống không rồi bẻ nhành cây quét dọn mạng nhện và bụi bặm. Với khinh công xuất chúng và kình lực của đôi tay mạnh mẽ, chàng bay lượn khắp nơi, múa tít nhánh cây đầy lá, tạo nên những trận cuồng phong thổi bay bụi đất ra ngoài.

Nhương Thư nghĩ một lúc, trăng lên rồi cặm cụi nhổ sạch cỏ dại, bụi rậm trên mảnh sân gạch quanh chùa.

Chàng say mê làm đến nửa đêm mới xong, hài lòng nhảy xuống mảnh ao sau chùa tắm gội. Đã quen tịnh cốc, Nhương Thư có thể nhịn đói vài ngày, huống hồ một bữa tối nay. Chàng ung dung gom cành khô nhóm lửa trước sân và ngồi cạnh đấy ngắm vẩn trăng mười bốn khá tròn trịa, như chiếc đĩa ngọc đang ban phát ánh sáng nhạt nhòa để vỗ về giấc ngủ của cây rừng.

Tiếng côn trùng mùa hạ rỉ rả chung quanh chợt nhác chàng nhớ đến tiếng chuông ban chiều. Trong chùa không có chuông, vậy âm thanh kia từ đâu vọng lại? Là người học võ, tai mắt vô cùng minh mẫn, chàng có thể xác định tiếng chuông xuất phát từ khu vực này, chẳng thể xa hơn được.

Nhương Thư chợt chấn động vì một linh cảm kỳ lạ, liền niệm Phật rồi tọa thiền. Trong cảnh giới tĩnh lặng, trước mắt chàng hiện ra cảnh một nhà sư vặm vỡ đang vác từng thân cây to lớn về cho đám thợ mộc đẽo gọt. Bắp thịt ông nổi lên cuồn cuộn dưới lớp tăng bào, biểu hiện một sức mạnh kinh hồn.

Sau đó đến cảnh ngôi chùa được hoàn thành, ngày sóc, ngày vọng nghi ngút khói hương, đông đúc tín đồ đến nghe thuyết pháp. Nghe xong, gương mặt họ đầy vẻ từ bi, vui vẻ trở về khu làng ở phía Tây chùa. Ngày thường, nhà sư dạy chữ và đạo nghĩa cho lũ trẻ.

Thời gian trôi đi, vị hòa thượng kia đã già, đang quỳ trước Phật đường, nghiêm trang khấn vái :

- Nay bọn ác thú từ phương xa đột nhiên đến lộng hành quanh chùa, xua đuổi bách tính khiến việc hoằng dương Phật pháp bị gián đoạn, đồng thời đành phạm giới để tiêu diệt chúng. Dẫu kiếp này đệ tử không thành Phật cũng giúp cho hàng ngàn người thấm nhuần giáp pháp, nuôi dưỡng thiện căn.

Khấn xong, ông xách thiền trượng đi vào rừng đánh nhau với bọn mãnh hổ. Nhà sư giết được vài con nhưng không may vấp rể cây ngã xuống và bị ác thú vồ. Chúng xâu xé thân hình của lão hòa thượng với vẻ thỏa mãn khôn cùng.

Cảnh cuối là xóm làng phía Tây kia. Giờ đây, tiếng cãi cọ, chửi bới vang lên hàng ngày, vẻ mặt ai cũng đầy nét hung ác, tham lam. Họ không đi chùa, đi học nữa vì sợ cọp và cũng vì chẳng có sư trụ trì. Thay vào đó, họ đến sòng bài, kỹ viện và quán nhậu. Phong hóa, đạo đức suy đồi nên có cả những cảnh con giết cha, vợ giết chồng.

Nhương Thư giật mình mở mắt, bàng hoàng suy nghĩ. Lát sau, chàng nghiêm trang, kiên quyết phát nguyện :

- Kiếp này đệ tử nguyện tận lực giáng ma vệ đạo để chúng sinh được yên lành dưới bóng từ bi của Phật pháp, dẫu phải đọa A Tỳ cũng cam tâm.

Nhương Thư thanh thản nằm xuống đi vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, chàng lên đường, thầm nhủ sẽ trở lại trùng tu chùa, tiêu diệt đàn mãnh hổ và tìm vài nhà sư đến Đồng Phật tự chấn hưng Phật pháp, dạy dỗ trẻ thơ.

Con đường đến Càn Sơn chìm trong những cánh rừng bạt ngàn cạnh bờ Bắc Hoàng Hà, thỉnh thoảng mới có một làng nhỏ. Khi chỉ còn cách sào huyệt đối phương chục dặm, Nhương Thư xóa bỏ lớp hóa trang, búi tóc lên và kéo sụp nón tre rộng vành xuống. Dung mạo thực của chàng chẳng đến nỗi dọa khiếp lão chủ nhân của một quán trọ nhỏ dọc đường.

Đường vắng, khách thưa nên lão chủ nhân, kiêm chưởng quỹ, kiêm tiểu nhị của An Bình lữ điếm vô cùng mừng rỡ, cúi rạp người chào đón.

Đêm nay trăng đã tròn xoe, rực rỡ trên cao, soi rõ bước chân của khách dạ hành. Nhương Thư rời quán trọ, trổ khinh công lướt nhanh về hướng núi Càn Sơn. Chàng đã nhiều lần được nghe Vô Ưu Cái miêu tả sào huyệt Tứ Phạn Thiên cung nên chẳng hề bỡ ngỡ.

Cuối canh hai, Nhương Thư đã có mặt ở chân núi, êm thắm vượt qua cánh rừng nồng nàn mùi hương độc hại của Mông Hãn Hoa. Dưới ánh trăng bàng bạc, tòa nhà đá ba tầng đồ sộ kia kiêu hãnh vươn cao những góc ngói cong vút, chạm trổ hình đầu rồng. Chung quanh thạch cung là hàng trăm tiểu xá, tiểu việc xinh đẹp, tường gạch, mái ngói khang trang.

Nhương Thư không biết Độc Biển Thước ngủ ở đâu nên tìm đến nhà bếp để hỏi thăm. Nội gián của Cái bang chính là đầu bếp của Tứ Phạn Thiên cung, tên gọi Đồ Tắc Thông.

Họ Đồ đã gởi tin về Lạc Dương báo rằng thương thế của Độc Biển Thước rất nặng và dường như Kim Mẫu Trác Phụng Hoan đang muốn nhân cơ hội này sát hại Tả Nho Quan, giành lại cơ nghiệp Thiên cung. Tuy bà bị Phật Đăng Thượng Nhân phế bỏ võ công, song dưới trướng vẫn còn mấy lão Hộ cung Chân khanh võ nghệ cao cường và rất trung thành.

Nhương Thư phát hiện những toán mai phục ở quanh thạch cung và khu hậu viện, nhưng cho rằng họ phòng thủ là phải đạo.

Sau nhiều lần dụng kỳ trân như Thủy Xà Giác Huyết, Hồng Vĩ Hắc Dâm Ngư, nhãn quang Nhương Thư cực kỳ tinh tường, luôn nhìn thấy đối phương trước. Nhờ vậy, chàng dễ dàng vượt qua những chốt gác, đến được nhà bếp ở cạnh vườn hoa phía sau.

Lạ thay, ở nơi không quan trọng này cũng có phục binh, cứ như chúng đoán được rằng chàng sẽ đến tìm Đồ Tắc Thông vậy? Nhương Thư lo lắng cho an nguy họ Đồ, ẩn mình phía sau phòng tuyến mai phục mà suy nghĩ.

Chàng vận công nghe ngóng, nhờ gió Nam mà loáng thoáng nghe được tiếng đối thoại trong bếp. Giọng nói quen thuộc ấy chính là của Tả Nho Quan :

- Này Đồ lão đệ! Ngươi đã gởi tin giả về Lạc Dương, sao không thấy tiểu tử họ Tần đến?

Người kia bật cười, nói hơi lớn :

- Tả giáo chủ nóng ruột làm gì, nếu Nhương Thư trúng kế khởi hành thì Vô Ưu Cái sẽ phải báo tin cho tại hạ biết để phối hợp hành động. Mấy đêm nay, Giáo chủ bắt bọn thuộc hạ phải thức trắng thật uổng công. Vô Ưu Cái tuyệt đối tin tưởng tại hạ, tất sẽ bảo Nhương Thư đến tìm.

Nhương Thư không ngờ Đồ Tắc Thông lại phản bội Cái bang, lòng vô cùng đau đớn và chán ngán cho tình đời. Chàng đã thầm mừng vì đã lén ra đi chứ không bàn với Vô Ưu Cái, nên Hầu bang chủ chẳng kịp báo tin cho họ Đồ biết. Chim câu không thể bay đến Càn Sơn gây sự nghi ngờ, người đưa thư đã chậm hơn chàng một bước.

Đồ Tắc Thông nói tiếp :

- Giáo chủ cứ để anh em nghỉ ngơi đêm nay cho lại sức, sáng mai tại hạ xuống trấn mua thực phẩm thế nào cũng nhận được tin.

Độc Biển Thước nghe có lý, bước ra bảo bọn kiếm sĩ Thiên cung :

- Các ngươi hãy truyền lệnh giải tán, nhưng nhớ khi ngủ phải để vũ khí bên cạnh.

Bọn này đang ngáp ngắn ngáp dài, mừng rỡ đứng lên, ra ngoài truyền đạt lệnh xả hơi của thủ lĩnh.

Tả Nho Quan lại quay vào bếp nói chuyện với Đồ Tắc Thông. Nhương Thư mừng rỡ chờ toán mai phục đi khuất mới áp sát khung cửa sổ của tường bếp.

Nhận ra Tả Nho Quan và Đồ Tắc Thông đang đối ẩm ở góc Đông nam. Nhương Thư móc hai trái Bạt Sơn Thần Lựu, bấm chốt rồi ném thật mạnh. Hỏa khí chạm vào tường gạch cứng tất sẽ phát nổ lớn hơn.

Song Tả Nho Quan phản ứng cực kỳ thần tốc và xảo quyệt vì nghe tiếng động quen thuộc đã túm lấy Đồ Tắc Thông làm mộc che thân. Bay ngược về hướng Tây. Tuy nhiên, sức ép kinh hồn của Thần lựu đã làm dập phổi ác ma, đẩy lão văng đến tận bức tường bếp.

Tả Nho Quan buông xác Đồ Tắc Thông, cố gượng đứng lên đào tẩu nhưng trái Thần lựu thứ ba đã bay đến xé nát cơ thể của lão và đánh sập luôn nửa gian bếp còn lại.

Nhương Thư không dám vào vì tường bếp đang sập từng mảng, ngói rơi như mưa, đành phí thêm hỏa khí để kết liễu đời ác tặc.

Biết đã thành công, Nhương Thư lao vút về phía trước, chạy như bay trên những mái ngói, để tránh việc giết người.

Chiêng báo động vang trời, đèn đuốc sáng rực, át cả ánh trăng rằm. Âu Dương Lăng đích thân chỉ huy cuộc truy bắt thích khách, nhưng bọn thủ hạ chỉ hô hoán chứ không dám đến gần Nhương Thư. Uy lực của Bạt sơn Thần Lựu đã khiến họ thất kinh hồn vía.

Nhương Thư đã đến tòa thạch cung ba tầng, ném một lúc hai trái Thần lựu làm cho công trình rung chuyển dữ dội rồi bốc cháy.

Thấy cơ ngơi tổ truyền bị phá hủy, Âu Dương Lăng điên tiết huy động bọn Hộ cung Chân khanh bao vây Nhương Thư, mặt khác hô hào thủ hạ chữa cháy.

Chàng trai họ Tần vẫn còn hỏa khí, nắm chặt trong tay tả rồi múa kiếm phá vây. Nhương Thư chỉ cần giơ cao ống đồng đáng sợ ấy lên đe dọa là đối phương dạt cả ra, không dám liều mạng chặn đường nữa. Vạn cỗ tử vi nan, dẫu là con sâu cái kiến cũng ham sống, huống hồ là con người?

Chẳng mấy chốc, Nhương Thư đã vào được cánh rừng, thoát đi an toàn. Âu Dương Lăng uất ức mắng chửi :

- Tần Nhương Thư! Ta thề sẽ phân thây mi thành ngàn mảnh nhỏ.

Nhương Thư mỉm cười thầm nghĩ :

- “Nay Độc Biển Thước đã chết, trước sau gì ngươi cũng bỏ mạng vì chất độc trong người thôi.”

Chính vì lý do này mà chàng chẳng cần phải đích thân tiêu diệt Cung chủ Tứ Phạn Thiên cung. Nhương Thư còn hy vọng sau cái chết của Âu Dương Lăng, Thiên cung sẽ tan rã và võ lâm bớt đi một mối họa.
Chạy đã khá lâu mà không ra khỏi được khu rừng. Nhương Thư suy nghĩ và hiểu rằng mình đã vô tình lạc dần về hướng Tây bắc Càn Sơn, nơi mà rừng phủ che trùng điệp, chẳng hề có đường đi.

Vần trăng rằm đã bị mây đen che phủ, chuẩn bị đổ mưa, không gian dưới tán rừng tối đen như mực, chẳng thể nhân định phương hướng được. Nhương Thư đành tìm chỗ nghỉ ngơi và trú mưa, chờ ánh dương quang ló dạng rồi sẽ tính.

Chung quanh toàn những cây tùng suông đuột, Nhương Thư chạy tiếp để kiếm cái cây nào có chạng ba. Sấm sét nổi lên đùng đùng, ánh chớp liên tục lóe sáng khiến không gian nhập nhoạng nên Nhương Thư đã không nhận rõ địa hình trước mặt. Khi chàng phát hiện bước chân bị hụt hẫng thì đã quá muộn.

Mặt đất cứ như đột nhiên bị nứt ra, Nhương Thư rơi xuống một khe sâu hun hút và đen tối. Chàng kinh hãi than thầm, chỉ còn cách dồn hết chân khí xuống song cước, còn hay tay dang rộng, cố nắm lấy bất cứ vật gì.

Nhưng khác với lần trước, Nhương Thư rơi quá xa cách bờ vực nên không chạm phải cây cối, cứ thế gieo thẳng xuống đáy vực. May thay, chàng hạ thân xuống đúng vùng trũng nhất, đang đầy ắp nước của những cơn mưa vừa rồi. Do sức căng mặt nước, xương chân Nhương Thư gãy răng rắc, song phủ tạng chẳng thương tổn gì. Chàng mừng rỡ cố trồi lên, dùng tay bơi về về một hướng. Đến được bờ của vũng nước, lần mò kiểm tra cơ thể.

Nhương Thư thở phào vì thấy chỉ có xương đùi bị gãy, chắp tay cảm tạ Phật tổ Như Lai rồi nằm xuống nghỉ ngơi. Chàng đã sửa cho hai đoạn xương gẫy trở về chỗ cũ, nhưng phải bất động khá lâu mới bình phục được.

Gần trưa, Nhương Thư thức giấc, chàng nhẹ nhàng ngồi lên quan sát địa thế vực thẳm, tự nhủ rằng khe núi dài thườn thượt này chắc chắn phải có lối ra. Bề rộng của vực rất lớn, cây cối um tùm nên chẳng thiếu dưỡng khí. Chỉ cần tìm được thực phẩm cầm cự đến lúc xương chân liền lại là chàng có thể trở lên mặt đất.

Thú nhỏ ở dưới khe khá nhiều, Nhương Thư dùng sỏi trổ tài phóng ám khí mà săn thịt. Nửa tháng sau, chàng có thể tỳ vào hai đoạn gỗ mà đi lại thám sát địa hình. Té ra vực thẳm này chỉ có thể thoát ra bằng cách trèo qua vách. Độ cao hai chục trượng của đoạn vách phía Nam chẳng làm khó được Nhương Thư nếu chàng lành lặn. Song với đôi chân yếu ớt hiện nay, chàng đành phải bó tay, kiên nhẫn đợi chờ.

Thời gian cứ thế chậm chạp trôi qua, rồi cũng đến rằm tháng bảy. Đêm ấy, Nhương Thư nghe được những tiếng nổ ì ầm từ hướng Càn Sơn vọng lại.

Vậy là người thân của chàng vì lo lắng mà cầu viện đến quan quân Hà Nam, mang đại pháo mở đường tiến vào Thiên cung. Ở thời điểm giữa tháng bảy hàng năm, Mông Hãn Hoa héo tàn, rơi rụng và không có độc tố.

Nhương Thư đoán đúng, sự thất tung của chàng đã khiến Vô Ưu Cái phát điên lên, tụ hội quần hùng phối hợp với quan quân mà báo phục.

Ông đích thân đi điều tra, phát hiện Nhương Thư từng trọ ở An Bình lữ điếm, gởi ngựa và hành ký rồi rời nơi ấy đêm mười bốn tháng sáu.

Trinh sát Cái bang ở Sơn Trấn phía Nam núi Càn cũng xác nhận việc Thiên cung có tiếng nổ và phát hỏa giữa đêm mười bốn. Hôm sau, người của Thiên cung xuống trấn mua hai cỗ quan tài, không biết dành cho ai? Việc khó hiểu nhất là sự bặt tăm của Đồ Tắc Thông, kẻ làm nội gián cho Cái bang. Dường như lão đã chết vì Thiên cung có đầu bếp mới. Đường chính dẫn vào Thiên cung xuyên rừng theo hướng Bắc Nam, chỉ rộng mười bốn bước chân và được phòng thủ nghiêm mật. Bọn Vô Ưu Cái tiến vào bằng lối này, nhờ đại pháo mà mau chóng đè bẹp sự kháng cự của đối phương.

Biết thế đã cùng, Âu Dương Lăng quyết định bỏ của chạy lấy người, mặc cho sào huyệt bị san phẳng.

Thiết Kình Ngư may mắn bắt được một gã thủ hạ Thiên cung, đem ra tra khảo. Gã quắc đôi mắt hổ nghiến răng đe dọa :

- Nếu ngươi không thành thực khai báo thì lão gia thề sẽ bẻ gẫy từng đốt xương của ngươi đấy.

Vẻ hung ác của ánh mắt đổ lửa đã khiến gã tù binh run bần bật, thề thốt rằng sẽ chẳng nói láo nửa lời. Nghe hỏi, gã liền kể lại cuộc chiến đêm mười bốn tháng sáu, khẳng định Tần Nhương Thư dùng hỏa khí giết xong Độc Biển Thước và Đồ Tắc Thông, thoát đi an toàn.

