TẦN NHƯỢNG THƯ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Tần nhượng thư - Chương 16 - Chương 20

Chương 16: Vong linh quy đáo Âm Sơn địa - Mộc xá xuân tình thức mộng nhân

Hôm sau, bọn Vô Ưu Cái lại được gọi gấp sang Tạ gia trang. Triều Châu Thần Y tiếp họ với sắc diện vô cùng kỳ quái. Ông chậm rãi nói :

- Lão phu xin báo cho chư vị hai việc rất quan trọng. Thứ nhất là ba cô gái họ Ðiền đã hoàn toàn khỏi bệnh!

Vô Ưu Cái mừng rỡ :

- Tạ ơn hoàng thiên! Có thế lão phu mới không hổ thẹn với Tần hiền đệ! À! Còn tin thứ hai?

Tạ thần y nhăn mặt thở dài :

- Sáng nay, khi thăm mạch, lão phu phát hiện họ đều đã cấn thai!

Ðất trời đảo lộn, vũ trụ quay cuồng, cả nhà kinh hãi ồ lên, mặt tái xanh như tàu lá.

Hồng Diện Tôn Giả ngơ ngác :

- Trời đất! Chẳng lẽ là Tần Nhật Phủ?

Ngọa Long Tú Sĩ nghiêm giọng :

- Thế ba vị tiểu thư kia giải thích thế nào? Họ có nhớ được gì không?

Tạ thần y rầu rĩ đáp :

- Họ vui vẻ khẳng định rằng trong tháng vừa qua, Nhương Thư thường ghé về thăm họ, phu thê mặn nồng, tất phải có kết quả! Lão phu cố nói cho họ hiểu Nhương Thư đã chết sau khi giết Ðộc Biển Thước ở Tứ Phạn Thiên cung, thì họ khóc và cho rằng chồng hiện hồn về!

Thúy Sơn cũng áy náy xác nhận :

- Quả đúng vậy, ngay từ đầu tháng sáu, ba người ấy đã luôn miệng kể về những giấc mơ tương hội với Nhương Thư.

Vô Ưu Cái trợn mắt cười nhạt :

- Lão phu không tin có ma! Cho gọi Tần Nhật Phủ lên đây! Chỉ mình gã ta mới đủ bản lãnh qua mắt Thúy Sơn và lực lượng tuần tra nghiêm ngặt ở chốn này!

Tào Ưng hăm hở :

- Ðể tại hạ đi cho!

Lát sau, Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lên đến, gương mặt anh tuấn và đoan chính kia chẳng một nét lo âu.

Vô Ưu Cái bỗng ngần ngại, lựa lời mà nói cho khéo. Ông kể sơ sự việc rồi hỏi :

- Tần thiếu hiệp! Lão phu rất tôn trọng nhân phẩm của thiếu hiệp. Song nơi đây, chẳng phải ai cũng đủ bản lãnh để vào! Do vậy, lão phu mong thiếu hiệp cứ nói thật lòng, lão phu sẽ đứng ra tác thành cho thiếu hiệp và ba đứa em dâu góa bụa!

Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lộ vẻ buồn rầu, nghiêm nghị đáp :

- Tại hạ từ lâu đã nghe truyền tụng về nhân cách và công trạng của Nhương Thư, lòng rất tôn kính, quyết noi theo gương ấy, lẽ nào lại dám mạo phạm đến thê thiếp của chàng ta? Hơn nữa, Tần mỗ là người hờ hững với sắc dục, cả Thế Lan là vị hôn thê mà vẫn chưa chạm đến!

Tào Ưng nói thẳng :

- Ngươi có dám thề không?

Họ Tần gật đầu :

- Phủ tôi mà có mạo phạm đến ba vị tiểu thư họ Ðiền thì xin chết thảm dưới lưỡi búa của lôi thần!

Bọn Hồng Diện Tôn Giả đều là tay cáo già lão luyện, cơ trí tinh minh, nhận ra vẻ thành thực tuyệt đối của Nhương Thư, liền nhìn nhau thở dài. Vô Ưu Cái bèn tạ lỗi với họ Tần, chàng mỉm cười lắc đầu rồi bỏ đi.

Ở đây, mấy lão hồ ly vò đầu bứt tóc, cố phân tích xem ai là hung thủ. Họ cho mời ba nạn nhân lên hỏi han. Uyển Xuân buồn bã đáp :

- Hầu đại ca không tin bọn tiểu muội sao? Phu thê đầu ấp tay gối đâu thể lầm được? Từ hơi hướng cho đến cử chỉ đều đúng Tần tướng công, nếu không bọn tiểu muội đã kháng cự rồi!

Bạch Cúc thì phản ứng mạnh, dựng ngược đôi mày liễu :

- Hầu đại ca định gán tiếng bất trinh cho bọn tiểu muội hay sao? Ðại ca không tin ma quỷ nhưng người khác thì có!

Hồng Diện Tôn Giả tức quá hỏi lại :

- Thế tại sao hồn Nhương Thư không về ân ái với Thúy Sơn?

Bạch Cúc nghe có lý nhưng vẫn đanh đá đáp :

- Có lẽ tướng công yêu bọn ta nhiều hơn!

Vô Ưu Cái hiểu rằng chẳng thà để họ nuôi ảo tưởng còn hơn đau khổ vì sự thực nên cười xòa :

- Thôi thôi! Cả ba đều khẳng định như vậy thì chắc không thể sai! Lão phu rất mừng vì Nhương Thư đã có người nối dõi!

Ba thai phụ ngoa nguẩy bỏ đi. ở đây, Vô Ưu Cái than trời :

- Lão phu đến phát điên mất!

Bỗng Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách lên đến, vai khoác bọc hành lý. Gã nghiêm nghị nói :

- Từ nay đến đại hội võ lâm còn hơn hai tháng, tại hạ ở lại đây không tiện, xin được cáo từ. Ðúng ngày rằm tháng chín, tại hạ sẽ có mặt để thượng đài.

Giữ mãi cũng không được, Vô Ưu Cái đành để Tần Nhật Phủ ra đi, sau khi dặn chàng đúng hẹn.

Họ Tần vừa rời sảnh, Bất Trí thư sinh bàn ngay :

- Tần Nhật Phủ bản lãnh siêu phàm nhưng kém phần kinh nghiệm, chúng ta phải cho người theo hỗ trợ mới được! Gã mà sa chân vào ma đạo là đại họa cho võ lâm!

Ngọa Long Tú Sĩ tán thành :

- Cao hiền đệ nói chí phải! Theo ý lão phu, ta nên điều Dương Châu Thần Thâu Bạch Túc Nhiên bám theo Tần Nhật Phủ! Chỉ họ Bạch mới làm được việc này!

Dương Châu Thần Thâu vừa đến Lạc Dương được mấy ngày trước. Họ Bạch được hội đồng võ lâm triệu tập để lãnh nhiệm vụ tiềm nhập Sơn Hải bang, nhưng sự hồi đầu của Ngọa Long Tú Sĩ đã khiến công tác ấy không cần thiết nữa.

Ngày xưa, thuyền và ngựa là phương tiện giao thông duy nhất, kỹ thuật làm cầu qua sông lớn chưa có, nên hành trình gặp nhiều trắc trở, khó xác định thời gian. Bởi thế, Tần Nhật Phủ định về Sơn Tây mà không dám, sợ trễ kỳ đại hội.

Thực ra, tâm trạng họ Tần không hề bình yên như nét mặt. Chàng ta nhận ra rằng ký ức mình có những khoảng trống mơ hồ, mờ mịt tựa chiều sương. Ðó là tuổi thơ, thời gian học võ, dung mạo người thân và phong cảnh quê nhà.

Trước đây chàng luôn bị Ải Thần Quân ở bên cạnh khống chế, chỉ chuyên tâm rèn luyện võ nghệ để chuẩn bị cho đại hội, không suy nghĩ nhiều. Song từ lúc rời Tạ gia trang, một mình một ngựa dong ruổi, chàng có thời gian để tự vấn.

Tần Nhật Phủ không có định hướng, vô tình đi về hướng Ðông, đến chiều dừng chân nơi tiểu trấn. Ðêm ấy tĩnh tọa, hành công xong, chàng tiếp tục đào bới trí nhớ, và tìm thấy một hình ảnh lạ lùng. Ðấy là ba vòi nước suối phun rất mạnh, gần đó có bia đá khắc ba chữ Báo Ðột Tuyền. Dường như chàng đã đến nơi ấy cùng ba nữ nhân nữa, song không rõ dung mạo.

Nhật Phủ ngơ ngẩn vì chưa bao giờ du ngoạn Tế Nam cả. Chàng nhắm mắt mường tượng, rùng mình nhớ đến ba người vợ góa của Nhương Thư. Ðiền gia trang quả đúng là ở rất gần suối Báo Ðột.

Phải chăng Tế Nam có vị trí rất quan trọng trong quá khứ của chàng?

Ðêm ấy, Nhật Phủ, tức Nhương Thư ngủ không yên giấc, đầu óc quay cuồng với những nghi vấn. Chàng mơ màng nhìn thấy những hình ảnh lạnh lùng. Gương mặt từ bi, nhân hậu của một nhà sư rất già, một thi thể phụ nhân lõa lồ đẫm máu, một hố sâu hun hút, đen ngòm.

Những mảnh vụn của dĩ vãng này tuy nhỏ bé nhưng lại là kết quả của Nhiên Ðăng tâm pháp. Chính Ải Thần Quân cũng không ngờ rằng pho nội công Phật môn kia có thể hóa giải tà pháp Di Hồn. Lão dạy chàng võ nghệ nhưng không thể thay đổi đường lối vận khí nhiều năm quen thuộc. Song việc gì cũng phải có thời gian nên hiện tại Nhương Thư chưa thể quét sạch ngay được màn u minh trong tâm thức.

Sáng ra, Nhương Thư soi bộ mặt phờ phạc vào chiếc gương đồng, lòng đầy nghi hoặc và cảm thấy xa lạ, nhất là đôi lông mày kép quái dị kia.

Ải Thần Quân đã dùng một thứ thuốc thần kỳ vẽ lên, kích thích chân lông nơi ấy phát triển, sau nửa năm trở thành chân mày. Tất nhiên, những sợi lông mày ấy mảnh hơn, nhạt màu hơn hàng dưới, và không mọc lại khi bị cạo, nếu không bôi thêm thuốc.

Chẳng phải lão lột của mình mà khâu cho Nhương Thư vì cơ thể con người sẽ đào thải những vật xa lạ.

Chúng ta hãy tạm quên Nhương Thư, quay lại Tạ gia trang ở Lạc Dương.