Vô Ưu Cái ngơ ngác :

- Lạ thực! Thế thì y đi đâu mà không trở về Lạc Dương?

Bất Trí thư sinh cau mày hỏi gã tù binh :

- Thế lúc thoát ra, Tần Nhương Thư đi theo hướng nào?

Gã kia đáp ngay :

- Dạ bẩm hướng Nam.

Thực ra gã không hề biết nhưng vẫn sốt sắng trả lời để khỏi ăn đòn. Nhương Thư càng nhiều hy vọng sống sót thì mạng gã may ra mới vẹn toàn. Trong lòng, gã cũng đoán rằng tên tiểu tử họ Tần kia không thấy đường nên rơi xuống vực thẳm trong khu rừng rậm phía Tây bắc. Nhưng gã dại gì mà khai để mang họa vào thân.

Phương trượng chù Thiếu Lâm, Khánh Hỉ đại sư cũng có mặt trong cuộc chinh phạt này. Ông hiền hòa bảo :

- Tần thí chủ phúc tướng sâu dầy, chẳng thể yểu mạng được. Dẫu có gặp tai ương cũng sẽ vượt qua, chư vị bất tất phải quá lo lắng như thế.

Ông nói vậy thì thấy Bạch Thúy Sơn nhỏ lệ khóc như mưa. Nàng không khóc thành tiếng nhưng sắc diện cực kỳ thống khổ khiến ai cũng phải mủi lòng. Thúy Sơn đã mang theo một dải khăn tang, chỉ cần xác định được rằng Nhương Thư về suối vàng là nàng sẽ tự sát đuổi theo ngay.

Nay thực hư chưa rõ, Thúy Sơn tuy tràn trề hy vọng nhưng nỗi khổ đau chẳng hề giảm sút. Bất giác nàng đau đớn gọi vang :

- Nhương Thư! Chàng ở đâu?

Hoàng Nghi Tuyệt nghe tin Nhương Thư thất tung đã vội đến Lạc Dương để cùng tham gia chiến dịch càn quét Thiên cung. Gã là kẻ có tính tình cô độc, chỉ xem mình Nhương Thư là bằng hữu sinh tử chi giao, cho nên, cái chết của chàng là nỗi mất mát lớn lao nhất đời, chẳng thua gì lúc Đao Đế thăng thiên.

Song gã là nam nhi nên không bi lụy như đàn bà, bình tâm suy nghĩ và buột miệng nói :

- Nhương Thư còn một trái Bạt Sơn Thần Lựu, dẫu gặp bất cứ cao thủ nào cũng không đáng sợ.

Mọi người tán thành, yên tâm rút quân, sau khi phá hủy tất cả những công trình lớn nhỏ của Thiên cung. Tội cho tòa thạch cung, đang sửa chữa dở dang thì lại bị đại pháo bắn sập.

Hoàng Nghi Tuyệt đã không ngờ rằng Bạt Sơn Thần Lựu cũng có lúc vô dụng. Sáng hôm ấy, khi nghe tiếng đại pháo ngưng nổ, Nhương Thư biết phe nhà đã thành công, liền ném trái Thần lựu để gây sự chú ý của người thân.

Chàng vận toàn lực tung mạnh hỏa khí lên miệng vực, nhưng chân gẫy chưa lành, không thể xuống tấn, chỉ tựa vào đoạn cây ở vách trái nên lực đạo không đủ. Thần lựu chỉ bay đến gần mép vực thì rơi xuống, còn cách mặt đất bốn trượng, chạm phải tảng đá lồi và phát nổ.

Tất nhiên tiếng nổ kia chỉ làm điếc tai Nhương Thư chứ không đi xa được. Vả lại, khe sâu này cách Càn Sơn đến mười mấy dặm rừng dầy đặc. Chàng cố vớt vát bằng cách vận công hú vang.

Lạ thay, có tiếng người phúc đáp ngay lập tức :

- Tiểu tử kia, ngươi là ai mà dám đến đây quấy nhiễu lão phu? Chỉ chút nữa là ta tẩu hỏa nhập ma rồi.

Lời chửi mắng kia xuất phát từ một động khẩu trên vách cách vực trước mặt Nhương Thư, cách đấy chừng ba trượng, khá gần với chỗ mà Bạt Sơn Thần Lựu phát hỏa.

Trước đây, động khẩu này bị dây leo che phủ chằng chịt nên Nhương Thư không thể ngờ rằng có người cư trú. Chắc ông ta là bậc kỳ nhân tuyệt thế.

Trong cảnh tuyệt vọng mà gặp người thì còn niềm vui nào bằng. Nhương Thư hoan hỉ vái dài :

- Bẩm tiền bối! Vãn bối bị rơi xuống vực không sao lên được nên đành phải dùng hỏa khí để cầu cứu. Mong tiền bối tha thứ cho tội quấy nhiễu chốn thanh tu.

Người kia giận dữ nhảy xuống, hạ thân êm ái như lá mạ trên mặt cỏ. Ông ta nhảy đông đổng chửi tiếp :

- Ngươi mù hay sao mà dám gọi ta là tiền bối? Bộ trông ta già lắm hay sao?

Nhương Thư sửng sốt, ngơ ngác khi thấy đối phương chỉ cao đến ngực mình, mặt mũi xinh đẹp, da dẻ trắng trẻo mịn màng như đứa trẻ mười ba. Tuy nhiên, gương mặt tiên đồng kia hơi quái dị vì có đến hai cặp lông này chữ nhất đen nhánh. Cặp thứ nhất nằm ở vị trí bình thường, còn cặp thứ hai kéo từ mi tâm đến góc trán.

Ký ức tuyệt luân của Nhương Thư phản ứng rát nhanh. Chàng thảng thốt kêu lên :

- Ải Thần Quân!

Ân sư chàng thưòng kể về nhân vật độc đáo này. Ông ta tên gọi Tần Nhật Phủ, bằng tuổi Phật Đăng Thượng Nhân, nghĩa là năm nay đã chín mươi hai. Họ Tần tính tình quái dị, hiếu thắng, hiếu sát, nhưng chỉ giết bọn ác nhân. Ông từng thách đấu với bốn người trong Vũ Nội tứ thần, bị đả bại nên phẫn chí thoái xuất giang hồ đã hơn ba chục năm. Bỏ đi đâu chẳng rõ.

Ải Thần Quân không ngờ là gã tiểu tử kia lại nhận ngay ra mình, liền hiếu kỳ hỏi :

- Ngươi là đồ đệ của ai mà lại biết lão phu?

Nhương Thư kính cẩn đáp :

- Bẩm tiền bối! Vãn bối tên gọi Tần Nhương Thư, học trò của Phật Đăng Thượng Nhân núi Ngũ Đài sơn.

Mối hận năm xưa trỗi dậy, Ải Thần Quân nhảy loi choi, chửi bới xối xả :

- Té ra lão trọc Đinh Doãn! Năm xưa cũng vì lão ấy mà Ải Thần Quân ta phải phẫn chí rời bỏ Trung Nguyên, lưu lạc nơi đất khách quê người. Ta chỉ xin lão đổi Tứ thần thành Ngũ thần để Tần mỗ có chân, thế mà lão hẹp hòi chẳng chịu. Thật là đồ hòa thượng đáng ghét.

Nhương Thư mỉm cười :

- Tiên sư có kể lại yêu cầu của tiền bối. Song việc ấy là do sự phong tặng của đồng đạo võ lâm, tiên sư nào có quyền gì?

Ải Thần Quân kinh hãi :

- Cái gì mà tiên sư? Chẳng lẽ lão trọc họ Đinh đã chết rồi?

Nhương Thư lặng lẽ gật đầu, Thần Nhật Phủ hấp tấp hỏi thêm :

- Thế còn ba lão quỷ kia thì sao?Nhương Thư đáp :

- Đao Đế và Địch Thánh cũng đã tọa hóa, chỉ còn mình Hồng Diện Tôn Giả tại thế, song ông ta quyết chí tu hành, chẳng màng đến sự đời nữa.

Ải Thần Quân thất vọng nói lẩm bẩm :

- Thế là công toi lão phu khổ luyện mấy chục năm, giờ còn ai để rửa hận nữa?

Lão tần ngần suy nghĩ một lúc, mắt dán vào mặt Nhương Thư, đôi mắt đẹp chợt lóe lên những tia tinh quái. Và Ải Thần Quân bỗng hỏi :

- Tiểu tử kia! Ngươi có đồng ý bái lão phu làm sư phụ hay không?

Nhương Thư giật mình ấp úng :

- Bẩm tiền bối! Thư này đã có thầy, đâu thể đầu nhập cửa khác được.

Ải Thần Quân cười khanh khách :

- Ngươi không muốn cũng không được.

Và ông bất thần ập đến, song trảo dương ra, xạ liền tám đạo chỉ kình xé gió.

Cách Không Chỉ Giáp đã thất truyền cả trăm năm nay, nào ngờ Ải Thần Quân lại luyện thành. Nhương Thư đi lại còn khó khăn nên không tài nào tránh nổi, bị trúng ba chỉ, thân hình tê tái, bất động.

Ải Thần Quân đắc ý bước đến sờ nắn gân cốt và thăm dò công lực Nhương Thư. Ông tấm tắc khen :

- Mới từng tuổi này mà đã có đến gần năm mươi năm chân khí thì quả là hãn thế! Gân cốt y thuộc hàng thượng thặng, mặt mũi phúc hậu, xứng đáng làm hóa thân cho lão phu.

Nhương Thư không hiểu, ngơ ngác hỏi lại :

- Tiền bối định làm gì Tần mỗ?

Ải Thần Quân cười ha hả, hoa tay múa chân, sôi nổi giải thích :

- Trời sinh lão phu anh tuấn hơn người nhưng cơ thể thấp bé, chịu nhiều thiệt thòi. Nay ngươi cũng họ Tần, khiến lão phu nghĩ ra một kế hoạch vô cùng tuyệt diệu. Lão phu lưu lạc sang Ba Tư học được Di Hồn đại pháp nên sẽ biến ngươi thành một Tần Nhật Phủ hiên ngang anh tuấn, dương danh thiên hạ.

Lão dừng lại rồi hớn hở nói như tự nhủ :

- Hay thực! Lúc ấy nữ nhân trong võ lâm sẽ say mê như điếu đổ, bu lại như ruồi, tha hồ cho ta lựa chọn.

Bỗng lão đổi sắc giọng, chửi đổng :

- Mả mẹ nó! Năm xưa, bọn đàn bà con gái chê lão phu lùn, chỉ đứng đến vú họ, nên không thèm để ý.

Nhương Thư nhân hậu có thừa, rất thông cảm với tâm trạng của người khiếm khuyết. Chàng không giận mà dịu giọng giãi bày :

- Vãn bối cũng có chút danh tiếng, dung mạo ai cũng biết, làm sao giả làm tiền bối được?

Ải Thần Quân mỉm cười ranh mãnh :

- Ngươi lầm rồi! Tài dao kéo của lão phu vốn đứng đầu thiên hạ, đã ra tay thì không thể chê được! Lúc ấy, ngay vợ ngươi cũng chẳng nhận ra chồng mình được.

Nhương Thư bắt đầu lo sợ, bối rối trước âm mưu quái đản của đối phương. Chợt chàng nhận ra mình bị đôi mắt của Ải Thần Quân thu hút, chưa kịp quay đi thì đã mê muội.

Ải Thần Quân hài lòng vác Nhương Thư nhảy lên động khấu. Mang một người mà bay cao đến ba trượng thì thật đáng khâm phục. Xem ra bản lãnh Ải Thần Quân còn cao hơn cả Phật Đăng Thượng Nhân rồi.

Trong suốt nửa năm trời, Ải Thần Quân dùng Di Hồn đại pháp để truyền tuyệt học cho Nhương Thư. Chỉ có cách này mới rút ngắn được thời gian. Ông thôi miên chàng, đọc thầm khẩu quyết và giảng giải động tác.

Kỳ diệu thay, Nhương Thư học thuộc rất dễ dàng, tinh thông như chính bản thân Thần quân vậy. Chàng bị khống chế tâm thức nên rất hiền lành, ngoan ngoãn, gọi Thần quân là cha vì lão muốn thế.

Lúc đầu chỉ là chút trò đùa ngông cuồng, song dần dà Tần Nhật Phủ cảm động trước lòng hiếu thuận của Nhương Thư và yêu chàng như con ruột. Tuy nhiên, lão vẫn không từ bỏ kế hoạch oái oăm của mình, tiến hành giải phẩu, sửa đỗi gương mặt của Nhương Thư. Từng nét một, Tần Nhật Phủ thứ hai ra đời.

Ải Thần Quân sang Ba Tư về, đến ranh giới giữa A Phú Hãn và Trung Hoa thì gặp dãy Tứ Trụ Phong. Trong lúc săn thịt, đuổi theo một con thỏ, họ Tần đã lạc vào nơi Sấu Tiên tọa hóa, học được Huyền Không kiếm pháp và Lục Mạch thần chỉ.

Pho chỉ pháp này vốn xuất xứ từ Lục Mạch thần chỉ của giòng họ Đoàn nước Đại Lý. Sau khi Đại Lý bị quân Mông Cổ tiêu diệt thì tuyệt học thất truyền. Sấu Tiên Vương Hàn Lâm vốn là người Vân Nam, may mắn nhặt được tàn thư, khổ công nghiên cứu, bổ khuyết nên phục hồi được Lục Mạch thần chỉ.

Nhưng mãi đến khi ông ẩn cư thì mới thành công, do vậy trong võ lâm không ai biết việc này.

Ải Thần Quân truyền thụ khinh công, kiếm pháp và cả chỉ pháp cho Nhương Thư.

Đến rằm tháng giêng năm sau, thấy con nuôi đã học hết nghề của mình, Thần Nhật Phủ liền đưa chàng lên mặt đất.

Đoạn ký ức dưới vực thẳm lại bị xóa đi, trừ võ công. Giờ đây, Nhương Thư chỉ nhớ được rằng mình là Tần Nhật Phủ, người đất Trường Trị, đất Sơn Tây, hai mươi bốn tuổi, mồ côi cha mẹ từ nhỏ.

Chàng thức giấc trong một quán trọ cạnh An Dương vài chục dặm. Nhương Thư thản nhiên thanh toán tiền trọ, lên ngựa tiến về hước Bắc. Chàng cũng không hề thắc mắc khi thấy trong bọc có vạn lượng vàng ngân phiếu và rất nhiều châu báu.

Ba tháng sau, thanh danh của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách Tần Nhật Phủ đã vang lừng đất Hà Bắc. Chàng ta có võ nghệ siêu phàm, tính tình hiệp nghĩa và ăn xài rộng rãi như vương tôn công tử.

Cặm lông mày kép của họ Tần chẳng hề làm giảm sút vẻ đẹp thiên thần, ngược lại còn tạo cho chàng vẻ đặc biệt, siêu nhân.

Trên đường từ An Dương đến Bắc Kinh, Tần Nhật Phủ liên tiếp phá tan mấy chục ổ cướp, tiêu diệt mười tám cao thủ hắc đạo thành danh, và đem tài sản của nạn nhân phân phát cho dân nghèo.

Cái danh hiệu Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lại đúng là của Tần Nhật Phủ thời trai trẻ. Sau này, lão giết người nhiều quá, chọc ghẹo thiên hạ cũng không ít, nên bị gọi là Ải Thần Quân.

Mấy tháng nay, Cái bang đã tung toàn lực truy tìm tung tích Nhương Thư, vì thế, Phân đà Hà Bắc lập tức thông báo cho Vô Ưu Cái biết mọi chi tiết về ngôi sao mới tỏa sáng là Tần Nhật Phủ.

Tại sao vậy? Bởi vì Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách có đôi tai Phật giống hệt Nhương Thư. Hai là giọng nói Tần Nhương Thư cũng chẳng hề khác.

Người thân của Nhương Thư đang mỏi mòn trong hy vọng mơ hồ, liền bá víu lấy tin này như chiếc phao giữa biển khơi.

Đại cục võ lâm đang hồi rối ren nên các Chưởng môn Bạch đạo ở cả Thiếu Lâm tự để trù hoạch kế sách. Nhận được thư mời của Vô Ưu Cái, họ mau chóng có mặt ở Lạc Dương.

Hầu bang chủ kể rõ cho bốn vị khách quý nghe về hiện tượng Ải Thần Quân tái sinh rồi hỏi :

- Trong bốn vi ai là người năm xưa có dịp tiếp xúc với Ải Thần Quân nhiều nhất, xin cho biết cao kiến về tính cách của lão ta.

Thông Thiên chân nhân, Chưởng môn phái Võ Đang, vuốt râu đáp :

- Tần lão thí chủ vốn là bằng hữu của tiên sư, từng ghé chơi Ngọc Nữ Phong nhiều lần, nên bần đạo có biết đôi chút.

Ông chậm rãi hớp trà rồi nói tiếp :

- Ải Thần Quân tính tình cổ quái, thích làm chuyện ngông cuồng nhưng không phải là người xấu. Lão thí chủ ấy từng ăn được một trái Vô Thu Quả nên mãi mãi giữ được tuổi xuân. Có lẽ Thần quân còn sống, nổi tính trẻ con nên đào tạo ra một hóa thân để chọc phá thiên hạ.

Bất Trí thư sinh thở dài :

- Lập luận của đạo trưởng rất chí lý, nhưng kẻ ấy là Nhương Thư thì rất khó xảy ra, trừ phi Ải Thần Quân tinh thông cả nghề cải sửa dung mạo lẫn phép Nhiếp Hồn.

Phổ Chứng thiền sư lên tiếng :

- Đúng thế! Nhưng theo lão nạp được biết thì Ải Thần Quân không hề luyện hai công phu ấy.

Vô Ưu Cái cười mát :

- Ba mươi năm đủ để một nhân vật tài hoa như Tần Nhật Phủ luyện thành vài môn tuyệt học. Lão phu tin chắc rằng Nhương Thư hiền đệ đã xui xẻo lọt vào tay lão ta và trở thành công cụ để thực hiện kế hoạch hóa thân.