Tuy tin lời Tần Nhật Phủ song Vô Ưu Cái chẳng cam tâm bỏ qua việc tìm kiếm kẻ đã làm cho ba cô em dâu góa bụa của mình phưỡn bụng.

Ông âm thầm triệu tập toàn bộ toán cao thủ bảo vệ Tạ gia trang về Tổng đàn để tra hỏi, tránh không để ba ả họ Ðiền biết được.

Bọn đệ tử Cái bang tuyệt đối trung thành nên thực thà kể lại rằng trong tháng qua mình đã nhiều lần ngủ gục. Thúy Sơn cũng thú nhật rằng ngủ rất ngon.

Ngọa Long Tú Sĩ cho vẽ lại ví trí canh gác của từng người, phát hiện những kẻ ấy nối thành một đường, đi từ khu phòng của Tần Nhật Phủ đến khuê phòng của bọn Mã Lan.

Hồng Diện Tôn Giả phẫn nộ gầm lên :

- Khốn nạn thực! Chúng ta bị tiểu tử họ Tần lừa rồi! Hèn gì gã vội vã rời Lạc Dương ngay!

Chứng cứ đã rành, song Vô Ưu Cái vẫn thận trọng phân tích :

- Cứ cho rằng Tần Nhật Phủ là thủ phạm, thì gã phải giỏi thuật Nhiếp Hồn mới có thể khiến ba nàng kia tưởng mình là Nhương Thư! Vậy vì sao gã lại cứu họ thoát khỏi tà pháp của Kỵ Ba Thần Quân? Tạ thần y đã khẳng định rằng thuật châm cứu và thuốc thang chỉ thành công hoàn toàn sau ít nhất hai năm điều trị! Và lão phu không tin một tên dâm tặc xảo quyệt đến mức ấy lại chịu bỏ qua một giai nhân như Bạch hiền muội! Gã thừa sức khiến Thúy Sơn không nhớ được gì cả!

Lập luận vững chắc, hữu lý này khiến các lão hồ ly phải phân vân. Bất Trí thư sinh buột miệng than :

- Lại trời cho Tần Nhật Phủ chính là Nhương Thư! Nếu không chúng ta mặt mũi nào gặp y ở chốn suối vàng nữa!

Cao lão luôn khẳng định Nhương Thư vẫn còn sống mà giờ đây nói thế chứng tỏ lòng tin đã lung lay. Thúy Sơn bật khóc ôm mặt bỏ chạy về phòng.

Chiều hôm ấy, nàng đang ngồi gặm nhấm nối thống khổ ở vườn hoa sau Tổng đà, thì Ngọa Long Tú Sĩ đi đến. Ông nghiêm giọng :

- Chỉ mình phu nhân là có thể khám phá ra chân tướng Tần Nhật Phủ! Còn bằng cách nào thì phu nhân tự hiểu! Hãy đi đi! Nếu Nhật Phủ không phải là Nhương Thư thì cứ giết gã!

Thúy Sơn thông minh tuyệt thế, biết Tú sĩ chẳng đẩy mình vào chỗ chết, mừng rỡ nói :

- Phải chăng tiên sinh đã nắm được tám phần hy vọng?

Lỗ Ðăng Hân mỉm cười gật đầu :

- Ðúng vậy! Song hai phần bất trắc kia đáng giá cả cuộc đời phu nhân đấy!

Thúy Sơn kiên quyết đáp :

- Nếu Nhương Thư không còn thì tiểu muội cũng chẳng muốn sống làm gì nữa!

Nửa đêm, nàng khăn gói ra đi, để lại một bức thư cho sư phụ và Vô Ưu Cái.

Bọn hán tử báo cho Thúy Sơn biết hướng đi của Tần Nhật Phủ, nàng liền phi nước đại đuổi theo, bốn ngày sau bắt kịp mục tiêu ở Trịnh Châu.

Nàng vào thành lúc rạng sáng, mừng rỡ vì gặp Dương Châu Thần Thâu Bạch Túc Nhiên. Họ Bạch đi trước nàng một ngày, luôn bám theo đuôi Tần Nhật Phủ.

Gã đang ngồi gật gù ở một mái hiên bên đường, chạy ra chặn Thúy Sơn lại :

- Phu nhân đến đây làm gì? Họ Tần đang trọ trong tòa lữ điếm bên kia đường đấy!

Thúy Sơn liền kể sơ kết quả điều tra dâm tặc ở Tạ gia trang, rồi nghiêm nghị nói :

- Ngọa Long Tú Sĩ đã nghi ngờ Tần Nhật Phủ là Nhương Thư, khuyên ta hy sinh tiết hạnh để kiểm chứng. Túc hạ hãy chịu khó bám theo ta, khi cần thiết sẽ dùng ám khí tiêu diệt gã!

Dương Châu Thần Thâu tuy không phải đệ tử Ðường môn nhưng lại có tài phóng độc tiễn rất thần diệu. Gã nhăn mặt bàn :

- Hà tất phu nhân phải đặt cả cuộc đời mình vào canh bạc này! Muốn kiểm tra hư thực thì cứ kiên nhẫn theo dõi. Hơn nữa, trừ dáng vóc và giọng nói ra, Nhật Phủ nào có điểm gì giống với công tử đâu?

Thúy Sơn chột dạ phân vân, không dám tiếp cận Tần Nhật Phủ. Ðồng ý cùng Bạch Túc Nhiên âm thầm điều tra.

Mãi đến giữa giờ Thìn, Tần Nhật Phủ mới rời lữ điếm, gương mặt phờ phạc vì mất ngủ, ánh mắt buồn rầu khó tả.

Ðúng là đêm qua chàng giật mình trở giấc lúc cuối canh tư vì một giấc mơ quái dị. Nhật Phủ nằm mộng thấy mình đang ở Tạ gia trang, ân ái với người vợ mất trí của Nhương Thư là Mã Lan. Cảnh mây mưa ấy hiện ra rất rõ ràng, có đầy đủ hơi ấm và mùi thơm từ thân thể nuột nà của người góa phụ. Nhật Phủ thoát dương, kinh hãi ngồi bật dậy, và không sao ngủ lại được. Cảm giác chân thật kia khiến chàng nghi ngờ rằng có thể chính mình là tên dâm tặc điên loạn. Chỉ có kẻ điên mới không nhớ được quá khứ, và tất nhiên sẽ không làm chủ được hành vi.

Nỗi tuyệt vọng cứ lớn dần, Nhật Phủ tự phỉ nhổ mình và không còn muốn sống nữa. Nhưng để tạ lỗi với Tần Nhương Thư, chàng sẽ liều chết giết cho được Kỵ Ba Thần Quân.

Ðã nuôi chủ ý như vậy nên Nhật Phủ phi nước đại về hướng Ðông, chiều hôm sau rẽ trái và đến Khai Phong vào quá trưa ngày mười ba.

Ðôi lông mày kép là chiêu bài lừng lẫy của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách nên đám đệ tử Âm Sơn giáo mau chóng phi báo về Tổng đàn ở Cô Ðộc bảo.

Dùng bữa xong, Tần Nhật Phủ đi tìm Âm Sơn lão tổ. Giới võ lâm Khai Phong không thiếu óc hiếu kỳ đã rầm rộ bám theo, tổng số không dưới bốn mươi.

Cô Ðộc bảo nằm ở phía Ðông thành Khai Phong, giờ đã chính thức thuộc về Âm Sơn giáo. Vô Ưu Cái đã đem cơ ngơi này hiến cho Âm Sơn lão tổ để chuộc Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi. Họ Quách được tha lập tức trở về Tứ Xuyên thăm mẹ già. Còn người chủ cũ của Cô Ðộc bảo là Trung Nguyên Cao Sĩ thì đã âm thầm xuất gia từ hai năm trước, trở thành đệ tử phái Thiếu Lâm, việc này rất ít người biết.

Nhờ việc tổ chức đại hội võ lâm mà liên minh giữa Âm Sơn giáo và Sơn Hải bang tan rã. Âm Sơn lão tổ án binh bất động, để mặc lực lượng Bạch đạo đánh nhau với Kỵ Ba Thần Quân.

Nhờ tin tức của Ngọa Long Tú Sĩ mà phe chính phái đã xuất quân từ Cưu Sơn, phá hủy nhiều cơ sở mật của Sơn Hải bang ở Huy Châu, Bắc Giang Tô khiến chúng không thể bành trướng ra ngoài phủ Sơn Ðông.

Ðệ tử các phái đều cải trang, chiến đấu dưới danh nghĩa Cưu bang, khiến oai danh Hoàng Nghi Tuyệt và Từ Thanh Huệ nổi như cồn.

Sau khi điểm sơ cục diện võ lâm, chúng ta quay lại với Tần Nhật Phủ. Chàng ta dừng cương trước Cô Ðộc bảo, lạnh lùng nói với mấy gã gác cổng :

- Các ngươi vào báo với Âm Sơn lão tổ rằng có Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đến so tài cao thấp!

Âm Sơn lão tổ Lương Dã Toàn đang uống trà với Nghiên Tái Thuần, nghe báo tin liền cau mày hỏi :

- Thuần nhi! Sao gã họ Tần đến khiêu chiến với ta?

Nghiên Tái Thuần lúc lắc cái đầu to tướng :

- Lạ thực! Giả như bọn Vô Ưu Cái chiêu mộ được Tần Nhật Phủ thì cũng để dành cho đại hội võ lâm chứ sao lại đưa gã vào chỗ chết thế này? Thực là khó hiểu! Thôi được, sư phụ cứ ra đấu với họ Tần, và đặt điều kiện bắt y phải qui phục nếu thua!

Lương Dã Toàn mừng rỡ :

- Hay lắm! Nếu thu phục được Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách thì thực lực Âm Sơn giáo sẽ mạnh lên hẳn! Nghe đồn rằng Nhật Phủ đã từng cầm hòa với Hồng Diện Tôn Giả ở Bắc Kinh!

Nghiên Tái Thuần cười xảo quyệt :

- Sư phụ hãy ăn mặc thật chỉnh tề, kéo dài thời gian. Tần Nhật Phủ còn trẻ, chờ đợi lâu tất sẽ bồn chồn, tâm loạn động, kiếm pháp lộ nhiều sơ hở!

Âm Sơn lão tổ hài lòng khen :

- Ngươi đúng là quân sư tốt của lão phu!

Song Nghiên Tái Thuần lại không ngờ sự xảo quyệt của mình đã gây tai họa. Số là Thúy Sơn và Dương Châu Thần Thâu cũng có mặt trong đám hào khách hiếu kỳ. Lúc đầu, họ không biết mục đích của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách, lòng rất nghi hoặc. Khi nghe chàng lên tiếng khiêu chiến với Âm Sơn lão tổ thì Thúy Sơn mới tá hỏa tam tinh. Nàng bối rối hỏi Dương Châu Thần Thâu :

- Bạch túc hạ, làm sao bây giờ? Sao họ Tần lại đến đây liều mạng với Lương lão quỷ, đi ngược với kế hoạch của hội đồng võ lâm? Quân số Âm Sơn giáo đông như kiến, Nhật Phủ chẳng thể nào thoát thân được!

Bạch Túc Nhiên gãi tai, nhăn mặt :

- Ta cũng không hiểu nổi! Nhưng trước mắt phải tìm cách giải vây cái đã!

Họ Bạch có dung mạo đoan chính, dễ mến, khiến cả thiên hạ phải lầm to. Thực ra, Bạch Túc Nhiên cực kỳ xảo trá, quỷ quyệt, thủ đoạn lại tàn nhẫn phi thường. Có điều, gã chỉ lấy trộm của bọn trọc phú, cường hào, ác bá mà thôi, cho nên được cả hai phe chính tà tôn trọng.

Dương Châu Thần Thâu nghĩ ngợi một lúc, tủm tỉm hỏi Thúy Sơn :

- Phu nhân có mang theo vàng đấy không?

Nàng góa bụa sầu muộn gật đầu :

- Ðộ bốn vạn lượng! Túc hạ cần bao nhiêu?

- Sao phu nhân lại mang theo cả một gia tài như thế? Tại hạ chỉ cần năm trăm lượng là đủ!

Thúy Sơn không trả lời, lặng lẽ móc ngân phiếu trao cho Dương Châu Thần Thâu ngàn lượng. Mắt nàng hơi ươn ướt vì thương nhớ trượng phu, số của cải này do Nhương Thư lấy được của Trác Thiên Lộc. Nàng thầm ghen với sự giàu sang của ba cô gái họ Ðiền nên đã giữ lấy để sau này có của hồi môn mà về làm dâu họ Tần.

Thúy Sơn buồn bã nói :

- Bạch túc hạ cứ cầm cả ngàn lượng, nếu thiếu tiểu muội sẽ đưa thêm!

Bạch Túc Nhiên nheo mắt đáp :

- Tần Nhật Phủ được xem như người nhà của quan Tả Ðô ngự sử cầm đầu Ðông Xưởng. Việc này đã được truyền tụng khắp quan trường, vì vậy, chỉ cần vài trăm lượng cũng đủ khiến Tổng binh thành Khai Phong phải kéo quân đến giải vây cho họ Tần. Phu nhân hãy yên tâm chờ tin của tại hạ!

Nói xong, gã quay ngựa phóng như bay trở lại thành Khai Phong, cách Cô Ðộc bảo chừng chục dặm.

Thúy Sơn yên lòng quay sang ngắm Tần Nhật Phủ. Nàng đã cải nam trang, mang râu rậm, đội nón vành rộng nên chẳng sợ ai nhận ra. Bạch Túc Nhiên là đạo chích, trong hành lý lúc nào cũng sẵn đạo cụ dịch dung.

Lúc này đã là đầu giờ Thân, vầng dương ngã về tây nhưng vẫn còn chói lọi, nhuộm hồng bộ võ phục trắng và gương mặt rám nắng của Tần Nhật Phủ.

Chủ nhà lần khân mãi chẳng chịu ra, khách quan chiến đều nóng ruột mà họ Tần vẫn bình thản đứng im như pho tượng, mắt hướng về ngọn núi mờ xa, phía sau lưng Cô Ðộc bảo.

Lòng Thúy Sơn lại rộn rã niềm hy vọng vì phong thái trầm tĩnh, định lực thâm hậu kia nào có khác Nhương Thư.

Hơn khắc sau, Âm Sơn lão tổ và bọn đầu lĩnh Âm Sơn giáo mới khệnh khạng xuất hiện.

Lương Dã Toàn vốn là người cao to lực lưỡng, tuy mặc đạo bào nho nhã màu nguyệt bạch, đầu đội mũ đạo sĩ, mà vẫn oai phong lẫm liệt như võ tướng. Nhờ Thiên Niên Tuyết Sâm mà râu tóc lão đen nhánh, mặt hồng hào, trông trẻ như mới năm mươi. Giờ đã là Giáo chủ một giáo phái, Lương Dã Toàn mạ vàng cây côn thép cho xứng với thân phận cao cả.

Thúy Sơn giận run khi nhận ra kẻ mặc trường bào gấm đen sang trọng, đi sau lưng Âm Sơn lão tổ, chính là gã phản bội Nghiên Tái Thuần. Họ Nghiên cũng cầm đoản côn, nhưng đường kính nhỏ hơn côn của Lương Dã Toàn, và mạ bạc sáng loáng.

Nghiên Tái Thuần nghiêng chiếc đầu to, hấp háy đôi mắt liếng, ngắm nghía Tần Nhật Phủ rồi nói nhỏ vài câu với Lương Dã Toàn.

Lương Dã Toàn cười ha hả, vòng tay nói với khách :

- Từ lâu, lão phu vẫn thường ngưỡng mộ thanh danh của bậc anh tài trẻ tuổi đất Hà Bắc, không ngờ hôm nay lại được Tần công tử ghé thăm, quả là vinh hạnh! Lão phu vốn “ái tài như mạng”, sẵn sàng mời công tử hạ cố nhận chiếc ghế Phó giáo chủ Âm Sơn giáo! Nếu công tử không chê, xin mời vào sảnh bàn bạc!
Miếng mồi vinh hoa phú quý này không thể mua chuộc được bậc anh hùng. Nhật Phủ hờ hững lắc đầu :

- Tại hạ vốn nhạt mùi danh lợi, chỉ xem trọng võ học, nên đến đây để lãnh giáo tôn giá vài chiêu. Nếu tôn giá sợ thì hãy lột chiêu bài, rút quân về Tây Hạ!

Âm Sơn lão tổ tính tình nóng nảy, không chịu nổi lời khiêu khích ngạo mạn kia, liền trợn mắt nạt :

- Lão phu sở hữu trăm năm công lực, lẽ nào lại sợ một gã tiểu tử chưa ráo máu đầu! Ngươi đã dám khoác lác thì chớ trách lão phu tàn nhẫn!

Nghiên Tái Thuần vội kéo áo sư phụ để nhắc nhở. Lương Dã Toàn hiểu ý lùi lại để Nghiên Tái Thuần bước lên.

Họ Nghiên vòng tay cười nói :

- Công tử có dám đánh cược với tại hạ hay không? Nghĩa là, nếu công tử bại trận thì phải trở thành người của Âm Sơn giáo, bằng như công tử thắng thì bọn ta sẽ rút về Tây Hạ!

Nhật Phủ ở Lạc Dương cả tháng, thường được nghe nhắc đến gã phản bội xấu trai này. Nay gặp mặt, chàng vô cùng chán ghét, lạnh lùng đáp :

- Ta đồng ý nếu ngươi chịu xuất thủ! Sau ba mươi chiêu mà ngươi vẫn lành lặn thì ta sẽ qui hàng!

Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ cũng đồn xa. Bọn hào khách Khai Phong đều biết Nghiên Tái Thuần khi sư diệt tổ, phản lại võ lâm Trung Nguyên. Do vậy, họ nhao nhao xúi giục Nghiên Tái Thuần nhận lời, mong gã sẽ chết thảm dưới tay Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách. Dù chính hay tà, kẻ phản sư luôn bị người đời khinh ghét. Có kẻ mỉa mai :

- Ba mươi chiêu mà cũng không cầm cự nổi thì thật là nhục nhã cho Âm Sơn giáo! Tướng ngươi xấu xí như ma, lại nhút nhát thì còn sống làm quái gì nữa!

Khách quan chiến phá lên cười chế nhạo sự lưỡng lự của Nghiên Tái Thuần. Song họ Nghiên gian xảo có thừa, thản nhiên cười đáp :

- Tại hạ mới học côn pháp chẳng bao lâu, không dám bêu xấu ân sư, đành phải chịu tiếng nhát gan vậy! Xin Tần công tử cứ đấu với gia sư mới xứng với thân phận một bậc anh hùng!

Tần Nhật Phủ thở dài :

- Khá khen cho ngươi giỏi chịu nhục còn hơn Hàn Tín! Thôi được, để ta giết Âm Sơn lão tổ xong sẽ tìm đến ngươi sau!

Câu nói lạnh lùng như băng và chắc như đinh đóng cột này đã làm cho Nghiên Tái Thuần chột dạ, không còn cười nổi nữa.

Lương Dã Toàn nghe đối phương đòi lấy mạng mình, điên tiết bước ra :

- Tiểu oa nhi ngông cuồng! Ngươi tận số rồi!

Lão chực xông đến thì nhận ra Nhật Phủ đã rút gươm dựng đứng trước ngực, phong thái uy nghi như thiên tướng. Sát khí dàn dụa không gian. Lương Dã Toàn thoáng rùng mình, thức ngộ rằng Nhật Phủ đã đạt đến trình độ thượng thừa trong kiếm đạo, chẳng phải kẻ dễ bị ăn hiếp.

Song Âm Sơn lão tổ chưa kịp bình tâm thì Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đã thực hiện câu “tiên hạ thủ vi cường!”. Họ Tần hóa thành đạo kiếm quang sáng bạc, bay vút đi, thân ảnh chập chờn nhưng nhanh tựa sao băng.

ở tuổi dưới ba mươi mà luyện thành Ngự kiếm thuật thì quả là chuyện cổ lai hi hữu. Lương Dã Toàn biến sắc, múa tít kim côn, lực đạo ngàn cân xé không gian vun vút, kín đáo và mãnh liệt phi thường.

Hai màn lưới thép chạm nhau chói tai, song phương dội ra và có tiếng Âm Sơn lão tổ gầm lên giận dữ. Lão đã nhờ công lực thâm hậu mà đánh bạt được chiêu Ngự kiếm, song vẫn bị một vết thương nhỏ nơi bắp vai trái. Lòng tự tôn của một lão đại ma đầu không thể chấp nhận được sự thiệt thòi nhỏ bé ấy, Lương Dã Toàn nổi điên dồn sức vào đường côn, quyết đập nát xác gã tiểu tử khốn kiếp kia.

Cây kim côn nặng đến bốn mươi ba cân ban phát những cú đập trời giáng, khiến hổ khẩu họ Tần đau rát. Gã thầm hiểu công lực mình kém xa đối thủ, đành dở pho khinh công Cửu Huyền thần bộ ra đối phó.

Tuyệt học của Sấu Tiên quả thần diệu tuyệt luân, chín bóng ảnh quay cuồng quanh Lương Dã Toàn tạo nên một cảnh tượng kỳ dị, khiến bọn hào khách phục sát đất, hoan hô vang dội.