Thấy cử tọa lộ vẻ nghi ngờ, Vô Ưu Cái buồn rầu bảo :

- Lão phu cũng chỉ đoán mò thế thôi, phải giáp mặt và tiếp cận Tần Nhật Phủ thì mới biết hư thực.

Thúy Sơn nóng nảy nói :

- Tiểu muội phải đi Bắc Kinh mới được.

Bất Trí thư sinh hưởng ứng :

- Lão phu sẽ đi với Bạch hiền muội. Nếu Tần Nhật Phủ đúng là Nhương Thư thì không thể thoát khỏi cặp mắt của lão phu.

Vô Ưu Cái gật đầu dặn dò :

- Lão đệ cứ đi. Dẫu Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách không phải là Nhương Thư cũng phải đưa gã về đây bằng mọi giá. Nếu để Kỵ Ba Thần Quân lôi kéo được một đại cao thủ kiệt xuất như gã thì chúng ta nguy mất.

Phổ Chứng thiền sư, Chưởng môn phái Nga My tán dương :

- Thiện tai! Thiện tai! Hầu lão thí chủ quả là người tâm mưu viễn lực, lúc nào cũng nghĩ đến đại cục võ lâm trước.

Được khen, Vô Ưu Cái hơi ngượng, liền trợn mắt nói :

- Hòa thượng ngươi đừng học thói vuốt mông ngực khiến lão phu hổ thẹn. Nếu lão phu có thực tài thì đâu đến nỗi bị Âm Sơn lão tổ nắm gáy? Không hiểu sao lão ta lại phát hiện Trung Nguyên Cao Sĩ Phương Tử Kiến là người của chúng ta và đang thực hiện kế Tá Đao Sát Nhân. Thế nên Lương Dã Toàn cứ nằm lì ở Cô Ðộc bảo hưởng thụ, chẳng thèm khởi binh chinh phạt Kỵ Ba Thần Quân, mặc cho Sơn Hải giáo bành trướng khắp Sơn Đông, Giang Tô và lăm le uy hiếp Cưu Sơn. Hôm qua, Lão tổ đã gửi thư đến đòi năm vạn lượng vàng và chức Minh chủ võ lâm, có thế lão mới chịu đánh nhau với Sơn Hải giáo.

Cử tọa nghe xong tin này kinh hãi ồ lên. Khánh Hỉ đại sư bối rối hơn :

- Chúng ta có thể đặc cách trao tặng danh vị quyền Minh chủ võ lâm cho Lão tổ, nhưng như thế thì khác nào giao trứng cho ác?

Các vị Chưởng môn còn lại trong hội đồng võ lâm đều cùng một ý ấy. Bất Trí thư sinh cau mày tư lự :

- Lạ thực! Mưu kế này được tiến hành rất tinh vi, chu đáo, làm sao có thể bại lộ được? Chẳng lẽ một kẻ quê mùa, thô mảng như Âm Sơn lão tổ lại thông minh hơn Quách Tàn Bôi và Nghiên Tái Thuần?

Vô Ưu Cái mỉm cười thê lương :

- Có điều gì khó hiểu đâu? Trong hai người ấy có kẻ đã phản bội lại võ lâm Trung Nguyên, khiến chúng ta lâm cảnh rước hổ vào nhà.

Cả bàn tái mặt nhìn nhau, riêng Cao Trường Toản run giọng :

- Tiểu đệ nuôi dưỡng Thuần nhi đã lâu, tin chắc rằng y không phải là kẻ đốn mạt.

Thúy Sơn cười lạnh :

- Tiểu muội thì lại tuyệt đối tin tưởng Quách đại ca. Lão vốn là người có bản chất anh hùng, lại cảm kích tấm lòng tri ngộ của Nhương Thư, dẫu chết cũng không lỗi đạo. Khi đồng hành với chúng ta, Quách Tàn Bôi được cả võ lâm kính trọng, sao lại đánh mất vinh dự ấy? Lão đã già rồi, còn cần gì tài lợi hay tuyệt học nữa? Ngược lại, Nghiên Tái Thuần có nhiều điều để ham muốn.

Nàng phân tích rất rạch ròi, hữu lý, khiến Bất Trí thư sinh hiểu ra vấn đề. Lão toát mồ hôi lẩm bẩm :

- Thuần nhi! Ngươi đã hại lão phu rồi.

Trong cảm giác nhục nhã vô cùng, uất khí công tâm khiến Cao Trường Toản hộc máu gục xuống bàn.

Phổ Chứng thiền sư ngồi bên cạnh vội truyền chân khí cứu Bất Trí thư sinh hồi tỉnh. Họ Cao buồn bã vái Vô Ưu Cái, nói với giọng nghẹn ngào :

- Hầu đại ca, tiểu đệ bất tài nên đã phụ lòng tin tưởng của đại ca và võ lâm. Tiểu đệ sẽ đi ngay Khai Phong bắt gã đệ tử phản phúc kia.

Hầu Mộ Thiên cười nhạt :

- Cha sinh con, trời sinh tính, ngươi chẳng có lỗi gì cả. Thực ra, ngươi có đến Cô Ðộc bảo cũng chỉ uổng công mà thôi. Khi lòng người đã tráo trở thì tình nghĩa sư đồ chẳng đáng một xu. Chi bằng ngươi đem tài trí bày thần mưu diệu kế mà trừng trị phản đồ chẳng hơn hay sao? Hay là ngươi đã dốc túi truyền hết nghề nên giờ phải bó tay?

Câu khích tướng của Hầu bang chủ khiến Bất Trí thư sinh tỉnh táo lại. Họ Cao gượng cười :

- Hầu đại ca quả có tài miệng lưỡi. Tiểu đệ xin tuân mệnh.

Gã cau mày suy nghĩ một lúc rồi trình bày kế sách :

- Xét ra, việc Nghiên Tái Thuần phản bội chỉ là chuyện nhỏ. Trước mắt chúng ta phải làm cho Âm Sơn lão tổ và Kỵ Ba Thần Quân tương tranh cái đã. Thiển ý của lão phu là thế này...!

Nghe xong, cả nhà gật gù khen ngợi.

Chương 14: Tứ Mi tái xuất nhan như ngọc - Chân giả nan phân nhân nghi mang

Sáng hôm sau, tức ngày mười sáu tháng tư, Bạch Thúy Sơn và Bất Trí thư sinh lên đường đi Bắc Kinh. Tô Châu ngũ tặc được tháp tùng, lòng vui mừng như tết.

Ba chị em nhà họ Điền vẫn chưa thoát khỏi tà pháp của Kỵ Ba Thần Quân nhưng đã khá hơn nhiều. Họ không còn dáo dác tìm kiếm vị sư phụ giả là Độc Biển Thước nữa, mà quay sang gọi tên Nhương Thư.

Giờ chúng ta đi trước bọn Thúy Sơn để xem chàng trai họ Tần đang làm gì?

Cũng như mọi ngày, Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách rời Kinh Đô đệ nhất lữ điếm, đến Vạn Hương lâu dùng bữa trưa.

Các nữ nhân thành Bắc Kinh đều biết thói quen ấy nên đã sớm có mặt, chiếm những vị trí tốt nhất, gần nhất với bàn riêng của Tần Nhật Phủ.

Những nàng tiểu thư khuê các đoan trang, thùy mị thì chỉ dám nép sau chiếc quạt lụa ngắm trộm dung mạo của bậc anh hùng tài mạo, nhưng đám nữ hào kiệt thì mặt dầy hơn, ngang nhiên liếc mắt đưa tình hoặc sà xuống ghế cùng họ Tần đối ẩm.

Ả nào nhanh chân hơn thì sẽ chiếm được một trong bảy ghế của chiếc bàn Bát tiên. Đã ngồi rồi thì họ không bao giờ dám đứng lên, dẫu cho bàng quang nặng trĩu nước tiểu, cơ hồ sắp vỡ tung. Họ mà rời ghế thì lập tức mất chỗ ngay.

Mật ít ruồi nhiều, các nàng chỉ muốn giết sạch những kẻ cạnh tranh song lại không dám để Tần công tử xem mình là kẻ đố kỵ hẹp hòi. Bởi thế, ngoài mặt họ vẫn nói cười vui vẻ.

Vị trí hạnh phúc nhất là ở hai bên Tần Nhật Phủ. Được vài chén, họ có thể giả say quàng vai hay lả lơi dựa vào người chàng ta.

Các bộ võ phục mỗi ngày một mỏng hơn, để ánh mắt Tần Nhật Phủ được thưởng thức trọn vẹn những gò bồng đảo mơn mởn gọi mời. Tuy nhiên, sợ chàng cho rằng mình phóng đãng, các nàng luôn khép chặt áo choàng, chỉ mở ra khi ngồi với Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách.

Rốt cuộc, một kiểu thời trang mới ra đời, đó là võ phục may bằng the mỏng, đi chung với áo choàng.

Đây quả là một cuộc cải cách lớn trong lịch sử y phục vì trước đây các kiểu xiêm y mới đều xuất xứ từ kỹ viện.

Hồi đầu tháng, suýt nữa đã xảy ra cảnh đầu rơi máu đổ giữa các nàng nữ hiệp si tình. May thay, một ả khôn ngoan đã thuyết phục được cả bọn đồng ý với một lịch chia phiên, mỗi bữa bảy người.

Thế là, cứ đến đầu giờ Ngọ và đầu giờ Dậu, có bảy nàng nữ kiệt, vai mang kiếm báu, đến ngồi chờ sẵn để chờ thần tượng. Họ cũng thay nhau trả tiền cả bữa ấy.

Tại sao các ngươi lại say mê Tần Nhật Phủ một cách điên cuồng như thế? Bởi vì, ngoài vẻ anh tuấn phi phàm, võ nghệ tuyệt luân. Họ Tần còn có nụ cười quyến rũ và ánh mắt đầy mị lực. Các nàng vừa chạm phải ánh mắt ấy là sẵn sàng dâng hiến cả cuộc đời.

Thế còn thái độ của bọn vương tôn công tử đất Đế đô thì sao? Tất nhiên họ ghét cay ghét đắng Tần Nhật Phủ, kẻ đã cướp mất tất cả những cô nương xinh đẹp nhất thành.

Nhưng họ chỉ rủa thầm tổ tông mười tám đời họ Tần chứ không dám đụng đến. Thứ nhất là vì võ công Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách rất cao siêu. Hồi giữa tháng ba, chàng ta giết chết một đại cao thủ Hắc đạo là Diêm Vương Đao Phạm Phi Luân một cách dễ dàng.

Lão cường đạo độc hành họ Phạm mò vào nhà Lâm tài chủ, cách Kinh Đô đệ nhất lữ điếm hơn dặm, bị Tần Nhật Phủ đứng trên lan can trông thấy.

Chàng ta tìm đến nơi, đúng lúc Diêm Vương Đao đang uy hiếp khổ chủ để tra chỗ giấu của.

Mà Lâm tài chủ lại là bào huynh của quan Tả Đô ngự sử, cầm đầu Đô Sát viện. Do vậy, khi Tần Nhật Phủ trở thành ân nhân của Lâm gia trang rồi, không còn ai dám xúc phạm chàng nữa.

Tóm lại, giờ đây Tần Nhật Phủ có đủ danh vọng, quyền thế, tiền bạc và nữ sắc. Nhưng liệu chàng có hạnh phúc hay không và cư xử như thế nào?

Khổng Phu Tử nói “Nhân chi sơ, tánh bản thiện”. Còn Như Lai thì bảo rằng: “Trong mỗi chúng sinh đều tiềm tàng Phật tính. Hai cái tính đó là một, chỉ có thể bị mờ lấp chứ không mất đi.”

Ải Thần Quân dùng phép Di Hồn đại pháp xóa đi ký ức quá khứ, nhồi nhét những ý niệm mới về một Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách anh hùng, hào hoa, lịch lãm, song đã không hoàn toàn thành công.

Tu hành suốt mười bảy năm, Phật tính trong Nhương Thư rất sáng, nhưng đã bị cái chết thảm thương của mẫu thân che phủ. Nay ký ức ấy mất đi, Phật tính có thể bộc lộ và tăng tiến. Rốt cuộc, Nhương Thư cứ như một vị thiền sư vào chốn sa đọa để phổ độ chúng sinh vậy!

Ải Thần Quân dạy chàng hiếu sát, song Nhương Thư thường chỉ chặt tay hoặc phế võ công đối thủ. Lão muốn chàng vơ tóm hết những nữ nhân trong thiên hạ để hưởng thụ thì chàng chỉ cười hiền, không xua đuổi nhưng cũng không chiếm đoạt.

Trong số những nàng nữ hiệp say đắm Nhương Thư, có bảy tám ả sớm góa bụa, hoặt thích bày tỏ lòng mình một cách cụ thể bằng thân xác. Thế là họ trèo qua cửa sổ phòng Nhương Thư nơi khách điếm, múa điệu Nghê Thường rồi dâng hiến.

Họ áp sát tấm thân khiêu gợi, mỡ màng của mình vào người chàng mời mọc, thế mà Nhương Thư chẳng hề động tình, ôm họ ngủ một mạch đến sáng.

Các nàng yêu nữ kia vô cùng thất vọng song càng bội phần thán phục và yêu mến. Họ không hiểu vì sao Tần Nhật Phủ lại từ chối ái ân, dù trường thương dựng đứng như cột bườm kiêu hãnh?

Đôi lúc chàng cũng vuốt ve những đường cong trên cơ thể họ, song chỉ thế mà thôi.

Có một kẻ đã chứng kiến tất cả, tiếc cho chàng và nổi tam bành, chửi rủa hết lời. Người ấy chính là Ải Thần Quân.

Lão ta đã đi theo, dùng tài hóa trang thần diệu và khinh công xuất chúng để quanh quẩn bên hóa thân mà quan sát. Lão muốn được chứng kiến mọi vinh quang, sung sướng của Nhương Thư để tự an ủi mình.

Thấy chàng không thực hiện đúng ý mình, lão tức lộn ruột, tìm chỗ vắng mà tuôn ra những lời mắng nhiếc :

- Con bà nó! Tiểu tử này ngu ngốc hết chỗ nói, ả nào cũng thơm như múi mít mà lại bỏ qua! Giá như vào tay lão phu thì...

Thần quân chợt bật cười :

- Ta thì cũng hơn gì! Ba mươi năm học đạo, lửa dục tắt lịm, chỉ còn lại chút trò nghịch ngợm thế thôi. Cái lão trọc Phật Đăng thật khéo dạy học trò, tuổi Nhương Thư còn trẻ mà định lực cao như núi.

Và lão tự an ủi :

- Thế cũng tạm được. Nếu Nhương Thư hăng hái truyền giống cho hàng trăm ả thì con rơi nhà họ Tần rải rác khắp Bắc Kinh, tội ấy lão phu chẳng dám gánh.

Đã có chủ ý, Ải Thần Quân hài lòng quay lại với công việc làm khán giả, đồng thời bảo vệ diễn viên, bởi vì lão thực tâm yêu mến Nhương Thư. Những tiếng gọi cha kia đã đánh thức bản năng từ phụ của Thần quân. Ông đã phát nguyện giới sát để được thành tiên, song nếu cần thì cũng sẵn sàng xuất thủ vì con nuôi.

Lúc này, Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đã dùng xong bữa, thản nhiên để các nữ nhân thanh toán tiền cơm, song lại dịu dàng nói :

- Ta xin tặng các nàng vài hạt ngọc trai để làm bông đeo tai.

Họ hạnh phúc ồ lên khi thấy những viên ngọc trai tròn trịa, gần như tuyệt đối, lớn bằng hạt nhãn.

Một vị cô nương xúc động nói đùa :

- Công tử đừng quá rộng rãi với chị em bọn thiếp, coi chừng sạt nghiệp đấy.

Tần Nhật Phủ mỉm cười :

- Vạn sự vô thường, của cải chẳng khác gì phù vân, ta giữ làm gì?

Ải Thần Quân đang ngồi ở bàn gần đấy, trong thân phận một lão phú hộ áo gấm, râu đen. Nghe được câu nói của Nhương Thư, tức đến méo mặt :

- Mẹ kiếp! Tiểu quỷ này ngồi với gái đẹp hơ hớ mà lại mở miệng giảng đạo, thật tức chết đi được! Châu báu do lão phu khổ cực mang từ Ba Tư về mà gã cho chẳng tiếc tay.

Ông lại bật cười vì sự mâu thuẫn của mình :

- Ta lẩn thẩn thực! Chính ta muốn y trở thành kẻ Đại Phương, rộng rãi như bậc vương tôn kia mà?

Bảy ả kia chẳng hề thấm thía ý nghĩa cao siêu của lời thuyết giáo, hí hửng đo với nhau xem ngọc của ai đẹp hơn.

Gần trăm nàng khác ngồi ở bàn chung quanh, xôn xao hẳn lên vì ganh tỵ nhưng chẳng lẽ mở miệng xin? Họ càng điên tiết khi thấy Tả Phù, Hữu Bật của Tần Nhật Phủ lả lơi kéo ghế ngồi sát lại, cọ xát gò nhũ phong vào khuỷu tay chàng, nói cười rúch rích.

Họ Tần chẳng động tâm song ai đó đã ngứa mắt lên tiếng :

- Té ra Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách chỉ là một gã trai lơ, suốt ngày nép váy nữ nhân!

Người phát ngôn có lẽ vừa lên đến, còn đứng ở cầu thang. Ông ta mặc áo gấm xanh, có thân hình cao lớn, mặt đỏ như son, râu ba chòm bạc trắng, tóc cũng chẳng còn cọng nào đen.

Thanh danh của Hồng Diện Tôn Giả Hoàng Huy Do oai trấn Hà Bắc, nên bọn nữ hiệp vội đứng lên bái kiến, kẻ gọi sư bá, người xưng sư tổ, hoặc lão tiền bối, tùy theo quan hệ sư môn.

Tần Nhật Phủ không giận vì bị chê trách, vẫn kính cẩn bái :

- Vãn bối Tần Nhật Phủ xin ra mắt tiền bối!

Hồng Diện Tôn Giả đã đến nơi, chăm chú quan sát dung mạo của chàng trai trẻ. Ông đã biết tin rể quý thất tung, lòng đau như cắt nhưng cố tĩnh tâm tu hành, không đi Lạc Dương hỏi han.

Song khi thấy tiếng tăm của Tần Nhật Phủ đến tai, ông chợt có linh cảm kỳ lạ, liền rời núi Thúy Sơn đi Bắc Kinh điều tra. Trong thiên hạ, người mang tướng Phật nhĩ không hiếm, song chẳng phải ai ở dưới tuổi ba mươi mà dễ có được công lực và bản lãnh kiếm thuật như Nhương Thư.

Nay đối diện Tần Nhật Phủ, thấy chàng tỏ vẻ không quen biết, Tôn giả rất phân vân. Tuy nhiên, giọng nói quen thuộc kia thì không thể lầm được.

Phép Di Hồn không thể xóa đi những tính cách thuộc về bản năng như thói quen ăn uống, cách mỉm cười... Bởi thế, Nhương Thư vẫn còn giữ lại được vài nét cũ như thích trà hơn rượu chẳng hạn.

Đôi nhãn quang sắc bén như dao cạo của Tôn diả đã xác định đối phương không mang mặt nạ và cũng chẳng tô vẽ bằng thuốc dịch dung, song muốn chắc thì phải kiểm tra võ công, Phật Đăng kiếm pháp chẳng lạ với ông.

Thái độ lặng lẽ, nặng nề của Hồng Diện Tôn Giả đã khiến thực khách trên tầng hai này của tửu lâu thầm lo lắng cho Tần Nhật Phủ. Đấy là bọn nữ nhân, còn các chàng trai thì mở cờ trong bụng. Họ muốn Ngọc Diện kiếm khách phải nhục bại dưới tay bậc đại kỳ nhân.

Tần Nhật Phủ thản nhiên chịu đựng ánh mắt soi mói của Hồng Diện Tôn Giả, kính cẩn nói :

- Thỉnh tiền bối an tọa.

Bảy nàng kia cũng lăng xăng kéo ghế mời mọc, nhưng Hoàng lão lắc đầu :

- Lão phu đến đây là để kiếm chứng xem võ công của Tần tiểu tử ngươi có đúng như lời đồn đãi hay không?

Tần Nhật Phủ điềm đạm đáp :

- Tuy mới xuất đạo song tại hạ cũng biết tiền bối là bậc đức cao vọng trọng trong võ lâm nên không dám mạo phạm. Tại hạ mang gươm hành hiệp là để trừ gian diệt bạo, chứ chẳng hề tranh danh đoạt lợi.

Chàng nói rất hợp đạo lý nên Tôn Giả không bắt bẻ được, bèn xoay qua kế khích tướng :

- Hay là ngươi sợ?

Nhật Phủ xử sự đúng mực thiền sư, vui vẻ gật đầu :

- Dạ bẩm phải.

Đám công tử thế gia ồ lên cười chế giễu song chẳng làm cho họ Tần biến sắc.

Hồng Diện Tôn Giả chưa chịu bó tay :

- Ngươi không đánh cũng không được vì lão phu đang thay mặt lớp võ lâm tiền bối mà trừng phạt ngươi về cái tội mạo danh. Mười mấy năm trước, trên giang hồ có một bậc kỳ nhân đã xuất đạo với danh hiệu Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách, và cũng có tên là Tần Nhật Phủ, sau này đổi thành Ải Thần Quân. Nếu ngươi là bậc hậu duệ của lão ta thì cũng không được dùng tên của tổ phụ, bằng mạo nhận thì càng đáng tội.

Nhương Thư không hề biết việc này, ngơ ngác hỏi :

- Lẽ nào lại có sự trùng hợp như thế? Vãn bối quê đất Trường Trị, tỉnh Sơn Tây, cha là Long Kiếm Tần Sinh, quá vãng sớm nên không rõ cội nguồn.

Hồng Diện Tôn Giả giật mình :

- Quái lạ thật! Ải Thần Quân cũng người Trường Trị, con của Long Kiếm!

Ải Thần Quân sợ lão quỷ già kia hỏi mãi tất sẽ hiểu rõ ngọn ngành, liền cuống quýt truyền âm bảo Nhương Thư :

- Con hãy đánh cho lão ta một trận, song không được giết hay đả thương đấy nhé.

Thủ pháp Di Hồn của Ải Thần Quân đã đến mức tuyệt đỉnh, chỉ cần dùng âm thanh cũng có tác dụng. Vì thế, Nhương Thư tuân mệnh ngay, bất ngờ nói :

- Thôi được! Tại hạ đồng ý giao đấu, nếu thua sẽ từ bỏ danh hiệu Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách!

Nói xong, chàng xách kiếm tung mình hỏi lan can, rơi xuống vườn hoa. Chàng mặc võ phục toàn trắng, áo choàng vàng nhạt, tư thế hạ thân đẹp như thiên thần giáng hạ.

Hồng Diện Tôn Giả bối rối :

- Quỷ quái thực! Sao y đang hòa hoãn lại đổi thái độ quyết liệt nhanh như thế nhỉ? Phải chăng y sợ nói nhiều sẽ lộ? Nhưng ánh mắt y rất thành thực cơ mà?

Trong tâm trạng hoài nghi, Hoàng tôn giả nhảy xuống vườn, đứng đối diện với Tần Nhật Phủ. Họ Tần cung kính ôm kiếm chào theo thế “Đồng Tử Bái Quan Âm” rồi xuất thủ.

Hồng Diện Tôn Giả chẳng hề khách sáo, dồn công lực vào đôi ray áo lụa, quét những đòn như búa bổ, quyết bắt đối thủ thi triển hết sở học.

Sau khi bại dưới tay Phật Đăng Thượng Nhân, Tôn giả tự hiểu rằng trong nghề đánh kiếm, mình suốt đời chẳng bằng được Thượng nhân. Ông dồn hết sức khổ luyện công phu Thiết Tu thần quyền đặc dị, đạt đến mức đại thành.

Đôi ống tay áo dài thượt của Tôn giả chứa đầy âm kình, có thể đả thương người và đoạt lấy vũ khí. Cùng phối hợp với phép đánh Thiết Tu, song quyền của Hoàng lão cũng biến hóa và cương mãnh tuyệt luân. Có quyền tất có cước, những cú đá của Tôn giả cũng biến hóa và nặng nghìn cân.

Hoàng lão lại sở hữu đến bảy mươi năm chân khí, hơn hẳn Tần Nhật Phủ nên ngay chiêu đầu đã chiếm thượng phong.

Họ Tần nghe thân kiếm chấn động mạnh khi chạm vào tay áo đối phương, lòng thầm kinh hãi, vội dở phép khoái kiếm ra đòn như bảo táp mưa sa.

Đối với người kiếm sĩ, kiếm thuật chính là bản năng thứ hai. Họ luyện đi, luyện lại trong suốt nhiều năm ròng, chiêu thức, đường gươm in sâu vào tiềm thức, không chỉ là ký ức nữa.

Do ảnh hưởng của phép Di Hồn, Nhương Thư hầu như đã quên hết Phật Đăng kiếm pháp và nhớ rất rõ Huyền Không kiếm pháp của Sấu Tiên. Nhưng hôm nay, gặp phải đại kình địch là Hồng Diện Tôn Giả, pho kiếm mới luyện mấy tháng kia dường như không đủ. Khi thi thố hết tám mươi mốt chiêu gốc mà vẫn bị áp đảo, Nhương Thư sử dụng yếu quyết chữ Tùy, từ căn bản biến hóa thành ngàn chiêu thức.

Chính trong lúc này, tiềm thức manh nha phát lộ, sở học bao năm từng giọt nhỏ ra, hòa với vốn liếng mới thành một loại kiếm pháp tuyệt diệu, hòa hợp giữa Phật và Đạo.

Sấu Tiên vốn là một đạo sĩ theo học thuyết Lão Trang, còn Phật Đăng Thượng Nhân là cao tăng cửa Phật.

Phật Đăng kiếm pháp chỉ đóng góp phần kiếm ý nên kiếm ảnh không mang hình ngọn lửa, khiến người ngoài chẳng nhận ra, trừ Ải Thần Quân.

Lão ngơ ngác nhìn con nuôi múa kiếm, gãi đẩu lẩm bẩm :

- Hay thực! Thì ra tiểu tử này vẫn chưa quên nghề cũ, phối hợp với nghề của ta thành một thứ kiếm pháp có một không hai.

Quả đúng như vậy, càng đánh lâu Nhương Thư càng đạt đến mức thâm huyền, trường kiếm trên tay tuy chỉ một mà trông như bảy, hư thực khôn lường, mỗi nhát điểm đều nhắm vào đúng sơ hở trong lưới quyền của đối phương.

Hồng Diện Tôn Giả không có ý làm hại chàng trai trẻ, song vì chút hiếu thắng của con nhà võ, cũng dồn hết sức già mà chiến đấu.

Song tụ của Hoàng lão bay lượn như thần long, quét ra những đạo kình lực thôi sơn, vù vù xé không gian và thổi tung những chiếc lá khô trên mặt cỏ hoa viên.

Thực khách chia làm hai phe mà cổ vũ cho gà nhà. Giọng ồm ồm là của đám nam nhân ủng hộ Tôn giả, giọng trong trẻo, thánh thót thuộc về đám thiếu nữ si tình.

Hồng Diện Tôn Giả, sau ngàn chiêu, đã mơ hồ nhận ra kiếm ý của Phật Đăng kiếm pháp, lòng càng bán tính bán nghi. Ông tự nhủ :

- “Muốn biết giả chân, chỉ còn cách dụ Tần Nhật Phủ về Lạc Dương. Sơn nhi là người đầu ấp tay gối tất sẽ phân biệt được”.

Nghĩ thế nên ông quạt mạnh một đòn, đẩy lùi đối thủ rồi nói :

- Khoan đã! Lão phu muốn đặt cược!

Tần Nhật Phủ đình thủ, hòa nhã đáp :
- Xin tiền bối cứ dạy.

Hoàng lão cười nhạt :

- Chẳng cần đánh nhiều cho mệt xác. Lão phu chỉ dùng ba chiêu cũng đủ khiến ngươi phải rơi kiếm. Lúc ấy, phiền ngươi đi theo lão phu đến Lạc Dương một chuyến.

Tần Nhật Phủ không hiểu mục đích của Tôn Giả nên phân vân bất quyết. Ải Thần Quân thì nghĩ rằng :

- “Xem ra, lão quỷ già họ Hoàng đã sinh nghi, muốn đưa Nhương Thư về cho con gái kiểm tra. Thế cũng hay, lão phu sẽ đi theo hí lộng cho các ngươi điên đầu. Vả lại, đã đến lúc để Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách trổ thần oai đánh Đông dẹp Bắc, lưu danh muôn thuở, ở đây mãi với đám gái tơ kia cũng chán”.

Thần quân đã dùng Di Hồn đại pháp moi sạch quá khứ của Nhương Thư nên biết rõ cuộc đời chàng. Còn cục diện võ lâm thì lão nghe ngóng mấy tháng nay cũng hiểu khá nhiều.

Đã quyết định như vậy nên Ải Thần Quân truyền âm :

- Con cứ đáp rằng dù thắng hay bại cũng vẫn theo lão đi Lạc Dương.

Nhương Thư thoáng rùng mình, may mà Hoàng lão không nhận thấy. Chàng ôn tồn đáp :

- Vãn bối xin tuân mệnh lãnh giáo thêm ba chiêu, dù kết quả thế nào cũng xin theo tiền bối đi Lạc Dương. Vãn bối từ lâu đã mến mộ phong cảnh cố đô của nhà Thương.

Hồng Diện Tôn Giả sửng sốt nghĩ :

- “Quỷ thực! Sao gã lại dễ dãi đến thế nhỉ?”

Ông gượng cười :

- Té ra lão phu bất chiến tự nhiên thành! Nhưng đã lỡ nói ra thì cũng phái đánh! Ngươi cẩn thận đấy.

Dứt lời, lão ập đến, song tụ hóa thành đám mây xanh bao trùm lấy đối phương. Đây chính là chiêu “Thiên Trụ Hóa Vân”, tuyệt kỹ thủ mạng của Tôn giả. Chẳng phải thứ mây mềm mại vẫn lơ lửng trên trời, mà là cơn bão mạnh liệt có thể nghiền nát bao người.

Chiêu thức võ học nào cũng có sơ hở, song màu sắc và sự mềm mại uyển chuyển của đôi dảy tay áo đã che kín chỗ nhược, khiến đối thủ chẳng thể nhìn ra.

Nhương Thư dù thông minh tuyệt thế, kiếm thuật siêu phàm cũng nhất thời rơi vào cảnh lúng túng trước chiêu thức kỳ ảo này. Chính Ải Thần Quân cũng hoang mang, lo sợ cho nghĩa tử.

Muốn đối phó, Nhương Thư chỉ còn cách liều mạng hoặc né tránh. Song chàng đã nhận lời tiếp chiêu nên không thể thi triển Cửu Huyền thân pháp bỏ chạy. Trong lúc cửu tử nhất sinh ấy, tiềm thức Nhương Thư bỗng hé mở. Chàng từng đối mặt với những chiêu chưởng khủng khiếp của Độc Biển Thước nên kinh nghiệm chẳng thiếu, và sự hiểm nguy trước mắt đã đánh thức bản năng sinh tồn.

Nhương Thư bất giác phản ứng một cách máy móc, đề khí bay vút lên cao, rồi chúc đầu xuống, thân kiếm rung động hàng ngàn lần, kiếm ảnh xòa rộng như chiếc ô, mũi kiếm điểm nhanh tợ mưa rào.

Đây vốn là chiêu “Ngọa Thanh Giáng Vũ” (Ngọc Hoàng làm mưa) trong Huyền Không kiếm pháp, song không phải chiêu Ngự kiếm trong khoảng cách gần. Chẳng qua Nhương Thư được chân truyền của Phật Đăng Thượng Nhân nên mới nắm được yếu quyết Bất Nhị, chẳng xa, chẳng gần.

Ngay Sấu Tiên sống lại mà chứng kiến cảnh này cũng phải phục lăn. Điều ấy chứng tỏ sở đắc kiếm đạo của Phật Đăng Thượng Nhân chẳng kém cổ nhân. Bởi ông là đệ tử Phật môn, kiếm pháp thiếu phần sát khí, chịu kém Sấu Tiên thế thôi.

Tiết diện càng nhỏ thì áp xuất càng mạnh, kình lực tập trung ở mũi kiếm nhọn đã đâm thủng được lực đạo tản mác trên diện rộng của tay áo, phát ra những âm thanh xoèn xoẹt như xé lục.

Hồng Diện Tôn Giả không muốn đồng quy ư tận với kẻ có thể là rể của mình, đành phải đảo bộ rời xa vị trí cũ, bỏ dở chiêu thức.

Khách quan chiến reo hò, hoan hô Tần Nhật Phủ khiến Hồng Diện Tôn Giả hơi bẽ mặt.

Ải Thần Quân yêu mến Nhương Thư nên quên đi mối hận với Hồng Diện Tôn Giả, nếu không đã xúi chàng thi thố Lục Mạch thần chỉ.

Thấy đánh mãi không chừng có máu đổ, Thần quân liền truyền âm :

- Phủ nhi hãy nhận bại và đi theo Hồng Diện Tôn Giả.

Nhương Thư ngoan ngoãn vâng lời, tra kiếm vào vỏ, vòng tay nói :

- Vãn bối tự lượng không tiếp nổi hai chiêu nữa, xin tiền bối tha cho.

Hoàng Huy Do chưng hửng, song cũng thừa cơ vớt vát thể diện :

- Tốt lắm! Ngươi quả là kẻ thức thời! Hãy mau về khách điếm thu xếp hành lý.

Các nàng nhao nhao bàn tán nhưng không dám mở miệng phản đối, ả nào rảnh rang thì cấp tốc về nhà, xách tay nải đi theo người trong mộng. Tổng cộng chỉ có sáu nàng nữ hiệp đất kinh đô may mắn được tháp tùng.

Đoàn người rầm rộ rời Bắc Kinh trong ánh mắt luyến tiếc, sầu khổ của không ít hoàng hoa khuê nữ.

Hồng Diện ngao ngán trước cảnh phong lưu, lăng nhăng quá mức của Tần Nhật Phủ liền mỉa mai :

- Ngươi lập chí dương danh thiên hạ, gẩy dựng sự nghiệp anh hùng mà lúc nào cũng cặp kè xử nữ thì làm sao thành công được?

Tần Nhật Phủ đáp đúng như ý Ải Thần Quân :

- Trai anh hùng năm thê bảy thiếp, cổ kim đều thế, có gì phải sợ, vả lại, họ quyết chí đi theo, làm sao vãn bối xua đuổi được?

Tôn giả cười nhạt :

- Thê thiếp thì chẳng đáng nói. Còn ngươi dùng vẻ anh tuấn mê hoặc rồi chiếm đoạt, sao đáng gọi là hiệp khách?

Sáu nàng kia liền phản ứng ngay, một ả tủm tỉm nói :

- Lão tiền bối sai rồi! Tần công tử đây là bậc chính nhân, định lực như núi Thái, chưa hề động tâm trước sắc dục.

Hoàng lão ngơ ngác :

- Thực thế sao? Lão phu theo dõi mấy đêm liền, thấy các ngươi nhảy qua cửa sổ vào ngủ với gã mà?

Bọn mỹ nữ thẹn đỏ mặt, có kẻ phổi bò mở miệng than :

- Có được nước mẹ gì! Chàng ta cứ trơ như gỗ, chỉ ngắm nhìn và ôm lấy mà ngủ ngon lành.

Tôn giả kinh hãi :

- Chẳng lẽ y bị liệt?

Ả nữ hiệp ít học kia bực bội :

- Chàng ta mà bị liệt thì còn đỡ tức. Y dương buồm lên mà chẳng làm gì, cứ như mèo chê chuột hôi vậy.

Cách ví von ngộ nghinh đã khiến Tôn giả không nín được cười. Ông vỗ vai Nhật Phủ khen :

- Khá thực! Không ngờ ngươi lại có định lực thâm hậu như vậy!

Mối nghi hoặc lớn lên, ông tò mò hỏi :

- Nhưng tại sao ngươi lại giới sắc như một nhà sư vậy?

Nhật Phủ cũng không hiểu tại sao, bâng khuâng nói :

- Có lẽ vãn bối ngại câu Tiền Dâm Hậu Thú.

Sáu nàng mừng rỡ lên tiếng :

- Thì công tử cứ cưới quách bọn thiếp đi.