Lương Dã Toàn thầm khiếp sợ trước pho thân pháp ma quỷ kia vì nhận ra nguồn gốc. Sấu Tiên đã từng đả bại Thần Quang Chân nhân nhờ bộ pháp Cửu Huyền.

Từ những bóng thực hư lẫn lộn ấy, Tần Nhật Phủ ập vào thọc kiếm xuyên qua lưới côn, lần lược đâm hàng chục lỗ trên cơ thể đối phương. Song luồng cương khí hộ thân dày đặc của một kẻ sở hữu đến trăm năm công lực đã ngăn cản đà tiến của mũi kiếm nên không vết nào sâu hơn cả.

Âm Sơn lão tổ vẫn kiên cường chiến đấu, bảo vệ chu đáo các tử huyệt, chờ đối phương mệt mỏi mà hạ thủ.

Quả thực vậy, tốc độ sao băng, hư ảo của Cửu Huyền thân pháp rất tiêu hao chân khí nên Tần Nhật Phủ chẳng thể thi triển lâu dài được. Do thế, tuy thương tích đầy mình song cuối cùng Lương Dã Toàn sẽ là người chiến thắng.

Bộ đạo bào bạch nguyệt bằng gấm thượng hạng đã rách như tổ ong, nhuộm hồng máu, nhưng đường côn của Lương Dã Toàn vẫn cương mãnh như bão tố.

Sau vài khắc, nguồn tu vi gần hoa giáp của Tần Nhật Phủ đã suy giảm thấy rõ. Gã chỉ còn có thể hóa thành năm bóng ảnh mà thôi.

Dù bọn hào khách trầm trò tán dương, nhưng Nhật Phủ tự biết mình sẽ chết nếu không kết liễu ngay được Lương Dã Toàn. Chàng chẳng tiếc mạng, chỉ tiếc sau trận này không còn sống đến đến Tế Nam tiêu diệt Kỵ Ba Thần Quân.

Nhật Phủ đành an phận với cục diện, quyết định một đổi một. Chàng dồn bốn thành lực đạo sang bàn tay tả đang bắt kiếm ấn rồi xông vào.

Nhật Phủ xuất chiêu “Trang Tử Khóc Thê” trong pho Huyền Không kiếm pháp, thân kiếm rung động phát ra những âm thanh ngân nga như tiếng hát thê lương. Chiêu này lấy tích Trang Chu ngồi bên xác vợ già, lúc đầu thì khóc lóc, sau lại ca hát cho đúng đạo trời.

Âm thanh thì thế, còn kiếm ảnh là màn sương gồm hàng ngàn giọt lệ long lanh. Ðạo tự nhiên là có sinh có diệt, nhưng tình nghĩa phu thê lại khơi dòng lệ thảm.

Âm Sơn lão tổ vẫn giữ nguyên đấu pháp cũ, phòng thủ kín đáo và tấn công bằng sức mạnh chẻ núi. Lão không hề bối rối, nghiến răng công phá màn kiếm quang mù mịt kia, mừng vì chỉ vài thế đã đánh bạt được thanh thép nguy hiểm.

Và tất nhiên lão thừa thắng xông lên vì đối phương đã lộ sơ hở chết người. Lương Dã Toàn chớp cơ hội, thọc mũi côn vào ngực họ Tần. Lão cảm nhận được xương lồng ngực của Nhật Phủ gẫy răng rắc nhưng đồng thời cũng thấy mắt phải mình đau buốt, rồi não bộ nóng rực lên như bị dùi sắt nung đỏ xiên vào.

Thân hình Tần Nhật Phủ văng ngược, lăn lông lốc trên mặt cỏ, còn Âm Sơn lão tổ ôm mặt rú lên như điên loạn. Lão đã bị một đạo Lục Mạch thần chỉ phá vỡ nhãn cầu, xuyên vào óc nên không thể không chết.

Toàn trường kinh hoàng trước tiếng thét ghê rợn và thê thảm của Âm Sơn lão tổ, rồi sững sờ nhìn lão ngã quị, thân thể co giật liên hồi.

Nghiên Tái Thuần sớm hoàn hồn, xông đến vung Ngân côn hạ sát Tần Nhật Phủ. Nhưng một hán tử áo xanh đội nón rộng vành đã kịp xuất hiện cạnh họ Tần, vung kiếm đỡ đòn. Người ấy chính là Bạch Thúy Sơn.

Nghiên Tái Thuần nhờ tà pháp Thái Bổ, sau khi uống ba viên Thiên Niên Tuyết Sâm, đêm đêm giao hợp với nữ nhân để hút Âm nguyên nên công lực tăng tiến phi thường. Bọn kỹ nữ Khai Phong chỉ sau một lần phục vụ Nghiên Tái Thuần là liệt giường tám chín ngày, không dám tiếp gã nữa. Thế là họ Nghiên dùng bản lãnh võ công làm hại đám dân nữ trong vùng lân cận Khai Phong. Tóm lại, giờ đây gã sở hữu đến gần ba chục năm công lực.

Nghiên Tái Thuần lại thông minh tuyệt thế, vài tháng đã thuộc làu pho Âm Sơn côn pháp, chỉ kém phần kinh nghiệm lâm trận.

So ra, Nghiên Tái Thuần không hơn được một kẻ dày công luyện tập như Thúy Sơn, nhưng nàng lại không dám rời xa Nhật Phủ nên bị bó tay, bó chân lúng túng trước kẻ thù.

Thúy Sơn cắn răng chống đỡ những đường côn vũ bão của Nghiên Tái Thuần, hổ khẩu tóe máu mà vẫn phải trực diện va chạm để bảo vệ cái xác dưới chân mình. Tuy không biết chắc nhưng nàng hi vọng Nhật Phủ chưa chết.

Và nếu họ Tần chính thực là Nhương Thư thì càng có nhiều khả năng sống sót, vì cơ thể chàng nhờ tinh huyết Thủy Xà Vương mà rắn chắc phi thường. Nhương Thư từng trúng liền mấy gậy sắt của cao thủ Bát Quái môn ở Cưu Sơn mà vẫn lành lặn. Trường côn của đám sư huynh Từ Thanh Huệ cũng nặng chẳng kém Kim côn của Âm Sơn lão tổ.

So sánh đơn giản thì như thế, song Thúy Sơn cũng biết Lương Dã Toàn có đến trăm năm công lực, đòn ra nát đá tan vàng. Nhưng dẫu sao Thúy Sơn cũng không để mất niềm hy vọng cuối cùng của đời mình.

Nàng di chuyển quanh thân xác Tần Nhật Phủ, vất vả giải phá những chiêu côn hiểm ác của Nghiên Tái Thuần, lòng thầm van trời xanh thúc giục Dương Châu Thần Thâu đem quân triều đình đến sớm, trước khi nàng kiệt sức.

Tiếng khóc la của bọn dũng sĩ Ðảng Hạ vang lên, chứng tỏ rằng Âm Sơn lão tổ đã thăng thiên và đám đệ tử thân tín của lão giận dữ, đánh đuổi bọn hào khách Khai Phong, rồi vây chặt đấu trường. Chờ Thúy Sơn thất cơ là xông vào bằm xác cả nàng lẫn Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách.

Nghiên Tái Thuần vững bụng chiến đấu, chỉ vài chục hiệp đã đánh văng nón tre trên đầu đối thủ. Gã đã âm thầm si mê, thèm khát bốn ả góa phụ của Nhương Thư nên nhận ra ngay Thúy Sơn. Nghiên Tái Thuần mừng rỡ cười dâm đãng :

- Té ra là Bạch phu nhân! Tạ ơn trời đã xui khiến nàng đến đây để Nghiên mỗ được thỏa lòng mong ước!

Thúy Sơn giận dữ chém liền bốn kiếm như sấm sét. Nghiên Tái Thuần vung côn đỡ đòn, phản kích lại và mỉa mai :

- Phải chăng nàng đã ngứa nghề nên trốn theo gã Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách này? Tiếc thay gã đã chết rồi, không ai chịu nổi một côn của Âm Sơn lão tổ vào ngực mà sống sót nổi! À mà không sao, bản lãnh phòng the của ta còn lợi hại hơn Nhật Phủ bội phần!

Dứt lời, Nghiên Tái Thuần tấn công ráo riết cố đánh văng bảo kiếm của nàng mà bắt sống.

Thúy Sơn bản chất ngoan cường, thà chết chứ không chịu nhục, đem hết sở học ra đối phó, kiếm quang cuồn cuộn sát khí, nhẫn nại duy trì cục diện để chờ viện binh.

Ðường côn của Nghiên Tái Thuần nặng như búa bổ nên hổ khẩu Thúy Sơn rách toạc, máu rỉ ướt lòng bàn tay, cơ hồ không còn cầm vững chuôi kiếm nữa.

Trong lúc hiểm nghèo ấy, bất ngờ Tần Nhật Phủ mở mắt, đưa cao bàn tay hữu và máy động ngón giữa, từ huyệt Thương Dương sau góc móng, một đạo chỉ kình bay ra, xạ thẳng vào huyệt Khí Hải của Nghiên Tái Thuần.

Họ Tần thọ trọng thương, công lực chẳng còn bao nhiêu, thủ pháp lại thiếu chuẩn xác, nên đạo chỉ phong kia lệch mục tiêu, trúng vào hạ nang của đối phương.

Nhật Phủ là bậc anh hùng, dù chán ghét họ Nghiên nhưng cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện tấn công vào hạ thể, đưa Nghiên Tái Thuần vào cảnh tuyệt tự. Xong trời xui đất khiến nên một viên Ngọc Hành của Nghiên Tái Thuần lại lãnh đủ, bị Lục Mạch thần chỉ xuyên thủng.

Ðây là một bộ phận yếu ớt, nhạy cảm nhất trong cơ thể con người, dù không gây tử vọng. Nghiên Tái Thuần đau thấy ông bà ông vải, rú lên the thé, tay chân bủn rủn. Tất nhiên đường côn của gã mất lực đạo và lộ sơ hở. Thúy Sơn mừng rỡ nghiến răng thọc một kiếm vào ngực gã phản trắc ti tiện.

May cho Nghiên Tái Thuần ở chỗ gã co rúm người vì đau đớn nên chỉ bị đâm trúng vai, như thế cũng đủ khiến họ Nghiên thét lên, tung mình ra xa. Gã đang thúc thủ hạ xông đến thì Thúy Sơn đã móc Bạt Sơn Thần Lựu ném vào hàng ngũ bọn Ðảng Hạ ở hướng Ðông.