Nhật Phủ chỉ cười mà không nói năng gì cả.

Trên đường đi, Tôn giả sóng ngựa cạnh họ Tần, giả đò đem giáo nghĩa nhà Phật cùng kinh điển Đại Thừa ra bàn luận, lão thất vọng khi chàng chẳng biết gì cả.

Chữ nghĩa, ý niệm thuộc về ký ức nên đã bị xóa đi, song việc tuân thủ ngũ giới lại là hành vi được thực hiện qua nhiều năm, trở thành bản ngã, chính vì thế, Nhương Thư dẫu động tình cũng không sa đọa.

Tóm lại, giờ đây trong chàng hiện diện đến hai nhân cách, một nhà sư và một chàng hiệp khách phong lưu.

Chiều hôm ấy họ đã rời xa Bắc Kinh trăm dặm, ghé trấn Lũy Sơn nghỉ ngơi ở Tùng Hoa lữ điếm.

Ải Thần Quân thì trọ trong quán đối diện, trù tính kế hoạch chọc ghẹo thiên hạ.

Sống cô đơn suốt mấy chục năm dài, Thần quân đã có thói quen độc thoại :

- Không ngờ sáu ả quỷ cái kia lại mặt dầy mày dạn bám theo Nhương Thư. Tư chất chúng đều tầm thường, không xứng làm dâu của lão già này. Có lẽ phải tách họ ra mới được. Hơn nữa, lão quỷ họ Hoàng tâm cơ sắc bén, gần gũi Nhương Thư lâu ngày e sẽ khám phá ra. Vỡ tuồng ngắn quá thì mất hay.Tuổi Ải Thần Quân đã hơn chín chục nhưng thân xác chẳng già nên tâm hồn cũng rất trẻ con, đầy ắp những ý nghĩ tinh quái. Vả lại, ông tu đạo Lão Trang, xem trọng tính cách thiện chân, hồn nhiên, càng đắc ý với lời trong Đạo Đức kinh: Năng Anh Nhi Hồ! (Trở thành trẻ thơ)

Ông suy nghĩ thêm một lúc, hớn hở vỗ đùi :

- Tuyệt diệu thực! Có thế mà ta nghĩ mãi mới ra.

Đêm hôm ấy, Thần quân âm thầm tìm đến phòng của Nhương Thư. Do có mặt của Hồng Diện Tôn Giả nên sáu nàng kia không dám giở trò ong bướm, trèo trường vượt cửa.

Với bản lãnh hiện tại của Ải Thần Quân thì Nhương Thư chẳng thể nào phát hiện được. Lão già trẻ con kia thi triển Di Hồn đại pháp xong liền chuồn thẳng. Sáng ra, Hồng Diện Tôn Giả và sáu nàng kia phát hiện Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đã biến mất.

Hoàng lão giận dữ chửi rủa um sùm :

- Tiểu quỷ này tâm địa phức tạp, hành động bất thường khiến lão phu không sao hiểu nổi. Con bà nó! Lần sau lão phu phải gông cổ y mà dắt đi cho chắc ăn!

Sáu ả hiệp nữ đất Bắc Kinh sụt sùi khóc như cha chết, thu xếp tay nải lủi thủi trở về cố quận.

Hồng Diện Tôn Giả quyết định xuôi Nam, trước là thăm Thúy Sơn, sau cùng bọn Vô Ưu Cái nghiên cứu hiện tượng Tần Nhật Phủ.

Ông không biết rằng mình đã đi trước Nhương Thư, vì lúc này chàng đang có mặt ở một nếp nhà tranh ngoài cửa Bắc trấn.

Chàng đã mua xe ngựa, xuống vịn cổng rào báo danh :

- Tại hạ là Tần Nhật Phủ từ đất Trường Trị đến xin bái kiến.

Liếp tre mở rộng, một nàng thôn nữ áo xanh xuất hiện, e thẹn nghiêng mình chào khách. Y phục nàng hơi lụng thụng, cứ y như đi mượn vậy! Nàng ta bước ra mở cộng, dáng đi ngượng ngập, chẳng lấy gì làm yểu điệu hay thướt tha.

Nàng thỏ thẻ :

- Tiểu muội Tần Thế Lan xin ra mắt biểu huynh! Mời biểu huynh vào tệ xá dùng trà.

Thế Lan có dung mạo dễ nhìn, da rám nắng vì việc đồng áng, bàn tay cũng ngắn và thô. Còn giọng nói thì trong trẻo, song đôi lúc hơi the thé.

Thấy nàng bước đi hơi khó khăn, Nhương Thư cau mày hỏi :

- Chân của biểu muội bị sao vậy?

Thế Lan không quay lại nên chàng không nhận ra đôi tròng trắng kia đảo liên đảo lộn. Nàng vui vẻ giải thích :

- Hôm qua, tiểu muội vấp ngã nên chân hơi đau, chỉ vài ngày sau là hết thôi.

Thế Lan mời khách ngồi xuống chiếc đôn gỗ xấu xí, cạnh chiếc bàn mộc thô sơ, rồi rót trà.

Nhương Thư đảo mắt quan sát những vật dụng rẻ tiền, nghèo nàn trong nhà, lòng dâng lên niềm thương xót. Chàng nhấp hớp trà rồi nghiêm nghị nói :

- Lan muội! Thân phụ ta từ trần đã chín năm. Trước khi mất người có nói việc hôn ước giữa ta với nàng. Nay nàng cũng mồ côi không nơi nương tựa, hãy đi với ta, sang năm về Trường Trị làm lễ thành hôn.

Thế Lan ngượng ngùng cúi mặt :

- Tiểu muội xấu xí thế này làm sao sánh duyên cùng bậc tài mạo như biểu ca. Thôi thì biểu ca cứ xem như việc chỉ phúc vi hôn ngày xưa là chuyện đùa vậy.

Nhương Thư nghe giọng nghẹn ngào vô cùng bất nhẫn, khẳng khái nói :

- Nàng chẳng hề xấu xí và ta đã quyết làm theo di mệnh của phụ thân. Nguyện suốt đời yêu thương nàng.

Thế Lan thở dài, nhìn chàng bằng ánh mắt u ẩn :

- Biểu ca đã có lòng thương, tiểu muội chẳng dám không tuân mệnh. Xin chờ tiểu muội thu xếp hành lý.

Nàng vào trong, lát sao trở ra với tay nải nhỏ, nhìn cỗ xe độc mã, nàng tủm tỉm cười :

- Sao biểu ca biết tiểu muội đau chân mà đem xe đến rước?

Nhương Thư ngẩn người, chẳng biết đáp thế nào. Chàng đánh xe quay lại trấn Lũng Sơn mua sắm y phục mới cho vị hôn thê. Chàng càng thương cảm khi thấy Thế Lan vì nghèo khổ quê mùa mà không biết bới tóc và tai chẳng có lỗ để đeo bông.

Nhương Thư tiếp tục đi về hướng Nam vì nơi ấy đang xảy ra cuộc chiến quyết liệt giữa hai phe chính tà. Tất nhiên ý định này là do Ải Thần Quân mớm cho chàng.

Dọc đường thiên lý, Nhương Thư ân cần trò chuyện với Thế Lan để nàng vơi đi mặc cảm. Chàng không nhận ra việc giọng nói kia càng ngày càng dễ nghe và dáng đi của Thế Lan cũng vững vàng hơn.

Y phục đẹp và son phấn đã làm Thế Lan thêm mặn mà. Lúc đến thành Bảo Định, nàng đã vào tiệm bán nữ trang để nhờ xỏ lỗ tai và mua thêm vài cặp bông.

Tình cảm ngày càng đâm chồi nẩy lộc trong tim Nhương Thư. Song không phải vì nhan sắc mà vì tính tình hoạt bát vui vẻ và đầu óc thông tuệ, tinh minh của nàng.

Một hôm chàng bảo :

- Ta tuy giỏi võ nhưng cơ trí mộc mạc, không bằng một nửa của nàng. Hay là ta truyền lại võ công để vợ chồng sánh vai hành hiệp?

Thế Lan phì cười :

- Tiểu muội luyện tuyệt học họ Tần từ thuở lên bốn, chắc gì biểu ca tinh thông hơn được? Tiểu muội chỉ kém phần công lực mà thôi.

Nhương Thư mừng rỡ :

- Thế thì hay lắm!

Từ ấy, hai người say sưa bàn luận về Huyền Không kiếm pháp, và Nhương Thư phải đê đầu bái phục vì Thế Lan đã đạt đến mức uyên thâm nhất, dạy lại cho chàng.

Trong sinh hoạt, hai người cũng rất tương đắc. Phương Bắc lạnh lẽo nên Thế Lan uống rượu rất khá, hơn cả Nhương Thư. Chàng vốn thích trà nhưng chiều ý ái thê, thường cùng nàng đối ẩm.

Có lần ghé quán trọ dọc đường, chỉ còn một phòng nên Nhương Thư đề nghị ngủ chung. Thế Lan biến sắc nghiêm giọng :

- Tiểu muội tuy quê mùa nhưng cũng biết lễ nghĩa, chẳng dám phá hoại gia phong họ Tần. Trước khi thành hôn, chúng ta không thể quá gần gũi được.

Nhương Thư vô cùng khâm phục tiết hạnh của Thế Lan, lủi thủi ôm chăn ra xe ngủ.

Ở đây, Thế Lan thở phào che miệng cười hăng hắc :

- Phải nghiêm khắc như thế mới được, nếu không có ngày y đè lão phu ra thì nguy to.

Vậy là đã rõ ngay gian, Thế Lan chính thị là lão già tinh quái Ải Thần Quân. Tần Nhật Phủ muốn được kề cận Nhương Thư cho vui nên đã nghĩ ra trò giả gái và dùng tà pháp khiến chàng tưởng mình có hôn ước với cô em họ.

Thần quân vốn khéo tay nên mới học được nghề giải phẩu của Ba Tư, bởi thế, việc đẽo gọt một đôi chân giả bằng gỗ chẳng khó gì. Chỉ khó ở chỗ làm quen với thứ đồ giả cứng ngắc ấy mà thực hiện những bước đi yều điệu của nữ nhân. Ngay giọng nói và cách nói cũng không phải dễ học ngay được, phải có thời gian.

Trong nghề dịch dung, khó khăn nhất là biến thành người khác phái. Do cấu tạo cơ thể hoàn toàn khác biệt to nhỏ, cao thấp chẳng đồng. Nếu gặp kẻ tai vểnh, lộ hầu hoặc hàm răng khểnh thì bố ai mà giả nổi?

Thế cho nên, khi tác giả đọc sử võ lâm xứ Đại Lý, đến đoạn con rơi của Đoàn Chính Thuần là A Châu cô nương, bị Kiều Phong giết oan, liền đấm ngực kêu trời, tức như bị bò đá :

- Thật hoang đường, hai gã này mù dở nên mới để A Châu qua mặt.

Chuyết thê đang nấu bếp, nghe vậy liền cười hì hì :

- Bản chất của sử võ lâm là phi lý hoang đường. Tướng công giận làm gì cho mệt xác! Hơn nữa, thiếp thấy những điều tướng công chép lại còn tệ hơn thế!

Tác giả hổ thẹn cười xòa :

- Lão phu chỉ noi gương tiền bối, góp nhặt dông dài để kiếm cơm qua ngày thôi mà bà!

Đầu trung tuần tháng năm, cỗ xe độc mã của Nhương Thư đi vào Thạch gia trang, ghé một tửu lâu dùng bữa.

Tiếng đôi bàn chân gỗ gõ trên bậc cầu thang nghe hơi lạ, nhưng chẳng ai để ý đến. Cùng lắm thì người ngoài cũng chỉ tưởng nữ lang trường bào lam kia đi loại giày vải đế gỗ.

Riêng Ải Thần Quân thì áy náy, quyết sửa lại sao cho hoàn bị hơn. Có lẽ phải tạo khớp di động ở cổ chân mới được.

Hai người chọn một bàn gần lan can hướng Nam để hứng chút gió Nam. Người có danh như cây có bóng, khi Tần Nhật Phủ gỡ chiếc nón rộng vành ra, để lộ đôi lông mày kép có một không hai, gã tiểu nhị thảng thốt rú lên :

- Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách!

Gã cũng biết hành động của mình là thất lễ, liền khom lưng vái dài, miệng cười toe toét :

- Mong đại hiệp lượng thứ cho tiểu nhân. Từ ngày người chặt tay Hổ Đầu Đao Trịnh Bách Liên, phá tan Hổ Đầu bang, các hiệu buôn trong thành không còn phải è cổ nộp thuế bảo kê nên ai cũng xem đại hiệp là ân nhân!

Thế là thực khách trên lầu xôn xao hẳn lên, và chỉ lát sau cả thành biết việc Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách giá lâm.

Các tài chủ vội vã gom góp lễ vật, cử đại diện dâng tặng cho đại ân nhân.

Tần Nhật Phủ cau mày ái ngại nhưng Tần Thế Lan mặt hoa rạng rỡ, tiếp nhận tất cả. Nàng còn khéo léo dương danh chồng :

- Năm nay Thiểm Tây gặp đại họa, bách tính lâm cảnh khốn cùng, chuyết phu lòng đau như cắt, quyết cứu tế nạn dân, vì thế tiện thiếp mới dám nhận sự đóng góp của chư vị.

Thế là Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lại được thêm cái tiếng nhân nghĩa ngút trời, người người ca tụng.

Khách rút rồi, Nhật Phủ nói :

- Có thực là Thiểm Tây đang hạn hán chăng?

Nàng nheo mắt cười mỉm chi :

- Tiểu muội xem thiên văn biết chắc đất Thiểm không một giọt mưa.

Nhật Phủ hiền như bụt nên tin ngay, tư lự bảo :

- Nếu thế thì ta sẽ bán hết châu báu, đem đến Trường An giao cho Tri phủ Thiểm Tây mua lương thực chẩn tế tai dân.

Thế Lan cười hơi méo :

- Triều cương lỏng lẻo, tham quan đầy dẫy, biểu ca làm thế chỉ e bách tính chẳng được miếng nào. Hay là chúng ta cứ đến Lạc Dương kêu gọi thêm lòng hảo tâm rồi đi Thiểm Tây đích thân phát chẩn.

Nhật Phủ nghe có lý, hớn hở tán thành, vì từ Hoa Bắc đi Trường An phải vược cao nguyên Sơn Tây, đường xá gập ghềnh bất tiện, còn từ Lạc Dương thì quan đạo rộng thênh thang.

Do sự tiếp kiến cái tài chủ nên bữa ăn của họ kéo dài, vừa xong lại phải hầu chuyện với chủ nhân tửu lâu. Trong lúc ấy, có thêm tám người khách nữa lên đền, chính là bọn Bạch Thúy Sơn. Họ mới tới nên không ngờ mục tiêu của mình đang hiện diện nơi đây.

Thạch gia trang gần như nằm giữa Lạc Dương và Bắc Kinh nên hai phe chạm mặt nhau chốn này.

Đi cùng Thúy Sơn có Bất Trí thư sinh, Thiết Kình Ngư và năm gã Tô Châu ngũ tặc.

Thúy Sơn toàn thân bạch y, khăn cột đầu cũng một màu tang tóc, tuy Cao lão luôn khẳng định Nhương Thư còn sống song lòng nàng đã chết tự bao giờ. Gương mặt hoa kiều diễm kia giờ đây héo úa, xanh xao, ánh mắt đầy vẻ muộn phiền.

Nhờ được phương thần hiệu của Bất Trí thư sinh mà ngực nàng đã phát triển hơn xưa, gần như một phụ nữ bình thường. Song điều này chỉ gây thêm nỗi xót xa trong lòng người góa phụ. Nàng thường xoa ngực mình mà chua xót, tự hỏi cái đẹp này phỏng có ích gì khi tình lữ chẳng còn.

Tây Thi đau bụng nhăn mặt mà vẫn đẹp, do vậy, dung nhan ảo não của Thúy Sơn cũng khiến lòng người mê mệt. Bọn thực khách len lén liếc nàng chứ không dám nhìn thẳng vì sợ vẻ mặt cô hồn của Thiết Kình Ngư Tào Ưng và Ngũ Tặc.

Bởi mãi ngắm nàng nên tiếng chuyện trò chuyện vắng đi, chỉ còn lại cuộc đàm đạo ở góc hướng Nam, của chủ quán và Tần Nhật Phủ. Bất Trí thư sinh nghe được, đứng lên nhìn, phát hiện một chàng công tử có một đôi lông mày kép.

Ông mừng rỡ bảo Thúy Sơn :

- Bạch hiền muội! Thật là may cho chúng ta, Tần Nhật Phủ đang có mặt nơi này.

Thúy Sơn giật mình, mắt lóe sáng những tia hy vọng. Song chẳng lẽ đường đột đến nhìn mặt đối phương nên vẫn ngần ngừ.

Thiết Kình Ngư nóng nảy nói :

- Để ta.

Gã đứng lên, chậm rãi bước đến bàn của họ Tần, vòng tay nói :

- Tại hạ là Thiết Kình Ngư Tào Ưng hân hạnh được diện kiến Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách! Từ lâu thanh danh của đại hiệp như sấm rền bên tai Tào mỗ.

Vừa nói, gã vừa dán mắt vào mặt đối phương, mong tìm ra những nét thân quen. Tiếc thay, trên vành tai trái kia chẳng hề có nốt son nhỏ nào và ánh mắt họ Tần cũng dững dưng lạ lẫm.

Tần Nhật Phủ thủ lễ :

- Tại hạ mới xuất đạo, hiệp tích chẳng bao nhiêu, không dám nhận tiếng đại hiệp. Mời Tào huynh an tọa.

Và chàng giới thiệu vợ mình :

- Đây là Tần Thế Lan biểu muội, vị hôn thê của tại hạ.

Người lùn, dù nối thêm chân thi khi ngồi vẫn để lộ sự thiếu thước tấc của thân trên. Do vậy Ải Thần Quân thường lén đặt tay nải xuống mặt ghế rồi ngồi lên.

Chương 15: Tứ Mi tái xuất nhan như ngọc - Chân giả nan phân nhân nghi mang

Có tật giật mình, lão không dám đứng dậy, chỉ gật đầu chào Tào Ưng. Thái độ này khá ngạo mạn khiến họ Tào phật ý.

Lão chủ nhân tửu lâu xin phép rút lui để Tần Nhật Phủ tiếp khách. Họ Tần hơi nhột nhạt trước ánh mắt soi mói của Tào Ưng, liền hỏi :

- Chẳng hay Tào túc hạ có điều cho muốn dạy bảo Tần mỗ?

Tào Ưng đã có chủ ý :

- Bọn tại hạ thừa lệnh hội đồng võ lâm ngược Bắc tìm Tần đại hiệp để thương lượng đại sự giang hồ. Để tại hạ mời người có thẩm quyền là Bất Trí thư sinh Cao Trường Toản sang cùng Tần đại hiệp bàn bạc.

Gã đứng lên vẫy, Cao lão và Thúy Sơn rời bàn đi đến.

Cũng như Tào Ưng, hai người này dương mắt nhìn, cứ như muốn lột da mặt Tần Nhật Phủ ra vậy.

Ải Thần Quân đắc ý thầm :

- Lão phu đã ra tay thì làm sao các ngươi khám phá nổi chân tướng. À! Con dâu của ta cũng xinh đẹp đấy chứ?

Lão làm chủ ký ức y nên biết rõ Bạch Thúy Sơn, xem nàng là dâu của mình.

Chào hỏi xong, Cao Trường Toản đi vào việc chính, trình bày đại cục võ lâm hiện nay, mời mọc Tần Nhật Phủ về Lạc Dương tham gia sự nghiệp giáng ma.

Xứng danh nhân hiệp, Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách trầm ngâm đáp :

- Việc giáng ma vệ đạo là bổn phận của người học võ, song tại hạ còn phải đi Thiểm Tây chẩn tế tai dân đang lâm cảnh đại hạn, xong việc mới có thể chuyên tâm lo việc võ lâm được.

Bất Trí thư sinh kinh ngạc :

- Việc hạn hán ở vùng cao nguyên Hoàng Thổ chỉ bắt đầu vào cuối tháng này, lão phu nhờ xem thiên tượng mà đoán ra, sao Tần thiếu hiệp cũng biết?

Nhương Thư thật thà đáp :

- Tại hạ nào có tài cán gì mà tiên đoán được thiên tai, việc này do chuyết thê chỉ giáo đấy thôi.

Ải Thần Quân chột dạ than thầm :

- Kẻ đại trí cũng có lúc sơ xuất. Thế nào lão họ Cao này cũng nghi ngờ lão phu.

Quả thực vậy, Bất Trí thư sinh nhìn Thế Lan bằng ánh mắt sắc như dao, hờ hững nói :

- Té ra phu nhân đây là bậc kỳ nữ tài hoa quán thế, tinh thông cả thuật thiên văn, lão phu xin đê đầu bái phục.

Ải Thần Quân nghe nhột nhạt khắp người, ngượng ngùng cúi đầu giả đò thẹn thùng.

Cao lão bỗng nói tiếp :

- Chẳng hay nàng quê quán ở đâu, hậu duệ của bạc cao nhân nào? Thú thực là dung mạo của nàng, lão phu trông có nét quen quen.

Ải Thần Quân bấm bụng đáp bừa :

- Tiện thiếp là biểu muội của Tần tướng công, cũng quê đất Trường Trị Sơn Tây, song đã dời nhà về trấn Lũng Sơn, phía Nam thành Bắc Kinh, hồi hai mươi năm trước. Còn dung mạo thì tiện thiếp chẳng giống Tần tướng công là gì?

Đúng là lão đang dùng mặt thật, còn Nhương Thư là hóa thân, có không ít nét tương đồng.

Tuy nghi ngờ nhưng Cao Trường Toản chẳng thể đoán ra ẩn tình vì đôi lông mày kép đã chuyển vị trí rất là tinh xảo, không một chút sẹo mờ. Đây là y thuật độc môn của xứ Ba Tư nên người Trung Hoa có nằm mơ cũng không nghĩ đến.

Nhưng Ải Thần Quân chợt lo lắng hơn khi thấy Nhương Thư bắt đầu bị cặp mắt huyền sâu thẳm của Bạch Thúy Sơn thu hút. Lão liền kiếm cớ hoãn binh :

- Trời đã chiều, bọn tiện thiếp xin phép về khách điếm nghỉ ngơi, hẹn gặp chư vị sáng mai, cũng tại nơi này. Lúc ấy, Tần đại ca sẽ có lời phúc đáp.

Bị đuổi khéo, phe Thúy Sơn đành phải cáo từ, trở về bàn mình. ở đây, vợ chồng Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách cũng gọi tiểu nhị tính tiền. Tất nhiên lão chủ quán xua tay từ chối rối rít, lại còn ân cần mời khách cứ việc giá lâm.

Bất Trí thư sinh nhìn theo dáng đi của Tần Thế Lan, song không phát hiện được quái sự. Thực ra, Ải Thần Quân đang toát mồ hôi dồn sức cho từng bước đi, cố qua mắt đối phương.

Hai người lên xe ngựa, đi thêm một đoạn để vào trọ trong Hà Gia đại lữ điếm.

Thế Lan ngồi trong phòng mình suy nghĩ :

- Nếu cứ đế Thư nhi giữ mãi tính cách trung hậu, nhân nghĩa thì trước sau gì cũng lộ. Ta phải biến y thành kẻ cao ngạo, khó gần gũi thì mới mong kéo dài được vở diễn này.

Đêm ấy, Ải Thần Quân thi triển Di Hồn đại pháp đến mức chót, cố in sâu vào tâm trí Nhương Thư những nét nhân cách mới.

Khéo quá hóa vụng, sáng hôm sau, Thế Lan sang gõ cửa phòng Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách thì nhận được ánh mắt lạnh lùng, tàn nhẫn và một câu nói rất khó nghe :

- Này Tần biểu muội! Nhan sắc như nàng e không xứng làm vợ ta, hãy nhận lấy ngàn lượng vàng rồi trở lại Lũy Sơn lấy chồng khác cho xong.

Ải Thần Quân tức điên người, song không thể bỏ đi, liền năn nỉ ỉ ôi :

- Tiểu muội biết mình xấu xí, không xứng với biểu ca, nhưng hôn ước đã định, chẳng thể lấy ai khác, chỉ mong biểu ca khai ân nhận tiểu muội làm tỳ thiếp hay tôi tớ cũng được.

May mà Tần Nhật Phủ cũng còn giữ được bản chất anh hùng nên không quá tàn nhẫn, chấp nhận sự xuống nước của vị hôn thê. Gã gật gù bảo :

- Thế cũng được! Nàng mau bưng nước cho ta rửa mặt.

Ải Thần Quân vội tuân lệnh lui ra, vừa giận vừa tức cười :

- Con bà nó! Đúng là gậy ông đập lưng ông, khiến lão phu phải biến thành nô tỳ.

Vệ sinh, ăn sáng xong, hai người y ước tìm đến Hoa Bắc đệ nhất tửu lâu để gặp bọn Bất Trí thư sinh.

Cao lão giật mình trước thần sắc khác lạ của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách! Từ một bậc nhân hiệp khiêm cung, lễ độ, họ Tần trở thành một tên công tử mục hạ vô nhân, ánh mắt lạnh tanh và kiêu căng.

Gã chẳng thèm đáp lễ khi được chào, rồi thản nhiên ngồi xuống ghế, còn Tần Thế Lan khép nép đứng sau lưng chứ chẳng dám an tọa.

Cao Trường Toản thận trọng hỏi :

- Chẳng hay Tần thuộc hạ đã quyết định thế nào?

Tần Nhật Phủ nhếch mép cười ngạo nghễ :

- Tại hạ đồng ý! Nhưng sau khi tại hạ tiêu diệt xong Kỵ Ba Thần Quân và Âm Sơn lão tổ, hy vọng hội đồng võ lâm sẽ trao cho chức Minh chủ!

Thái độ háo danh vụ lợi này đã làm cho Thúy Sơn biến sắc vì kinh ngạc. Bất Trí thư sinh tâm cơ mẫn tiệp, giỏi nghề tùy cơ ứng biến, liền cười khanh khách :

- Lúc ấy thì còn ai xứng với ngôi Minh chủ hơn thiếu hiệp nữa?

Cái khôn thì không thể dạy bằng tà pháp được. Do vậy, Tần Nhật Phủ không hề phát hiện điểm lắt léo trong câu nói của đối phương. Cao lão chỉ tán dương chứ không hề hứa hẹn gì.

Tần Nhật Phủ hài lòng đáp :

- Hay lắm! Chúng ta khởi hành ngay thôi.

Bọn Thúy Sơn phải nuốt vội bữa điểm tâm để lên đường.

Cỗ xe của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đi trước và xà ích là Thế Lan.

Tám người bọn Thúy Sơn cỡi ngựa theo sau, cách một quãng vừa đủ để bàn bạc.

Tào Ưng hậm hực nói :

- Mẹ kiếp! Gã này thay đổi nhanh như lật bàn tay, chẳng biết đâu mà lần. Nhìn gương mặt gã sáng nay, ta chỉ muốn chém cho một nhát.

Thúy Sơn lên tiếng :

- Lạ thực! Sao y lại hờ hững với cả vị hôn thê như vậy?

Gã thứ năm trong Tô Châu ngũ tặc là Đồng Ngũ, hí hững xen vào :

- Thuộc hạ cho rằng đêm qua Tần Nhật Phủ không được ả kia hầu hạ chu đáo nên sáng nay mới gắt như mắm vậy. Đàn ông ai cũng thế thôi. Ả Thế Lan biết lỗi mình nên khép nép như rắn mùng năm, đâu còn oai vệ nữa.

Bạch Thúy Sơn đang rầu rĩ, thất vọng, liền bực bội nạt :

- Ngươi chỉ được cái nói càn, có im đi không?

Phía trước, Ải Thần Quân nai lưng đánh xe, tức tối nghỉ thầm :

- Ta đã quá nặng tay nên phải lãnh hậu quả, Gã khó ưa thế này thì còn gì là anh hùng hảo hán nữa?

Bởi vậy, ngay đêm ấy, lão tiến hành sửa chữa lỗi lầm, vã mồ hôi kiểm tra kỹ lưỡng từng chút một. Nhờ vậy, sáng ra sắc mặt của Nhương Thư đẽ dễ thương hơn, không còn vênh váo như trước nữa. Chàng chủ động chào hỏi với ánh mắt ấm áp khiến bọn Thúy Sơn sửng sốt.

Đổng Ngũ khoan khoái kết luận :

- Chư vị thấy tại hạ có lý hay chưa! Đêm qua Tần Nhật Phủ mây mưa đắc ý nên sáng nay tươi tắn, thân thiện, khác hẳn hôm qua. Y háo sắc thành tật, đêm nào không ái ân là không vui. Xem kia, Nhật Phủ đang ân cần mời vợ y lên xe, không bắt làm xà ích nữa. Còn mặt ả Thế Lan thì phởn phơ, hồng hào, cứ như đóa hoa sau trận mưa xuân vậy.

Thúy Sơn ngao ngán than :

- Ai bảo lòng nữ nhân như biển khôn dò? Cái gã Tần Nhật Phủ này mới đúng là khó hiểu.

Sau đúng năm ngày đường, đoàn người còn cách An Dương hơn trăm dặm. Khi ghé phạn điếm dùng cơm trưa xong, họ lại lên đường, được nửa canh giờ thì đến trấn Hưng Yên.

Tên khất cái đang ngồi dưới gốc cây đầu trấn vội chạy đến chặn đường, hối hả bẩm báo :

- Cao lão tiền bối! Hồng Diện Tôn Giả bị bọn Sơn Hải bang vây hãm trên đồi Long Bối đã hai ngày nay.

Thúy Sơn biến sắc cướp lời :

- Phe đối phương có cao thủ nào mà lợi hại mà vây được phụ thân ta?

Gã hóa tử nhăn nhó :

- Bẩm phu nhân, đệ tử không rõ, chỉ biết Sơn Hải bang đông độ hai chục, do Ngọa Long Tú Sĩ và bốn lão già tóc bạc thống lãnh. Họ ghé trấn ăn uống, bàn bạc việc thượng kinh tìm gã Tứ Mi, Tam Nhãn gì đó. Nào ngờ Tôn giả cũng có mặt trong quán, đứng lên chửi mắng. Hai phe đánh nhau, Tôn giả kém thế phải bỏ chạy lên đồi Long Bối tử thủ.

Bất Trí thư sinh hỏi lại :

- Thế bốn lão già tóc trắng kia sử dụng vũ khí gì?

Gã hóa tử đáp :

- Dạ bẩm: Họ cầm cần câu bằng thép.

Cao lão thảng thốt kêu lên :

- Đài Loan tứ ngư ông! Hèn gì Hồng Diện Tôn Giả không địch lại họ.

Thúy Sơn bẽ mặt càu nhàu :

- Lai lịch bốn lão quỷ ấy thế nào? Tiểu muội có nghe nói đến bao giờ đâu?

Bất Trí thư sinh giải thích :

- Họ là huynh đệ đồng môn, tuổi tác đều trên bảy mươi, hùng cứ đảo Đài Loan, hai chục năm chưa vào Trung Thổ nên hiền muội không biết đấy thôi. Năm xưa, Tứ ngư ông vào đất liền dương danh, mượn cớ so tài võ học, lần lượt đả thương mấy chục đại cao thủ Trung Nguyên, từ Phúc Kiến đến Hà Nam. Sau đó họ khiêu chiến với Thiếu Lâm tự, tỷ võ suốt ba ngày, cuối cùng bị các trưởng lão đả thương mới chịu về biển Đông.

Cứu nhân như cứu lửa, Cao Trường Toản vừa phi ngựa vừa kể chứ chẳng phải đứng một chỗ mà cà kê. Nói xong, lão hơi chột dạ trước võ công Tứ ngư ông, quay lại nhìn thì thấy cỗ xe của vợ chồng Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lẽo đẽo phía sau, bèn an tâm một chút.

Đồi Long Bối nằm ở phía Đông trấn, cách độ vài dặm, nên chỉ hơn khác sau, đoàn người đã đến nơi.

Chẳng hiểu ai là người đã đặt cái tên “Lưng Rồng” cho ngọn đồi đầy những quái thạch to lớn này? Đá tảng nằm san sát, cao thấp chẳng đều, các khe mọc đầy cỏ cao hơn đầu người, tạo nên một địa hình tử thủ rất lý tưởng. Chính nhờ thế mà Hồng Diện Tôn Giả lúc ẩn lúc hiện cầm cự với đối phương từ trưa hôm qua đến giờ. Ông đánh không lại nhưng chẳng thèm bỏ chạy, lợi dụng địa thế mà bỡn cợt Đài Loan tứ lão.

Thỉnh thoảng Tôn giả ló ra tập kích vài đòn rồi biến mất trong bụi rậm khiến đối phương tức điên lên được.

Đến nơi, Thúy Sơn cao giọng gọi :

- Sư phụ! Có đồ nhi đến tiếp ứng đây.

Hoàng lão mừng rỡ xuất hiện, đứng trên tảng đá cao nhất cười ha hả :

- Hay lắm! Có các ngươi hợp lực, lão phu sẽ vặt lông bốn lão ngư phủ mạt hạng của đảo Đài Loan.

Tứ ngư ông giận dữ gầm vang, lao vút đến vây chặt Tôn giả, bốn chiếc cần câu thép dài nửa trượng vun vút xé không gian, chiêu thức vừa hiểm độc vừa mãnh liệt phi thường.

Cần câu là vũ khí độc môn, phép đánh rất quái dị, pha trọn, giữa cương tiên, nhuyễn tiên và câu liêm, vì đầu cần có một đoạn dây tơ bện dài ba gang, mang móc câu cực kỳ sắc nhọn.

Thân cần câu lớn bằng ngón tay cái, thực chất là một bó sợi thép nên rất dẽo, uốn lượn linh hoạt và nó chính thị khắc tinh của công phu Thiết Tụ thần quyền. Tay áo lụa của Hồng Diện Tôn Giả không sợ đao kiếm nhưng lại bị bốn lưỡi câu nhọn hoắc xé rách tơi tả, mất cả uy lực.

Tuy nhiên, với công phu quyền cước cao siêu, Hoàng lão chẳng dễ gì thảm bại ngay.

Thúy Sơn lập tức tung mình lướt đến nhập cuộc, vung kiếm tấn công hậu tâm một lão Ngư ông.

Tất nhiên, lão ta quay lại đối phó, đáng cho náng xất bất xang bang. Thúy Sơn buồn rầu vì sự thất tung bí ẩn của Nhương Thư nên bỏ bê việc luyện công, luyện kiếm, bản lãnh sút kém hơn trước một bậc. Nay gặp tay cao thủ lão thành, sử dụng vũ khí đặc dị, bảo sao nàng không thất thế? Thúy Sơn cắn răng múa tít bảo kiếm, thủ nhiều hơn công.

Dưới này, bọn Bất Trí thư sinh đã xông vào đáng với Ngọa Long Tú Sĩ và mười lăm gã đao thủ Sơn Hải bang. Bọn này đều là hải tặc thiện chiến chốn biển Đông, được chân truyền pho Kỵ Ba đao pháp nên bản lãnh cực kỳ lợi hại. Chúng lại đông hơn nên chiếm ưu thế, khiến Tô Châu ngũ tặc la oai oái vì tức giận.

Chỉ mình Thiết Kình Ngư Tào Ưng là kha khá, một mình chống đỡ ba tên mà vẫn không lúng túng. Nhờ Nhương Thư tận tình chỉ điểm nên Tào Ưng đã đạt đến tinh túy của kiếm pháp Vương Ốc Sơn, sắp bước vào cảnh giới kiếm đạo.

Nhương Thư khờ khạo sự đời nhưng thiên bẩm võ học vô cùng sáng láng. Chàng dựa trên cơ sở Phật Đăng kiếm pháp mà bổ khuyết, nâng cao Vương Ốc kiếm pháp lên một bậc, khiến trình độ kiếm thuật Tào Ưng tăng tiến phi thường.

Khác với Thúy Sơn, gã tiếc thương Nhương Thư bằng cách khổ luyện để sau này trút hận lên đầu Âu Dương Lăng! Gã Cung chủ sạt nghiệp này đã chạy đến Thiểm Tây hợp sức cùng Báo Ứng hội, củng cố thực lực chờ ngày tái xuất. Hiện nay, Âu Dương Lăng là người duy nhất học được Thần Quang chưởng pháp. Nếu gã có thêm vài chục năm công lực thì sẽ lợi hại chẳng thua gì Độc Biển Thước.