Hỏa khí nổ vang trời, thịt xương tan nát văng tứ tán, khiến đám người hủ lậu đất Tây bắc kia kinh tâm tán đởm, bỏ chạy cả. Lúc này Thúy Sơn đã kịp cõng Tần Nhật Phủ trên lưng, lao về phía phòng tuyến bị vỡ.

Nghiên Tái Thuần tức tốc thúc giục đệ tử Âm Sơn giáo truy sát, song Thúy Sơn đã ném ngược lại một trái Thần Lựu nữa, tăng số thương vong của kẻ thù và khiến chúng phải từ bỏ ý định đuổi theo.

Thúy Sơn thoát về hướng Ðông và biệt dạng trong cánh rừng già dọc bờ Nam sông Hoàng Hà. Nàng không dám trở lại thành Khai Phong vì nơi ấy ngập tràn kẻ địch, Âm Sơn bảo kê toàn bộ sanh ý trong thành, tay chân rải rác khắp nơi. Hơn nữa, nàng cho rằng quan quân Lạc Dương bị Âm Sơn giáo mua chuộc nên đã không nghe theo lời mời của Dương Châu Thần Thâu đến giải vây cho Tần Nhật Phủ.

Thúy Sơn cõng họ Tần chạy miết, tay dùng bảo kiếm chặt cành mở lối. Ðược mười dặm, nàng gặp một tòa nhà gỗ lớn khang trang, tọa lạc trên bãi cỏ phẳng giữa rừng, mừng rỡ rảo bước đến gọi. Nhưng mãi chẳng thấy chủ nhân lên tiếng, Thúy Sơn liền đẩy cổng dậu gỗ mà vào.

Thấy cửa chính bị khóa chặt, biết chủ nhà đi vắng, Thúy Sơn vung kiếm phá ổ khóa.

Ðồ đạc, vật dụng trong nhà tuy không quí giá nhưng rất đầy đủ. Thúy Sơn đặt Nhật Phủ nằm xuống chiếc giường vạt tre rồi tất tả trở ra ngoài, phi thân lên một ngọn cây Du cao vút để quan sát và nghe ngóng. Biết chắc Âm Sơn giáo không đuổi theo, nàng thở phào nhảy xuống, vào nhà chăm sóc thương thế cho nạn nhân.

Tuy thẹn thùng nhưng Thúy Sơn thức ngộ rằng đây là cơ hội hiếm có để nàng kiểm tra cơ thể Nhật Phủ. Nhương Thư có những vết sẹo, những nốt ruồi mà nàng rất quen thuộc.

Tần Nhật Phủ đang mê man bất tỉnh, máu trong phổi liên tục ứa ra khóe miệng. Thúy Sơn vội cho bệnh nhân uống mấy viên linh đan trị nội thương, rồi tranh thủ lúc ánh tà dương chưa tắt, cởi áo Nhật Phủ ra để xem xét.

Ðầu Kim côn của Âm Sơn lão tổ đã gây ra một vết tím bầm sưng vù dưới vú phải của họ Tần. Thúy Sơn ấn thử, cảm giác được sự rời rạc của những lóng xương bị gãy, thở dài lo lắng. Nàng chỉ hy vọng không đoạn xương nào cắm vào phổi họ Tần.

Thúy Sơn bôi đầy cao lên thương tích rồi bắt đầu quan sát kỹ những vết sẹo trên thân trước Nhật Phủ. Khổ thay, gã có rất nhiều sẹo dọc ngang, mới chồng lên cũ, chẳng thể nào tìm ra chân tướng. Từ thắt lưng trở xuống, Nhương Thư không có dấu vết gì đặc biệt, còn dương v*t thì Thúy Sơn cho rằng ai cũng giống ai. Vậy thì chỉ còn cách liều chết ân ái với Nhật Phủ mà thôi. Trong cuộc mây mưa, Nhương Thư có những thói quen mà nàng tuyệt đối chẳng thể nào lầm.

Thúy Sơn cẩn thận xăm soi gương mặt đẹp của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách. Ðôi lông mày kép dị tướng kia hoàn toàn là thực, và da mặt chàng không hề có sẹo.

Thực ra, tài nghệ của Ải Thần Quân chẳng siêu phàm đến mức ấy, mà chính dược lực của ba loại kỳ trân trong cơ thể Nhương Thư đã làm cho những vết sẹo kia biến mất. Chàng từng bị đâm chém rất sâu mà khi lành cũng chỉ để lại dấu vết mờ mờ, huống hồ gì những đường rạch nhẹ nhàng khéo léo của Ải Thần Quân.

Y phục của Thúy Sơn dính đầy máu do Nhật Phủ ói ra, nên nàng xuống nhà tìm chỗ tắm rửa. Là nữ nhân, nàng không chịu nổi sự dơ bẩn.

Tòa mộc xá này tuy chỉ có một cửa chính song bên trong lại chia làm ba gian, phía sau có thêm nhà bếp nhỏ. Nhà bếp là từ dùng để chỉ nơi nấu nướng và vệ sinh, Thúy Sơn hài lòng vì lu sành trong nhà tắm đầy ắp nước.

Nàng tò mò lục lạo một hồi phát hiện gạo và thịt khô rất dồi dào. Còn nguồn nước là giếng sau vườn, xung quanh trồng đầy rau.

Khách giang hồ luôn cột chặt tay nải nhỏ vào lưng nên cả Thúy Sơn lẫn Nhật Phủ đều có y phục sạch để thay. Tắm gội xong, Thúy Sơn trở vào nhà trên, ngần ngại một lúc thầm khấn vái Nhương Thư rồi cởi quần dài Nhật Phủ ra. Nàng dùng khăn ướt lau người cho gã, chuẩn bị thay bộ võ phục mới.

Họ Tần vẫn mê man, người hâm hấp sốt nhưng mạch vẫn đều đặn và máu trong phổi đã thôi ứa ra. Thúy Sơn đỏ mặt nhìn cơ thể gần như trần truồng, rùng mình vì cảm giác quen thuộc. Những bắp thịt cuồn cuộn săn chắc kia nào có lạ gì với nàng. Và dường như mùi da thịt này cũng đúng là của Nhương Thư. Nhưng Thúy Sơn vẫn không thể đoan chắc, chỉ sợ mình lầm, gương mặt của Nhật Phủ quá ư là xa lạ.

Ðau đớn vì mối nghi ngờ, Thúy Sơn ứa nước mắt, cắm cúi mặc quần áo cho họ Tần. Nàng chợt bối rối khi nghĩ đến lúc bệnh nhân tiêu tiểu, chỉ biết thở dài phó mặc.

Thúy Sơn xuống bếp vo gạo, nấu cháo với thịt khô, chắt nước đổ vào miệng người bệnh. Nàng mừng rỡ vì gã nuốt ngon lành, không hề nôn ra.

Trời đã tối hẳn, may mà trong nhà sẵn hai ngọn đèn dầu mỏ. Thúy Sơn đốt cả hai, một để lại trên bàn gần giường bệnh, một cầm theo để xem xét hai gian kia.

Tần Nhật Phủ đang nằm ở phòng mé tả, có lẽ là phòng ngủ của chủ nhà. Gọi là phòng cũng không đúng vì ba gian chỉ được ngăn cách nhau bằng hai bức bình phong, mỗi bức gồm năm mảnh gỗ đen bóng, chạm trổ hoa văn cầu kỳ.

Gian giữa có một bệ thờ trên đặt tượng Tam Thanh, bát nhang, chuông, mõ. Phải chăng chủ nhân nơi đây là một đạo sĩ. Trước bệ thờ có mảnh chiếu và một chiếc bồ đoàn.
Gian mé hữu chất đầy sách trên kệ gỗ sát vách, giữa là án thư và chiếc ghế dựa. Thúy Sơn hiếu kỳ lật sách xem thử, chỉ thấy toàn là kinh sách của đạo giáo.

Nàng quay về gian giữa, thắp hương cắm vào lò rồi quì xuống khấn vái, khóc lóc. Hồng Diện Tôn Giả thờ Phật, nhưng trong lúc rối ren này, Thúy Sơn sẵn sàng cầu khẩn bất cứ vị thần nào, mong sao phù hộ cho nàng đủ sáng suốt và may mắn trong cuộc thử nghiệm chết người này. Chỉ riêng việc nàng tắm rửa cho Tần Nhật Phủ cũng đủ gọi là thất tiết, không mặt mũi nào sống nữa. Chẳng lẽ nàng để gã tiểu tiện ra quần mà không làm sạch.

Lệ thầm trào tuôn cũng khiến nàng tỉnh táo hơn, càng tin vào linh cảm của mình. Vả lại, Ngọa Long Tú Sĩ đã khẳng định được tám phần sự thực, và ba nàng tiểu thư họ Ðiền cũng khăng khăng xác nhận mùi chồng.

Ðã có chủ ý, Thúy Sơn trèo lên giường nằm chung với Nhật Phủ vì không thể nằm dưới đất được. Nửa đêm nàng cho gã uống thuốc lần nữa và phát hiện đũng quần của họ Tần ướt đẫm.

Thúy Sơn tần ngần, lưỡng lự một lúc rồi cắn răng lao vào canh bạc. Nàng cởi cả quần dài lẫn quần ngắn của gã trai hư đốn kia, trống ngực đập thình thịch nhớ lại những ngày dưới vực thẳm Sáp Vân Phong. Kỷ niệm ấy mãi mãi khắc sâu trong lòng nên không thể lầm được. Nhưng nàng chỉ biết có một nam nhân duy nhất, lấy cơ sở nào để so sánh.

Sau ba ngày mê man, cơ thể Nhật Phủ đã hồi sinh. Chàng ta tỉnh lại lúc rạng sáng ngày mười bảy, ngơ ngác nhận ra người vợ góa xinh đẹp của Tần Nhương Thư nằm cạnh mình.

Nhật Phủ hồi tưởng lại, hiểu rằng sau khi chàng dùng Lục Mạch thần chỉ đã thương Nghiên Tái Thuần, Thúy Sơn đã đưa chàng đào tẩu đến khu rừng này. Qua khung cửa sổ mở rộng kia, chàng nhìn rõ màu đỏ vàng của những cây ô Thích sớm thư về, và nghe chim rừng ríu rít đón bình minh.

Nhật Phủ ngắm nhìn gương mặt thanh tú nhưng xanh xao của Thúy Sơn, cố nén tiếng thở dài. Chàng chợt nghe lòng rung động mãnh liệt những cảm giác yêu thương. Giờ đây, chàng mới thức ngộ được rằng mình thầm ái mộ nàng quả phụ này.

Hình bóng ba người đàn bà họ Ðiền hiện ra khiến Nhật Phủ vô cùng chua xót, hoang mang. Từ ngày xuất đạo, chàng luôn tôn sùng bậc kỳ hiệp Ngũ Ðài Sơn là Tần Nhương Thư, xem đấy là tấm gương sáng, nào ngờ, chính chàng lại làm kẻ bất nghĩa. Dường như chàng đã say mê bốn người vợ góa của Nhương Thư.

Nhật Phủ nghe bàng quang căng cứng, rón rén ngồi lên, ra phía sau tiểu tiện. Và chàng giật mình khi thấy cả quần lót cũng được thay. Vậy là Thúy Sơn đã vì chàng mà hi sinh tiết hạnh.

Nhật Phủ thẫn thờ trở vào nhà trên, đi thử sang hai gian kia, rồi ngồi xếp bằng trên án thư vận công kiểm tra chân khí.

Chàng mừng vì kinh mạch thông suốt, chỉ hơi đau khi lưu chuyển qua huyệt Nhũ Căn nơi ngực phải. Huyệt này thuộc Kinh Túc Dương Minh Vị. Do vậy, chàng không thể thi triển khinh công. Về ngoại thương, hai lóng xương ngực bị gãy vẫn chưa liền, thì tay phải cũng chẳng cử động được. Tóm lại, Nhật Phủ phải tĩnh dưỡng thêm một thời gian dài mới mong khôi phục võ công.

Họ Tần đành phế bỏ ý định đi Tế Nam giết Kỵ Ba Thần Quân, song trở lại Lạc Dương thì lòng thêm hổ thẹn. Chưa biết quyết định thế nào thì có tiếng chân người chạy đến.

Ðấy là Thúy Sơn, thấy chàng, nàng thở phào nhẹ nhõm :

- Tiểu muội thức giấc, chẳng thấy công tử đâu lòng vô cùng lo lắng! Không ngờ công tử lại hồi phục nhanh như vậy, mới ba ngày đêm đã có thể đi lại!

Nhật Phủ hổ thẹn tự nhủ thầm :

- “Ta mê man ba ngày đêm, tiêu tiểu không hay biết, khiến Bạch phu nhân phải khổ sở biết bao!”

Chàng bước xuống, vòng tay vái dài :

- Ơn đức của phu nhân tại hạ dẫu chết ngàn lần cũng không đền đáp nổi!

Biết chàng ám chỉ việc tiết hạnh, Thúy Sơn đỏ mặt cúi đầu, lát sau đáp bằng giọng thê lương :

- Công tử là vận mạng của võ lâm, tiểu muội ngộ biến phải tùng quyền, sau này sẽ tự sát để tạ tội với tiên phu ở suối vàng!

Nhật Phủ kinh hãi lắp bắp :

- Không được! Kẻ đáng chết nhất là tại hạ! Sau khi diệt xong Kỵ Ba Thần Quân, Tần mỗ sẽ tự sát ngay!

Thúy Sơn cười mát :

- Công tử chết đi có trả lại danh dự cho tiểu muội được không?

Nhật Phủ lúng túng :

- Thế tại hạ phải làm thế nào đây?

Thúy Sơn nghiêm giọng :

- Ta có một điều kiện nho nhỏ! Chẳng hiểu công tử có dám đáp ứng hay không?

Nhật Phủ khẳng khái đáp :

- Xin phu nhân cứ dạy! Dẫu bất cứ yêu cầu nào tại hạ cũng xin tuân mệnh!

Thúy Sơn gật gù :

- Ta muốn công tử trở thành thủ hạ trung thành với ta, luôn theo sát để bảo vệ, không được tự do làm theo ý mình!

Nhật Phủ bối rối không hiểu, song đã lỡ hứa đành phải giữ lời :

- Tại hạ xin đặt mình dưới sự sai khiến của phu nhân!

Thúy Sơn tuy hài lòng nhưng vẫn hồi hộp vì không biết chắc kết quả. Nàng trầm ngâm hỏi :

- Thương tích của công tử thì sao?

Nhật Phủ đáp :

- Bẩm phu nhân! Có lẽ phải tịnh dưỡng thêm vào ngày nữa!

Thúy Sơn mỉm cười :

- Nơi đây còn đủ gạo thịt cho cả tháng, chúng ta cứ nghỉ ngơi cho thật khỏe mạnh rồi hãy lên đường. Ðây là vùng cứ địa của Âm Sơn giáo, chẳng thể xem thường được!

Nàng không biết rằng Dương Châu Thần Thâu chỉ đến trễ nửa khắc, và đã cùng Tổng binh Khai Phong đuổi cổ Âm Sơn giáo về Tây Hạ. Hiện giờ, Bạch Túc Nhiên cùng đệ tử Cái bang đang ráo riết truy tìm nàng và Nhật Phủ.

Ngày hôm ấy, Thúy Sơn rất vui, lòng đắc ý vì kế sách của mình. Trước đây, lúc còn ở Tạ gia trang, nàng đã nhiều lần dọ hỏi quá khứ của Tần Nhật Phủ, gã không nói thì nàng cũng chẳng dám làm gì. Nay với thân phận chủ nhân, nàng tin rằng gã phải mở miệng.

Thúy Sơn đi một vòng vào rừng, săn được hai con chồn và một con rắn to đem về nấu bữa trưa.

Chủ nhà có cả gói trà Long Tĩnh thượng hạng, chính hiệu Hàng Châu, nàng cũng pha cho Nhật Phủ uống. Tuy mang danh chủ tớ nhưng Thúy Sơn vẫn hầu hạ họ Tần chu đáo, khiến gã không hiểu mục đích của nàng.

Xong bữa, Thúy Sơn nhấp hớp trà rồi hỏi :

- Phải chăng công tử đã chán sống nên mới đơn thân độc mã đi tìm Âm Sơn lão tổ?

Nàng hỏi rất khéo nên họ Tần phải thú thực :

- Bẩm phải! Tại hạ có nỗi khổ tâm nên không còn thiết sống nữa!

Thúy Sơn mừng rỡ hỏi tiếp :

- Phải chăng nỗi khổ tâm ấy liên quan đến ba người chị em chung thuyền của ta?

Nhật Phủ đau khổ gật đầu, ấp úng :

- Ðúng thế! Tại hạ cho rằng mình mắc quái bệnh về tâm thần nên có thể đã hành động trong lúc mộng du?

Thúy Sơn cau mày :

- Vì sao công tử biết mình mắc bệnh?

Nhật Phủ cười thảm :

- Chỉ có kẻ tâm thần mới không nhớ được quá khứ của mình!

Thúy Sơn run bắn lên vì hạnh phúc. Có đến chín phần là Nhương Thư bị Ải Thần Quân thay đổi dung mạo và dùng tà thuật xóa bỏ ký ức. Lão xóa được nhưng không thể bù vào cả một dĩ vãng dài đến hai mươi mấy năm, gồm biết bao nhiêu hình ảnh và ký ức.

Trong vài ngày sau đó, Thúy Sơn cố gắng mô tả những sự cố trong đời Nhương Thư để gợi cho chàng nhớ lại, song không có kết quả. Nhật Phủ vẫn dửng dưng, cất lời tán dương thần tượng của mình.

Gần cuối tháng bảy, Nhật Phủ đã hoàn toàn bình phục, công lực sung mãn như xưa, mở lời đòi đi Tế Nam.

Thúy Sơn nát cả cõi lòng, giận hờn nói :

- Công tử đã giao đời mình cho ta, sao lại còn định tự sát lần nữa?

Nhật Phủ buồn bã đáp :

- Tại hạ không thể sống trong hoàn cảnh éo le này thêm nữa! Mong phu nhân lượng thứ chu! Mỗi ngày tại hạ càng thêm đắc tội với Tần đại hiệp!

Thúy Sơn kinh ngạc :

- Tại sao thế?

Nhật Phủ nhìn nàng bằng ánh mắt thê lương :

- Tại hạ đã yêu phu nhân!

Thúy Sơn vừa cảm động vừa tức cười, cúi đầu vân vê tà áo, lát sau cố ra vẻ nghiêm nghị :

- Không sao! Ta đã quyết định lấy công tử làm chồng rồi! Ta còn trẻ, chẳng thể làm thân quả phụ mãi được! Giết xong Kỵ Ba Thần Quân, chúng ta sẽ tìm chỗ non xanh nước biếc mà ẩn dật!

Nhật Phủ bối rối :

- Nhưng tại hạ mặt mũi nào sống yên vui khi đã đắc tội với ba vị phu nhân họ Ðiền?

Thúy Sơn thản nhiên đáp :

- Ta sẽ nói thật và rủ họ cùng về hầu hạ công tử. Dẫu sao giọt máu trong bụng họ cũng là của chàng!

Nhật Phủ ngơ ngác như kẻ lạc vào cõi tiên. Không ngờ sự việc lại được giải quyết đơn giản và thuận lợi như vậy. Chàng thầm yêu cả bốn nàng quả phụ và được cả bốn.

Nhật Phủ lúng túng vái dài :

- Tần mỗ được phu nhân hạ cố thành toàn, cảm kích mà nói chẳng nên lời!

Ðêm xuống, Thúy Sơn nũng nịu bảo :

- Ðã là phu thê, chàng hà tất phải ngủ ở án thư nữa!

Tất nhiên Nhật Phủ hoan hỉ vâng lời. Hai người nằm cạnh nhau, im như thóc vì xấu hổ. Thúy Sơn xa chồng đã lâu, nay được trùng phùng, lòng xuân phụ rộn ràng, xao xuyến. Thấy đối phương cứ đực ra, nàng đành phải làm mặt dày, chủ động lăn sang, ngồi lên đưa tay vuốt ve gương mặt họ Tần.

Dưới ánh đèn tọa đăng, đôi mắt Thúy Sơn rực rỡ niềm yêu thương và khao khát. Nàng run rẩy cởi áo, để lộ thân hình ngà ngọc, nhũ phong của nàng hơi nhỏ nhưng thật săn chắc và kiêu hãnh.

Nhật Phủ mỉm cười hạnh phúc, đắm đuối mơn man đôi tạo vật kỳ diệu, động tác rất nhẹ nhàng. Rồi chàng ngồi dậy, thoát y cho cả hai, vuốt ve Thúy Sơn rất lâu mới gầy cuộc truy hoan.

Thúy Sơn ứa lệ vì cảm nhận được tất cả những gì thân thiết, từ cử chỉ cho đến mùi da thịt của Nhật Phủ khi động tình. Chàng càng là chàng hơn khi phá thành đoạt lũy, với phong cách dũng mãnh mà đằm thắm.

Biết chắc Nhật Phủ chính thực người chồng thất lạc, Thúy Sơn hân hoang dâng hiến, lệ mừng tuôn ướt gối.

Hết hiệp, Nhật Phủ ngại ngùng hỏi :

- Nàng rất nồng nàn nhưng vì sao lại khóc nhiều như vậy?

Thúy Sơn giận dỗi trườn lên cắn vai chàng đau điếng rồi kể hết khúc nôi. Nhật Phủ bàng hoàng, ngơ ngác nhưng hiểu rằng đấy là cách giải thích hữu lý nhất cho cuộc đời chàng.

Niềm tin càng vững chắc khi Thúy Sơn đọc vanh vách đoạn đầu khẩu quyết của pho tâm pháp nội công mà chàng đang luyện. Pho tâm pháp này chỉ mình chàng biết mà thôi, và cứ ngỡ là sở học nhà họ Tần. Tuy nhiên, chàng vẫn còn ngơ ngác, chưa nhớ được quá khứ. Thúy Sơn bực bội tát yêu chàng và bảo :

- Sáng mai chúng ta về Lạc Dương nhờ Thần y chữa trị cho chàng!

Nhương Thư khí huyết phương cương, đã lại động tình, ngượng ngùng hỏi :

- Thế ngày xưa ta và nàng thường đấu mấy hiệp?

Phu thê ân ái mặn nồng đến cuối canh tư, ôm nhau ngủ vùi, khi mặt trời lên cao mới chịu thức dậy để lên đường.

Nhưng Thúy Sơn đã thay đổi ý định. Nàng biết khi về Lạc Dương, vợ chồng khó có điều kiện chăn gối, nên muốn ở lại đây thêm vài ngày cho thỏa tình cá nước.

Thúy Sơn nũng nịu nói :

- Tần đại ca! Chàng có đến bốn vợ khiến tiểu muội luôn chịu thiệt thòi! Hay là chúng ta ở lại thêm vài ngày nữa, đại ca dạy cho tiểu muội công phu Lục Mạch thần chỉ?

Nhương Thư thật thà đáp :

- Thì cứ về đến Tạ gia trang rồi ta sẽ dạy cho cả bốn nàng một lúc!

Thúy Sơn tức tối muốn nổ đom đóm mắt, giận dữ nói thẳng ra :

- Ðại ca muốn giữ đạo công bằng cũng được! Vậy thì tiểu muội chưa có thai quyết chưa về!

Vừa nói nàng vừa cấu nhéo Nhương Thư kịch liệt, mắt ươn ướt xuân tình. Nhương Thư đã hiểu, cười bảo :

- Té ra là thế! Ta sẽ chiều ý nàng!

Và chàng sực nhớ ra, thận trọng hỏi lại :

- Thế lúc ta chưa trúng tà pháp thì có thiên vị ai trong bốn nàng hay không?

Thúy Sơn hãnh diện ỏn ẻn đáp :

- Ðại ca yêu thương tiểu muội nhất đấy!

Quả đúng như thế, dù bề ngoài vẫn giữ đạo công chính nhưng trong lòng Nhương Thư vẫn xem trọng Thúy Sơn hơn. Nàng đã dám vì chàng mà lao xuống vực thẳm chết theo, chân tình ấy thế gian không ai sánh nổi.

Nhương Thư gật gù :

- Vậy là không tốt! Sau này ta phải ưu ái ba chị em họ Ðiền thêm mới được!

Thúy Sơn tức quá đấm lưng chàng thùm thụp.

Ngay sau khi ăn điểm tâm bằng chào, Nhương Thư giảng giải khẩu quyết Lục Mạch thần chỉ cho Thúy Sơn nghe.

Tuyệt học này chính là phép dồn chân khí ra ngoài cơ thể qua sáu huyệt trên đầu những ngón tay. Sáu huyệt này thuộc về sáu kinh mạch, nhưng mỗi bàn tay chỉ năm ngón, do vậy, có hai huyệt nằm chung một ngón.

- Huyệt Thiếu Thương thuộc Kinh Thủ Thái Âm Phế, nằm phía sau góc móng tay cái.

- Huyệt Thương Dương thuộc Kinh Thủ Dương Minh Ðại Trường, nằm sau góc móng ngón trỏ.

- Huyệt Trung Xung thuộc Kinh Thủ Quyết Âm Tâm Bào, nằm ở đầu ngón giữa.

- Huyệt Quan Xung thuộc Kinh Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu, nằm ở đầu ngón áp út.

- Huyệt Thiếu Xung thuộc Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm, nằm ở mé trong đầu ngón út.

- Huyệt Thiếu Trạch thuộc Kinh Thủ Thái Dương Tiểu Trường, nằm ở góc móng ngoài ngón út.

Sáu kinh kia đều mang huyệt kép, nghĩa là bàn tay phải và bàn tay trái đều có thể thi triển Lục Mạch thần chỉ. Hai bàn tay cộng lại thành mười hai đạo chỉ phong, nhưng ít ai đủ công lực để xạ ra cùng một lúc.

Ðây là căn bản của Lục Mạch Thần Kiếm nhà họ Ðoàn đất Ðại Lý. Tiếc rằng tác giả chẳng nhớ khẩu quyết nếu không đã chép ra để chư vị luyện thử.

Nhắc lại, ngày dạy võ, đêm dạy yêu, sau chín hôm thì Thúy Sơn đỏ mặt thỏ thẻ :

- Ðại ca! Tiểu muội đã trễ kinh được bốn ngày, chắc là đã cấn thai! Còn khẩu quyết Lục Mạch thần chỉ cũng đã thuộc lòng, chúng ta đi thôi!

Nhương Thư mỉm cười :

- Lạ thực! Sao trước đây không ai chịu chửa đẻ, nay lại nhất loạt mang bầu dễ dàng thế này? Hay ta không phải là Tần Nhương Thư!

Chàng chưa phục hồi ký ức nên vẫn mơ hồ, chỉ biết tin vào lời của Thúy Sơn.

Cô ả họ Bạch cũng còn một chút xíu nghi hoặc, giấu kín trong tâm thức, nên giật thót mình. Song đã tự trấn an được ngay, hờn giận nói :

- Dẫu chàng là ai cũng mặc xác! Suy nghĩ hoài chắc tiểu muội phát điên mất!

Chương 17: Báo Ứng phùng báo ứng - Giang biên khấp hiền thê

Ðêm ấy chỉ bình yên được đến cuối canh ba thì Nhương Thư phát hiện có tiếng chân người dẫm gãy cành khô. Chàng bật dậy, đánh động Thúy Sơn.

Hai người khoác vội y phục bước ra. Qua song cửa sổ phía trước, đôi mắt cú vọ của Nhương Thư thấy hàng chục bóng đen đã vây quanh mộc xá.

Thiên la địa võng đã khép kín, đuốc thông được đốt lên để thị uy, và có tiếng âm trầm vang lên :

- Tích Bảo chân nhân! Bổn tọa là Hội chủ Báo Ứng hội, cùng các cao thủ hạng nhất đã vây chặt nơi này! Lão muốn sống thì phải đem Mạc Gia thần kiếm ra đây nạp. Bổn tọa hứa sẽ không đòi thêm bất cứ vật gì!

Thúy Sơn sợ hãi thì thầm :

- Ðại ca! Chúng ta xui xẻo nên mới chết thay cho lão Tích Bảo chân nhân Tư Mã Hầu! Không ngờ căn mộc xá nghèo nàn này lại là nhà của kẻ giàu có nhất võ lâm!

Lúc còn ở Lạc Dương, Nhương Thư trong vai Tần Nhật Phủ, đã nghe nói nhiều về sự lợi hại của Báo Ứng hội. Nay lại không có kiếm trong tay, chàng như hổ bị chặt móng, chẳng dám sính cường vì sợ hại đến Thúy Sơn. Nàng có kiếm nhưng vũ khí của chàng thì đã rơi lại ở Cô Ðộc bảo.

Nhương Thư nói ngay :

- Sơn muội! Chúng ta sẽ thoát ra bằng lối sau, nàng chạy trước mở đường. Ta dùng Lục Mạch thần chỉ đoạn hậu!

Xem ra, chỉ có kế thứ ba mươi sáu là đắc sách, hai người lần xuống bếp rồi bất ngờ xông ra. Biết đệ tử Báo Ứng hội giỏi nghề phóng độc châm. Nhương Thư đã cầm theo cây gậy trúc già của chủ nhà.

Mấy ngày qua, chàng đã dùng thanh trúc này để dạy cho Thúy Sơn vài chiêu kiếm pháp. Có nó chàng vững tâm hơn vì chẳng thể dùng đôi bàn tay thịt để đối phó với ám khí được.

Quả nhiên, phòng tuyến đối phương ở phía sau mộc xá lập tức chặn vợ chồng Nhương Thư bằng trận mưa kim độc.

Nhương Thư cố ý vượt lên trước, múa tít gậy trúc che chắn cho ái thê.

Công lực gần hoa giáp cộng với kiếm thuật siêu phàm đã tạo nên bức tường kín đáo, vững vàng đánh bạt tất cả những mũi kim thép dài nửa gang tẩm độc đen sì.

Và Nhương Thư ập đến như cơn lốc, gậy trúc vừa va chạm với vũ khí của kẻ thù là tả thủ đã xạ liền một đạo chỉ phong.

Khi giáp chiến, thần chỉ còn lợi hại hơn ám khí bội phần, vì chẳng cần phải móc ra hay lắc cổ tay. Chỉ kình từ đầu ngón giữa xạ ra như tia chớp, xoèn xoẹt xé gió và xuyên thủng da thịt kẻ thù. Chàng không cần bắn vào mắt vì bọn sát thủ Báo Ứng hội không có công lực trăm năm, không luyện thành cương khí hộ thân như Âm Sơn lão tổ.

Trong phép kiếm chỉ hợp nhất, Nhương Thư thường sử dụng hai đạo chỉ kình xuất phát từ hai huyệt Thương Dương, Trung Xung, vì chúng nằm trên đầu ngón trỏ và ngón giữa.

Trong tư thế bắt kiếm ấn của bàn tay tả, hai ngón này luôn chĩa ra, nên chỉ xuất chính xác và bất ngờ.

Những đạo chỉ kình vun vút bay ra trong màn đêm nhập nhòe ánh đuốc nên bọn Báo Ứng hội không tài nào tránh nổi.

Trong cảnh nguy ngập, Nhương Thư chẳng thể giữ được lòng nhân hậu, ra tay rất tàn nhẫn để đưa ái thê thoát thân.

Chàng liên tục khoét lỗ trên thân thể đối phương và tiếng rên la vang dội cả rừng đêm.

Gậy trúc cũng chẳng phải hoàn toàn vô huyết trong tay một kiếm sĩ thượng thừa. Mũi gậy biến hóa khôn lường, thọc thẳng vào tử huyệt kẻ địch, không đâm thủng da thịt, nhưng chân khí vào tận đáy, đủ để lấy mạng người.

Bản lãnh Thúy Sơn kém chàng vài bậc, song cũng kiêu dũng hơn bọn sát thủ. Nàng sát cánh với trượng phu mở đường máu, mắt phượng tròn xoe đầy sát khí, kiếm quang lồng lộng phủ sương.

Vợ chồng Nhương Thư giết liền mười sáu gã sát thủ, vừa đánh vừa chạy về hướng Bắc, song Báo Ứng hội chủ Ðào Thiên Hậu và bốn cao thủ lão thành đã truy đuổi ráo riết chẳng chịu rời.

Ðến thảm cỏ trống, Nhương Thư liền hối thúc Thúy Sơn :

- Nàng hãy thoát đi trước, ta chậm lại chặn đường! Hẹn gặp nhau ở Lạc Dương!

Biết chàng võ nghệ siêu phàm, khinh công xuất chúng, không thể bị vây được, Thúy Sơn cắn răng đào tẩu trước vào màn đêm.

Nhương Thư bắt đầu quay ngoắt lại, lao vào một gã sát thủ, xạ liền hai đạo chỉ kình đả thương gã rồi đoạt lấy kiếm. Gã này nhanh chân hơn đồng bọn nên đã lãnh đủ.

Nhương Thư vung cước đá văng xác nạn nhân rồi hiên ngang đứng lại quát vang :

- Ðào Thiên Hậu! Ta là Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách Tần Nhật Phủ đây!

Danh tiếng của đại sát tinh đất Hà Bắc đã khiến họ Ðào chột dạ, giữ bốn vị hộ pháp ở lại với mình, chỉ để bọn tép riu truy sát Thúy Sơn.

Nhương Thư nói tiếp :

- Ðừng cho người đuổi theo nữa! Ta mới là người biết Tích Bảo chân nhân hiện nay ở đâu!

Nghĩ đến cảnh tìm người trong rừng đêm rậm rạp, tối tăm. Ðào Thiên Hậu cũng ngao ngán, tập trung bắt con mồi trước mặt hay hơn. Lão liền ra lệnh cho thủ hạ vây chặt Nhương Thư, không phân tán ra nữa.

Hội chủ Báo Ứng hội được coi là nhân vật hắc đạo tàn ác và thần bí nhất võ lâm. Ngay Vô Ưu Cái và lực lượng hàng vạn của Cái bang cũng không tài nào biết được mặt thật của họ Ðào, hoặc sào huyệt của Báo Ứng hội.

Cái tên Ðào Thiên Hậu là do lão tự khai chứ chưa chắc đã là thực. Lão ta có thân hình tầm thước, dáng vóc trung bình, không gầy, không béo và luôn mang mặt nạ.

Với hình dạng bình thường như thế, Ðào Thiên Hậu dễ dàng hòa lẫn vào xã hội. Cả thuộc hạ lão cũng vậy, họ trà trộn vào bách tính, sống bằng những nghề rất lương thiện, khi được lệnh mới hành động. Tóm lại, Báo Ứng hội không hề có sào huyệt, hội viên liên kết với nhau bằng mật hiệu, được điều động bởi bốn thủ hạ lão luyện, thân tín của Hội chủ. Chỉ có bốn người này mới biết lai lịch thật của Ðào Thiên Hậu. Tất nhiên họ tuyệt đối trung thành, thà chết chứ không khai báo.

Chính nhờ lối tổ chức chu đáo, thần bí ấy mà Ðào Thiên Hậu đã thoát khỏi sự truy lùng của Cái bang và Phật Ðăng Thượng Nhân.

Giờ đây họ Ðào xuất hiện trước mặt Nhương Thư bằng dung mạo đã quen thuộc với võ lâm: mắt dài nhỏ, mũi ưng, gò má cao, cằm bạnh. Những nét ấy tạo nên vẻ dữ tợn, oai phong và ác độc. Phải chăng lão cố tình gây ấn tượng để che giấu một chân diện hoàn toàn ngược lại.

Ðào Thiên Hậu lạnh lùng hỏi Nhương Thư :

- Tần Nhật Phủ! Bổn tọa nghe nói ngươi một mình một kiếm hạ sát Âm Sơn lão tổ, thân thọ trọng thương được ả vợ góa của Tần Nhương Thư mang đi, vậy vì sao hai ngươi lại có mặt nơi này, và có quan hệ gì với Tích Bảo chân nhân?

Nhương Thư điềm tĩnh đáp :

- Quả đúng thế! Tần đại phu nhân cõng ta chạy lạc vào đây, và hoàn toàn không biết nhà của ai! Lúc ấy mộc xá không có một bóng người!

Ðào Thiên Hậu quắc mắt :

- Thế vì sao hai ngươi lại bỏ chạy, không đứng lại mà phân giải?

Nhương Thư cười nhạt :

- Lão là kẻ thù giết cha Tần Nhương Thư, hiện lại là công địch của võ lâm, liệu có tha cho Bạch Thúy Sơn hay không?

Ðào Thiên Hậu gian xảo có thừa, mắt sắc như dao, nhận ra đối phương rất thành thực. Song lão hỏi gằn :

- Ngươi có dám đem danh dự ra bảo đảm cho lời nói của mình không?

Nhương Thư gật đầu :

- Tần mỗ là kẻ cao ngạo, chẳng thèm nói láo bao giờ! Song phương vốn không thù oán, Ðào môn chủ hãy rút quân để tránh thương vong!

Lúc đầu, Ðào Thiên Hậu vẫn nghi ngờ Nhật Phủ là Nhương Thư hóa thân, song thấy chàng chẳng chút sát khí khi gặp mình là kẻ thù giết cha, mối hoài nghi kia liền tan biến. Lão vuốt chòm râu cằm dài và đen nhánh suy nghĩ một lúc rồi nói :

- Quan điểm của lão phu rất rạch ròi, không bạn thì là thù! Nếu ngươi đã đầu phục hội đồng võ lâm tất trước sau cũng tìm cách tiêu diệt Báo Ứng hội! Do vậy, đêm nay, nếu ngươi muốn sống thì phải qui hàng bổn tọa!

Nhương Thư dựng ngược đôi lông mày kép và nạt :

- Cuồng phu! Lão tưởng bổn công tử sợ lũ chó sơn hay sao?

Dứt lời, chàng thi triển phép Ngự kiếm, hung hãn lao đến như cơn bão. Chiêu “Chân Nhân Ðảo Mệnh” này được Nhương Thư dồn hết mười hai thành công lực nên khí thế cực kỳ bá đạo, kiếm kình rít vo vo, kiếm phong lạnh lẽo tỏa rộng. Huyền Không kiếm pháp là tuyệt học Ðạo gia, hiểm và xảo hơn hẳn Phật Ðăng kiếm pháp.

Ðào Thiên Hậu và bốn lão già râu bạc vội liên thủ chống đỡ, chẳng dám xem thường cơn thịnh nộ của kẻ đã từng giết Âm Sơn lão tổ Lương Dã Toàn.

Năm người này đều có công lực tương đương hoa giáp, lại quen lối đánh lượng bích nên đã chặn đứng được chiêu kiếm kinh hồn của Nhương Thư.

Tiếng thép chạm nhau vang rền, Nhương Thư nghe thân kiếm chấn động mạnh, tự lượng sức mình không bằng bèn mượn lực phản chấn nhảy lùi. Song chàng lập tức lướt chếch sang mé hữu, tấn công lão già cầm Cửu Hoàn đao, không đánh vào trung lộ nữa.

Báo Ứng hội là nơi qui tụ những kẻ ác độc, tham lam trên giang hồ, mỗi người một xuất xứ, chẳng cùng môn phái. Do vậy, tuy Báo Ứng hội chủ sử dụng trường kiếm nhưng bốn hộ pháp và các sát thủ thì không nhất thiết phải như thế. Trong bốn lão già kia, chỉ mình người bị mất nửa vành tai trái là dùng kiếm giống Ðào Thiên Hậu mà thôi.

Nhắc lại, Nhương Thư muốn phá thế liên thủ của đối phương nên tìm cách chia để diệt. Chàng chừa ba phần chân khí cho tay tả và chụp lưới kiếm vào lão cầm đao.

Tuy chỉ có bảy phần công lực nhưng chiêu “Huyền Chi Hựu Huyền” cũng đủ dọa khiếp đối phương. Ðúng như tên gọi, đường kiếm huyền huyền, ảo ảo chẳng thấy đâu là sơ hở.

Là sát thủ già dặn, quen vào sanh ra tử, lão ta nghiến răng công thẳng vào màn kiếm quang của đối thủ. Trong giao đấu, chẳng phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy sơ hở hay ý đồ của kẻ thù, lúc ấy, người ta đối phó bằng cách đổi đòn, kẻ nào mạnh, nhanh thì thắng.

Kiếm và đao là hai loại vũ khí khắc chế lẫn nhau. Kiếm nhẹ mà nhanh, đao nặng nên lực chém mãnh liệt. Do vậy, tuy kiếm đứng đầu trong binh khí phổ song số người học đao pháp còn đông hơn người học kiếm. Bằng chứng điển hình là mấy chục vạn quân triều Minh đều dùng đao là vũ khí.

Vậy tại sao kiếm lại làm mưa làm gió trên giang hồ? Bởi vì kiếm thuật là đỉnh cao của võ học, là tín ngưỡng của những kẻ có căn cơ thượng hạng. Khi đạt đến trình độ cao siêu, không thanh đao nào có thể ngăn chặn đường đi của mũi kiếm.

Nhương Thư là một trong những kiếm sĩ xuất sắc nhất võ lâm. Sở đắc đến hai pho tuyệt kiếm của Phật môn và Ðạo gia. Về chiêu thức thì không ai hơn được.

Chàng nhận ra lưỡi Cửu Hoàn đao kia khống chế từ ngực đến đầu gối của mình, thế thức hiểm ác và mạnh mẽ, song chưa đủ nhanh, tuy nhiên mối đe dọa thực sự đến từ lão già cầm Phá Sơn phủ ở phía sau lưng chàng. Nhương Thư đã tiên liệu trước nên khi bảo kiếm vừa chạm Cửu Hoàn đao phía trước, chàng hạ tả thủ chĩa xéo ra sau xạ liền một đạo Thương Dương chỉ. Ðồng thời, Nhương Thư điểm liền bảy thức cuối trong chiêu kiếm.

Hai tiếng rú cất lên cùng một lúc, lão cầm đao ngã gục ngay vì thủng