Giờ không có mặt Âu Dương Lăng, Tào Ưng đổ cơn giận giữ lên đầu bọn thủ hạ Sơn Hải bang, sau khi thăm dò vài chục chiêu, liền ra tay đả thương một tên.

Nhương Thư được xem là tay khoái kiếm của võ lâm đương đại. Tào Ưng noi gương ấy mà rèn luyện, đường kiếm cũng nhanh như gió. Gã nghiến răng tả xung hữu đột, kiếm ảnh dệt lưới sao công phá những màn đao quang lạnh lẽo, khí thế hừng hực khiến phe đối phương phải khiếp sợ.

Phần Bất Trí thư sinh thì đọ kiếm với Ngọa Long Tú Sĩ, hai lão này giỏi văn hơn võ, vừa đánh vừa so tài miệng lưỡi. Cao Trường Toản nói :

- Này Lỗ tú sĩ! Ông đã chậm chân hơn lão phu một bước rồi. Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đã được lão phu thỉnh về làm tướng tiên phong để giáng ma. Không chừng lát nữa chính ông sẽ phải chết dưới tay Tần Nhật Phủ!

Ngọa Long Tú Sĩ Lỗ Đăng Hân bối rối, chém liền bốn kiếm rối cười nhạt :

- Tốt lắm! Không thu phục được thì tiêu diệt! Lát nữa Đài Loan tứ ngư ông sẽ có việc để làm.

Lỗ tú sĩ chợt biến sắc vì những tiếng gào ghê rợn của thủ hạ liên tiếp vang lên. Lão liếc về phía ấy, phát hiện một chàng kiếm sĩ áo đen đang phóng tay chém giết bang chúng Sơn Hải bang, liền đoán đấy là Tần Nhật Phủ. Họ Tần di chuyển bằng một bộ pháp kỳ lạ, thân hình chập chờn như chia làm mấy bóng vậy. Và thanh trường kiếm trên tay gã loang loáng ánh dương quang, kiếm ảnh nối nhau thành những dải lụa bạc, bay chập chờn trong không gián, đáp xuống đâu là có người ngã quỵ.

Người chết thì an phận nên im ắng, nhưng kẻ thọ thương thì ồn ào kêu rên thảm thiết. Nạn nhân của Tần Nhật Phủ kẻ thì không toàn mạng, kẻ chỉ mất đi cánh tay cầm đao, hoăc bị đâm thủng huyệt Khí Hải, vì vậy, họ la hét ỏm tỏi!

Với trình độ kiếm thuật siêu phàm và thân pháp ảo diệu tuyệt luân, họ Tần mau chóng loại hết mười mấy gã hải tặc ra khỏi vòng chiến và ra khỏi giang hồ. Chúng không còn có khả năng hành ác nữa. Nhưng Tào Ưng và Tô Châu ngũ tặc lại không thành toàn cho lòng nhân đạo của Nhật Phủ, giết sạch những kẻ bị thương kia.

Rồi họ nhảy vào khu loạn thạch tiếp ứng cho thầy trò Thúy Sơn.

Phần Tần Nhật Phủ lao thẳng về phía Ngọa Long Tú Sĩ, ánh mắt rực rỡ vẻ uy nghiêm, sắc mặt lạnh lẽo tựa sương đêm.

Bất Trí thư sinh mỉm cười :

- Lão phu hứa sẽ mai táng Lỗ túc hạ chu đáo! Xin vĩnh biệt!

Lão chém mạnh vài kiếm, lui lại nhường Ngọa Long Tú Sĩ cho Tần Nhật Phủ.

Đứng trước tử thần, Lỗ Đăng Hân nghe lạnh gáy, cố đem cơ trí giảo hoạt ra tìm sinh lộ. Lão bất ngờ quăng kiếm xuống đất, chắp tay sau lưng chờ đợi.

Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đến nơi, ngỡ ngàng nhìn lão già mặc trường bào thư sinh lam nhạt, đầu đội nón Khổng Minh, mặt sáng như trăng rằm, tay không vũ khí. Họ Tần cau mày hỏi Bất Trí thư sinh :- Lão ta là ai vậy,

Cao lão cười nhạt :

- Ngọa Long Tú Sĩ Lỗ Đăng Hân, đương kim quân sư của Sơn Hải bang. Trước đây lão từng là quân sư cho Chính Khí bang, rồi đến Tứ Phạn Thiên cung, Thần Quang giáo. Tóm lại, Lỗ Đăng Hân chuyên nghề thầy dùi cho các tổ chức tà ma.

Lỗ tú sĩ ung dung nói :

- Lão phu tay không tấc sắt, nếu Tần thiếu hiệp chẳng sợ hậu thế chê cười thì cứ giết. Hân này chỉ giỏi văn tất không phải là địch thủ của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách!

Lão khôn khéo mang cái danh anh hùng ra trói tay gã kiếm sĩ trẻ kia. Tuổi thanh niên mà tài cao thì thường kiêu ngạo, không chịu mang tiếng giết người dưới ngựa, tất sẽ mắc mưu.

Bất Trí thư sinh cũng lo ngay ngáy, sợ Nhật Phủ tha cho Tú sĩ. Không ngờ, Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lạnh lùng nói :

- Túc hạ tài cao học rộng, dám ví mình với Gia Cát Lượng, mà lại đem tài ba ấy phục vụ tà ma, gây hại cho công lực còn nhiều hơn một cao thủ. Tuy nhiên, tại hạ chẳng giết làm gì chỉ cắt lưỡi và chặt hai bàn tay mà thôi.

Ngọa Long Tú Sĩ nghe đối phương tuyên án, cố gỡ gạc :

- Làm thế còn tàn nhẫn hơn là giết chết! Thiếu hiệp không sợ mang tiếng bất nhân sao?

Nhật Phủ dựng ngược đôi lông mày kép quái dị, mắt ngời ngời chính khí, chậm rãi nói :

- Ta thà mang tiếng tàn nhẫn chứ không thể lưu lại đại họa cho võ lâm.

Dứt lời, Nhật Phủ lướt đến kiếm quang lồng lộng, phong tỏa mọi đường tiến thoái của nạn nhân. Lỗ tú sĩ khiếp đảm, thét đến lạc giọng :

- Khoan đã! Lão phu có điều muốn nói!

Kiếm quang tắt lịm, Tần Nhật Phủ dừng tay và bảo kiếm đã tra vào vỏ. Trình độ kiếm thuật siêu phàm ấy đã khiến Lỗ Đăng Hân nảy ra chủ ý.

Lão vòng tay vái và nói với giọng thê lương :

- Lão phu lâu nay như ngựa ký trong nhà gã đánh xe, như bảo kiếm lẫn lộn với đồng nát, có tài mà chẳng đất dụng vỏ, nên lòng đau đáu không yên. Khi được Lã Tập Hiền mời ra khỏi liều tranh, lão phu vô cùng mừng rỡ vì tưởng đã gặp minh chúa, thỏa chí bình sinh. Nào ngờ họ Lã lại là tay đại gian hùng khiến lão phu sa chân vào ma đạo, không sao thoát ra được nữa. Chút tâm sự xin được giãi bày để thiếu hiệp được rõ, khai ân mở cho lão phu một cơ hợi hồi đầu hướng thiện, mang sức tàn phù trì chính nghĩa. Lão phu xin đem thanh danh Tổ sư là Thiên Cơ chân nhân ra bảo chứng.

Nhật Phủ nghe xong quay sang hỏi Bất Trí thư sinh :

- Ý Cao lão thế nào?

Cao Trường Toản vuốt râu trầm ngâm làm Lỗ Đăng Hân chột dạ. Thói thường, kẻ có tài thường đố kỵ nhau, võ lâm thương ví hai lão là Khổng Minh và Phượng Sồ, kình địch ngang sức. Nay chắc gì Bất Trí thư sinh chịu để Ngọa Long Tú Sĩ về với phe bạch đạo mà làm lu mờ vị trí của mình?

Nhưng Cao Trường Toản lại là bậc quân tử hiếm có, lượng rộng như Đông Hải. Ông nghiêm giọng đáp :

- Lỗ tú sĩ là bậc tài hoa quán thế, hơn hẳn lão phu. Nếu lão ta thực tâm hướng thiện thì đấy là phúc của võ lâm. Tần thiếu hiệp hãy vì đại cục giang hồ mà thu nạp Ngọa Long Tú Sĩ.

Lỗ Đăng Hân cảm kích đến nghẹn ngào, vái Cao Trường Toản thật sâu :

- Lòng dạ của túc hạ sáng hơn nhật nguyệt, Hân tôi chỉ là con đom đóm mà thôi.

Lão lại vái Tần Nhật Phủ :

- Chim khôn lực cành mà đậu, lão phu nguyện suốt đời xả thân phù tá công tử, dẫu thác cũng không đổi dạ.

Tần Nhật Phủ chỉnh sắc :

- Tại hạ chẳng hề nuôi mộng trang bá đồ vương, tiên sinh cứ đem tài ra phục vụ võ lâm là đủ.

Lỗ tú sĩ vội đáp :

- Công tử dạy chí phải! Lão phu xin tuân mệnh!

Lúc này, Đài Loan tứ ngư ông thấy nguy đã phá vây bỏ chạy, bọn Hồng Diện Tôn Giả kéo xuống, ngỡ ngàng khi thấy Ngọa Long Tú Sĩ đang vui vẻ chuyện trò với Bất Trí thư sinh.

Nghe Cao lão kể lại nguồn cơn, mọi người mừng rỡ chào hỏi Lỗ tú sĩ rất chân thành. Hoàng tôn giả cười ha hả :

- Này Lỗ hiền điệt! Cái tội trợ trụ vi ác đáng ra phải đánh đòn đấy. Nể mặt sư phụ ngươi, lão phu chỉ phạt mười vò rượu mà thôi.

Bỗng lão quay sang nạt Tần Nhật Phủ :

- Tiểu tử hôi hám kia! Vì sao ngươi lại bỏ trốn, không tiếp tục đồng hành với lão phu nữa?

Họ Tần còn đang ngơ ngác thì cô ả Thế Lan xen vào :

- Bẩm tiền bối! Chuyết phu còn phải đi đón tiện nữ nên không thể tháp tùng tiền bối được.

Tôn Giả há hốc miệng nhìn nữ lang da rám nắng, tóc bới vụng về kia rồi lẩm bẩm :

- Ngươi là vợ của y đấy sao?

Gần cuối tháng năm, đoàn người về tới Tổng đàn Cái bang ở Lạc Dương. Cả Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lẫn Ngọa Long Tú Sĩ đều được các Chưởng môn đón tiếp rất trọng vọng. Một người là cao thủ kiệt xuất, còn người kia nổi tiếng đa mưu túc trí, bảo sao hội đồng võ lâm không mừng?

Họ chỉ thất vọng về việc không sao xác định được Tần Nhật Phủ có phải là Nhương Thư hay không?

Trưa hôm sau, Vô Ưu Cái triệu tập cuộc họp nội bộ, bàn bạc việc giáng ma. Ông rầu rĩ thông báo :

- Lão phu đã nhận được tin của Dạ Quân Tử, xác định rõ sự phản bội của Nghiên Tái Thuần. Gã tiểu quỷ ấy đã bái Âm Sơn lão ma làm sư phụ, nhờ giỏi nghề nịnh nọt nên được Lương Dã Toàn yêu mến. Truyền thụ tâm pháp và ban cho ba hạt Thiên Niên Tuyết Sâm. Cộng với công phu Thái Bổ, công lực Tái Thuần tăng tiến rất nhanh, vượt ngoài lẽ thường tình.

Lão chợt dừng lời rồi nhìn vào mặt Tần Nhật Phủ, buông từng tiếng nặng nề.

- Hiện nay, Quách Tàn Bôi đã bị giam vào mật lao, do không chịu quy phục Âm Sơn giáo.

Nhưng Tần Nhật Phủ vẫn thản nhiên, chẳng hề biểu lộ chút cảm xúc nào, bởi không biết Dạ Quân Tử là ai?

Thúy Sơn buồn bã sa lệ :

- Tội nghiệp cho Quách đại ca.

Bất Trí thư sinh cố nén nhục nhã, cắn răng hỏi lại :

- Hầu đại ca! Còn kế Bạch Duật Tương Trì của tiểu đệ có kết quả gì không?

Vô Ưu Cái cười nhạt :

- Thư thách đấu giả danh Kỵ Ba Thần Quân đã gởi đến Cô Ðộc bảo, song chính Nghiên Tái Thuần đã ngăn cản Âm Sơn lão tổ đi phó ước.

Cao lão uất ức than :

- Lão phu chỉ có cách chết để tạ tội với võ lâm mà thôi.

Ngọa Long Tú Sĩ ngồi kế bên, vỗ vai thư sinh rồi tủm tỉm nói :

- Cao hiền đệ yên tâm! Ta sẽ giúp cho kế ấy thành công mỹ mãn.

Rồi Lỗ tú sĩ vòng tay nói với cử tọa :

- Bẩm chư vị Chưởng môn, việc lão phu hồi đầu hướng thiện vẫn còn là bí mật. Do vậy, khi lão phu xuất hiện với cương vị quân sư Sơn Hải bang thì Lão tổ sẽ tin ngay. Song theo thiển ý của lão phu, gởi thư khiêu chiến không bằng chọc cho Lương Dã Toàn tức điên lên, kéo quân tiến đánh Sơn Hải bang.

Cả nhà ồ lên thán phục. Nhưng Tú Sĩ không nói tiếp mà cười bảo Bất Trí thư sinh :

- Lão phu xin đặt mình dưới sự bày binh bố trận của Cao hiền đệ.

Đây là cử chỉ tốt đẹp, đền đáp lại tấm lòng quân tử của Bất Trí thư sinh. Lão không rộng lượng thì Lỗ tú sĩ đã bị Tần Nhật Phủ chặt tay cắt lưỡi rồi.

Cao Trường Toản cảm động hắng giọng bàn :

- Quả thực là sự hiện diện của Lỗ tú sĩ là một lợi thế cho chúng ta thi hành kế Di Họa Giang Đông. Lỗ lão ca sẽ thống lãnh một toán cao thủ, giả làm người của Sơn Hải bang, bắt cóc cháu nội bảo bối của Âm Sơn lão tổ, tất sẽ khiến lão nổi điên khởi binh đánh Tế Nam để cứu về. Chúng ta biết mật đạo ra vào Cô Ðộc bảo nên hành sự không thể thất bại được.

Mọi người đều khen hay nhưng Vô Ưu Cái lại xua tay :

- Kế ấy chưa đủ! Song tạm gác lại để lão phu hỏi chuyện hai vị khách quý cái đã.

Hầu Mộ Thiên tuy không nổi danh mưu mẹo song lại là kẻ đại trí tuệ, một tay chèo chống võ lâm. Cẩn trọng nhưng quyết sách rất đúng đắn. Chính Bất Trí thư sinh cũng phải khâm phục họ Hầu sát đát.

Hầu bang chủ nghiêm giọng hỏi Tần Nhật Phủ :

- Lão phu nghe Cao lão đệ rằng Tần thiếu hiệp muốn làm Minh chủ võ lâm?

Họ Tần hờ hững đáp :

- Tại hạ đã đổi ý! Làm cũng tốt mà không làm cũng chẳng sao. Thực ra, tại hạ chẳng đủ tài thao lược để lo cho đại cục võ lâm.

Vô Ưu Cái cố nén kinh ngạc hỏi tiếp :

- Vậy thiếu hiệp có nguyện xả thân vì chính nghĩa hay không, dù chẳng được lợi lộc gì?

Tần Nhật Phủ gật đầu :
- Tại hạ sẵn sàng, song không tin lại có người giết được mình.

Khẩu khí cao ngạo ấy đã khiến toàn trường chán ghét. Nhưng họ Tần lại thản nhiên nói thêm :

- Tại hạ chạy nhanh lắm.

Ác cảm biến mất ngay, các Chưởng môn mỉm cười thích thú, nhìn nhau gật gù.

Thông Thiên đạo trưởng vui vẻ hỏi :

- Tần thí chủ xuất thân từ cửa nào mà lại thuộc lòng câu Tiên Bảo Kỳ Thân như thế?

Nhật Phủ đáp gọn lỏn :

- Gia học!

Hồng Diện Tôn Giả cười khà khà thú nhận :

- Chư vị biết không, y đã từng thủ hòa với lão phu đấy!

Đúng lúc này, một gã khất cái bước vào, tất tả đi về phía Vô Ưu Cái như muốn báo một tin quan trọng.

Do không có tiệc tùng nên người dự họp ngồi thành hình móng ngựa, trước mặt có kỷ trà nhỏ. Vô Ưu Cái là Vô Ưu Cái nên ngồi ở vị trí đỉnh của móng ngựa, quay mặt ra cửa sảnh. Hai bên tả hữu của lão dành cho tân khách là Chưởng môn hai phái Thiếu Lâm và Võ Đang.

Gã khất cái kia bước đến trước mặt Vô Ưu Cái, cách chừng nửa trượng vòng tay nói :

- Cung bẩm Bang chủ! Có thư từ Sơn Đông gởi về.

Nói xong, gã thọc tay vào ngực áo để lấy, nhưng không phải là thư mà chính là một ống đồng dài độ gang tay. Trong chớp mắt, các Chưởng môn nhận ra ngay vũ khí trấn sơn của Đường gia Tứ Xuyên. Họ kinh hãi thét lên trong tuyệt vọng vì khoảng cách quá gần và bởi chẳng ai có tất sắt nào trong tay cả.

Trong khoảng khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, chợt vang lên những âm thanh là lạ, tựa trường tiễn xé không gian. Và tên gian tặc kia rú lên thảm khốc, buông rơi hỏa khí, ôm ngực ngã quỵ.

Hồng Diện Tôn Giả cao niên nhất, kiến văn rộng rãi, sửng sốt kêu lên :

- Lục Mạch thần chỉ!

Vô Ưu Cái thì quay sang vòng tay nói với Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách :

- Đa tạ thiếu hiệp đã cứu mạng lão phu.

Lúc này cử tọa mới biết kẻ xuất thủ là Tần Nhật Phủ, nhìn chàng bằng cặp mắt ngưỡng mộ.

Khánh Hỉ đại sư, Phương trượng Thiếu Lâm chắp tay :

- A di đà Phật! Lão nạp cũng là người chịu ơn Tần thí chủ! Phạm vi sát thương của Hỏa Châm Đồng rất rộng, cả lão nạp và Thông Thiên đại huynh đây cũng khó thoát chết.

Chưởng môn phái Võ Đang mỉm cười nói đùa :

- Tần thí chủ làm mất cơ hội thăng thiên của bần đạo rồi.

Tần Nhật Phủ gật gù :

- Vật kia lợi hại đến thế ư?

Bọn hóa tử canh gác Tổng đàn nghe động chạy vào, nhìn thấy xác chết và hung khí, tái mặt quỳ xuống nhận tội.

Vô Ưu Cái đã kiểm tra dung mạo của tử thi, biết chắc đấy là một trong những thủ hạ thân tín của mình, liền thở dài :

- Tại sao Trương Hồng lại bội phản Cái bang nhỉ?

Ông ra lệnh cho đám khất cái đem xác đi chôn và dọn dẹp máu me.

Chờ Hầu Mộ Thiên an tọa, Ngọa Long Tú Sĩ mới lên tiếng :

- Bẩm chư vị Chưởng môn! Gã họ Trương kia đã trúng phải Nhiếp Hồn công của Kỵ Ba Thần Quân, chẳng còn làm chủ được mình nữa. Tà thuật này lợi hại ở chỗ có thể biến bất cứ ai thành phản đồ. Xem ra Kỵ Ba Thần Quân đã khởi đầu cuộc chiến bằng cách ám sát các Chưởng môn trong hội đồng võ lâm. Lão ta lại có ám khí tuyệt độc của Đường môn, thật khó đối phó.

Ai nấy rùng mình khi nghĩ đến cảnh phải đề phòng cả những người thân nhất của mình.

Phổ Chứng thiền sư, Chưởng môn phái Nga Mi, buồn rầu hỏi :

- Chẳng lẽ không có cách nào để sớm phát hiện ra những kẻ trúng tà pháp hay sao?

Lỗ tú sĩ cung kính đáp :

- Bẩm thiền sư, lão phu may mắn biết được bí mật của công phu này. Nhiếp Hồn pháp xuất xứ từ Thiên Trúc, còn gọi là thuật thôi miên. Khi Kỵ Ba Thần Quân và các đệ tử chân truyền, bắt được ai liền ru họ ngủ rồi thi triển tà pháp, ra lệnh cho họ hành động. Nạn nhân được thả ra, không nhớ gì cả, thản nhiên trở về, nhưng đúng thời khắc là thi hành lệnh đã nhận. Lúc ấy, nếu chú tâm quan sát, chúng ta sẽ thấy mắt họ hơi dại đi, thường nhìn đăm đăm ít chớp. Còn như muốn phòng xa, chúng ta kiểm tra các đệ tử bằng cách bấm nhẹ vào mi tâm, nếu y nhăn mặt đau đớn thì đúng là kẻ trúng tà.

Mọi người mừng rỡ vì đã có cách đối phó, hết lời khen ngợi Tú sĩ. Vô Ưu Cái chẳng khen chê, nghiêm giọng hỏi :

- Lỗ lão đệ có biết lập trường của Kỵ Ba Thần Quân đối với Âm Sơn lão tổ hay không?

Lỗ Đăng Hân vội đáp :

- Bẩm Hầu bang chủ! Kỵ Ba Thần Quân là tay gian hùng cái thế, định liên thủ với Lương lão quỷ để khuynh đảo võ lâm, sau khi thành công mới tiêu diệt.

Vô Ưu Cái gật gù :

- Đúng vậy! Sáu ngày trước, hai lão đại ác ma ấy đã bí mật gặp nhau ở Tế Châu, thắp hương thề thốt, nguyện chia đôi thiên hạ.

Tin này như sét đánh ngang tai khiến mọi người rẩu rĩ. Bất Trí thư sinh thở dài :

- Bây giờ tiểu đệ đã hiểu vì sao kế Di Họa Giang Đông không dùng được. Chúng ta phải tiên hạ thủ vi cường, hội quân tấn công Cô Ðộc bảo ngay mới được.

Vô Ưu Cái an ủi thư sinh :

- Thực ra kế ấy cũng không hoàn toàn vô dụng. Sự hiện diện của Ngọa Long Tú Sĩ và một toán cao thủ mặc áo Sơn Hải bang sẽ khiến Lương Dã Toàn hoang mang, nếu chạy thoát cũng không dám đến Tế Nam hợp lực với Thần quân.

Xế chiều, Vô Ưu Cái cho gọi riêng Bất Trí thư sinh và Ngọa Long Tú Sĩ đến thư phòng. Ông nghiêm giọng :

- Này Lỗ lão đệ! Ông là người đa mưu túc trí. Hãy thử giải dùm lão phu nan đề này.

Sau đó, Hầu Mộ Thiên kể rõ việc thất tung của Nhương Thư, cũng như mối nghi ngờ về Tần Nhật Phủ. Cao Trường Toản cũng tường trình thêm những thái độ kỳ lạ của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách. Cao lão kết luận :

- Tính cách của Tần Nhật Phủ rất phức tạp, thay đổi bất ngờ, cứ như một cục bột nhão được người thợ nắn sao ra vậy. Và dường như người thợ kia có ý biến Tần Nhật Phủ thành một bậc anh hùng toàn mỹ, thấy sai sót là bổ khuyết ngay. Phong thái hiện nay có thể được xem là hoàn thiện: trang nghiêm nhưng không kiêu ngạo, thân ái mà ít lời, khiến chúng ta không thể dọ hỏi được gì.

Lỗ tú sĩ vuốt râu tư lự :

- Xem ra người thợ bánh kia chính thị Ải Thần Quân, hoặc hậu duệ của lão là Thế Lan. Song chúng ta không biết rõ mục đích của đối phương về sự hóa thân của Nhương Thư thì thật khó xác định vì Tứ Mi Kiếm Khách không có dấu vết hóa trang. Chẳng lẽ trên đời lại có kẻ đủ tài đoạt quyền tạo hóa, cắt da đắp thịt, sửa đổi mặt người hay sao? Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể loại trừ trường hợp ấy, sau này sẽ tìm cách đánh thuốc mê Tần Nhật Phủ để khám nghiệm thật kỹ lại. Thứ hai, chúng ta phải cho người theo dõi Tần Thế Lan, ả chính là đầu mối của sự việc.

Vô Ưu Cái gật đầu :

- Lỗ lão đệ nói chí phải, chúng ta cứ thế mà làm.

Hầu bang chủ hỏi han nội tình Sơn Hải bang, được Ngọa Long Tú Sĩ trình bày cặn kẽ, không giấu diếm. Nghe xong, ông rùng mình :

- Không ngờ thực lực và thủ đoạn của Kỵ Ba Thần Quân lại ghê gớm đến thế. Xem ra chúng ta phải thay đổi chiến lược mới xong. Phần Lỗ lão đệ phải tuyệt đối giữ kín hành tung, không để ai biết người đã hồi đầu. Có như thế chúng ta mới mong chiếm thượng phong.

Lỗ tú sĩ mỉm cười :

- Tiểu đệ đã nghĩ đến điều ấy nên cân thận cải trang ngay từ lúc rời đồi Long Bối. Hơn nữa, Đài Loan tứ ngư ông cứ tưởng tiểu đệ đã chết rồi.

Trong binh pháp có câu: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng. Ngọa Long Tú Sĩ từng là quân sư Sơn Hải bang, nắm rõ mọi bí mật về chiến lược, chiến thuật của Kỵ Ba Thần Quân. Nếu để Thần quân biết ông ta đã về phe Bạch đạo, tất lão sẽ thay đổi phương thức hành động.

Tối đến, Vô Ưu Cái thương lượng lần chót với hội đồng võ lâm, quyết định một kế sách tốt nhất, rồi mời cả nhà họp lại. Ông hỏi Tần Nhật Phủ :

- Với tuyệt học Lục Mạch thần chỉ, thiếu hiệp có tự tin thắng nổi một cao thủ trăm năm công lực như Âm Sơn lão tổ hoặc Kỵ Ba Thần Quân hay không? Nếu thiếu hiệp trả lời là có thì hội đổng võ lâm tổ chức đại hội bầu Minh chủ. Lúc thượng đài, thiếu hiệp sẽ có cơ hội trừ hại cho thiên hạ.

Tần Nhật Phủ còn đang phân vân vì không rõ bản lãnh của hai người kia thế nào, thì Ải Thần Quân, tức cô vợ giả của chàng cắn câu ngay. Thứ nhất là do lòng tự tôn, cho rằng Lục Mạch thần chỉ và Huyền Không kiếm pháp đứng đầu vũ nội. Thứ hai, Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách mà lên làm Minh chủ thì lão có chết cũng mãn nguyện.

Khuyết tật bẩm sinh đã trở thành nỗi ám ảnh suốt đời, khiến Ải Thần Quân không sao đắc đạo được.

Do vậy, lão thì thầm khuyến khích hóa thân :

- Biểu ca chớ đắn đo làm gì. Chỉ pháp của họ Tần nhà ta vô địch thiên hạ. Dẫu đối phương có công lực cao hơn cũng không tránh nổi. Biểu ca mà từ chối thì còn gì khí phách của bậc anh hùng nữa.

Thấy Thế Lan là gái mà hào khí can vân như vậy, Tần Nhật Phủ chẳng chịu kém, quả quyết đáp :

- Tại hạ xin tận lực, dẫu bỏ mạng cũng cố trừ hại cho võ lâm.

Vô Ưu Cái mỉm cười bí ẩn :

- Không nhất thiết phải liều mạng, thiếu hiệp chỉ cần lấy được ít máu của hai lão ấy là xem như hoàn thành nhệm vụ.

Tuy không hiểu nhưng quen thói ít lời nên Tần Nhật Phủ chẳng hỏi thêm.

Bất Trí thư sinh lên tiếng :

- Thực ra đây chỉ là kế hoãn binh và ly gián hai phe Âm Sơn giáo và Sơn Hải bang. Ngôi Minh chủ sẽ khiến hai lão đại ma đầu trở mặt với nhau, tạo điều kiện cho chúng ta tiêu diệt họ. Theo qui củ võ lâm, từ ngày phát thiếp đến khi cử hành ít nhất là ba tháng. Trong thời gian này, chúng ta sẽ âm thầm hành sự, xói mòn lực lượng tà ma.

Thông Thiên Chân nhân rất mến Nhật Phủ, có lẽ vì ơn cứu mạng, liền hòa ái dặn dò :

- Này Tần thí chủ! Cái ác như cỏ dại nối nhau xuất hiện, cho nên bậc hiệp sĩ phải giữ mình để trường kỳ tịch tà cự bí. Mong thí chủ ngày đêm khổ luyện để nắm chắc phần thắng lợi.

Vô Ưu Cái tiếp lời Chân nhân :

- Mờ sáng, hiền khang lệ và Ngọa Long Tú Sĩ sẽ chuyển sang ở một nơi khác để bảo toàn bí mật. Chỗ ấy kín đáo, rộng rãi, rất thích hợp cho việc luyện võ.

Tần Nhật Phủ vòng tay đáp :

- Tại hạ xin tuân theo sự sắp xếp của Bang chủ.

Trời chưa rõ mặt người, ba vị khách quý đã đến cơ sở mật, tức dược đường của Tạ thần y. Thúy Sơn cũng đi theo, tiếp tục bầu bạn với ba cô gái tội nghiệp họ Điền.

Ải Thần Quân thấy ba cô con dâu mất trí mà lòng vô cùng bất nhẫn, quyết chữa trị cho họ. Nhưng bản tính tinh nghịch đã khiến ông nẩy ra một trò đùa quái ác.

Sau khi điều tra rõ địa hình, địa vật, Ải Thần Quân tiến hành kế hoạch táo bạo và kỳ khôi của mình.

Nửa đêm mùng bốn tháng sáu, Tần Nhật Phủ đột nhiên trỗi dậy, lướt đi êm ái như bóng oan hồn, tìm đến phòng Điền Mã Lan.

Ba bệnh nhân này chiếm ba phòng nhỏ liền nhau, phòng thứ tư cùng dãy thuộc về Thúy Sơn. Hàng đêm, khi nghe tiếng ai la hét, hoặc khóc lóc tức tưởi là Thúy Sơn chạy sang vỗ về, an ủi rằng Tần Nhương Thư đi xa chưa kịp về đến.

Do vậy, cửa phòng của các bệnh nhân chỉ khép hờ chứ không cài then bên trong. Tần Nhật Phủ vào phòng dễ dàng, lên giường ôm lấy Mã Lan và thì thầm :

- Lan muội! Ta đây!

Giọng nói trầm ấm quen thuộc kia đã khiến cô gái điên vui mừng khôn xiết, muốn khóc lóc, muốn nói những lời yêu thương mà không hiểu sao lại bất lực? Nàng chỉ còn cách nồng nhiệt đáp ứng những cử chỉ vuốt ve đầy khao khát của trượng phu. Nhương Thư như người chồng xa vợ lâu ngày, không kềm hãm nổi lửa tình, say đắm gầy cuộc ái ân.

Thân hình nảy nở của Mã Lan giờ đây gầy hơn trước nhưng tình yêu trong nàng chẳng hề suy giảm. Nàng liên tiếp rùng mình dâng hiến, nước mắt nhạt nhòa thay cho những âm thanh hoan lạc. Hết hiệp, Nhương Thư bất ngờ điểm huyệt ngủ ái thê, mặc lại y phục cho nàng rồi trở về phòng mình.

Sáng ra, Mã Lan chỉ lơ mơ nhớ lại cuộc mây mưa, vừa khóc vừa cười kể cho hai em nghe, Thúy Sơn tủm tỉm bảo :

- Lan muội nằm mơ đấy.

Những ngày sau đó, Nhương Thư bị phép Di Hồn điều khiển, thỉnh thoảng viếng thăm các nàng, ân ái rồi lại đi. Người khổ sở nhất là Ải Thần Quân, lão luôn phải đi trước dọn đường, dùng Lục Mạch thần chỉ điểm huyệt bất cứ ai cản trở, kể cả Thúy Sơn.

Ải Thần Quân không hề ăn được kỳ trân nhưng kiên nhẫn rèn luyện từ nhỏ, chẳng hề gián đoạn, nên hiện sở hữu đến tám mươi năm tu vi. Ông học pho Thần chỉ hai mươi nam nên thủ pháp cực kỳ chính xác, khéo léo khiến nạn nhân thiếp đi vừa đủ thời gian, lúc tỉnh lại chỉ ngỡ mình ngủ gật.

Mặt khác, Ải Thần Quân âm thầm trút dồn công lực cho chàng, sau một tháng, Nhương Thư đã có thêm mười năm chân khí. Đây là giới hạn tối đa của sự san sẻ công lực, vượt qua sẽ rất nguy hiểm.

Một chiều đầu tháng bảy, Ải Thần Quân bỗng nghe văng vẳng có tiếng Tạ thần y ngâm nga:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

Hai câu cuối trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã khiến Ải Thần Quân chạnh lòng nhớ cố hương, quyết định về Sơn Tây tảo mộ song thân.

Song, không đẻ tâm huyết của mình bị uổng phí, Ải Thần Quân tìm cách rút lui an toàn.

Cơ hội của ông chính là những cuộc đàm đạo của Thúy Sơn và Tần Nhật Phủ. Nàng ta được lệnh dò xét họ Tần nên thường xuyên tiếp xúc hỏi han.

Trưa ngày thất tịch, mùng bảy tháng bảy, Tạ gia trang bày tiểu yến, có mời cả Hồng Diện Tôn Giả, Vô Ưu Cái và Bất Trí thư sinh. Tình cờ Thúy Sơn lại ngồi mé hữu Nhương Thư, còn Ải Thần Quân mé tả.

Sau tiệc rượu là thời điểm uống trà, Ải Thần Quân giả vờ đứng lên đi vệ sinh, lúc trở ra đứng phía sau thi triển Di Hồn đại pháp làm cho Nhương Thư và Thúy Sơn đồng thời quay mặt, ngã đầu về phía sau như muốn nói nhỏ điều gì đó. Kết quả là môi chàng chạm gò má nàng, cứ như tặng một nụ hôn vậy.

Cả nhà sửng sốt đến ngây người, còn Ải Thần Quân, tức Thế Lan chửi bới, khóc lóc thảm thiết, tuyên bố từ hôn, không nhận một kẻ lăng nhăng như Tần Nhật Phủ làm chồng nữa. Họ Tần hoang mang, lòng vô cùng hổ thẹn, để mặc Thế Lan cuốn gói về quê.

Phần Thúy Sơn cũng bối rối chẳng kém, run rẩy thề thốt rằng mình chẳng hề có tình ý gì với Tần Nhật Phủ, việc lúc nãy chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi. Nàng định nói với Nhật Phủ điều gì đó, không ngờ gã cũng vậy.

Tần Nhật Phủ cũng ấp úng giải thích đúng như thế, nhưng giá mà có ai hỏi họ định nói điều gì thì quả thực là hai người không biết.

Hiểu rõ nhân cách, tính tình của Thúy Sơn, chẳng ai trách mắng nàng. Hơn nữa, giả như song phương phải lòng nhau thì thiếu gì chỗ để âu yếm, sao lại phải hành động sơ xuất ngay chỗ này?

Hồng Diện Tôn Giả xua tay :

- Sơn nhi dừng khóc nữa, hãy bỏ qua chuyện vớ vẫn ấy đi.

Vô Ưu Cái ái ngại hỏi Nhật Phủ :

- Sao thiếu hiệp không cố giữ Tần phu nhân lại?

Nhật Phủ thở dài :

- Hôn nhân không có tình yêu, trước sau gì cũng tan vỡ, níu kéo làm gì nữa? Nếu Thế Lan thực lòng yêu thương tại hạ tất phải hiểu và tin tưởng, đâu chửi mắng rồi bỏ đi?

Tào Ưng khoái chí vỗ đùi :

- Tần lão đệ nói hay lắm! Tài mạo như ngươi lo gì không lấy được vài cô vợ đẹp?

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau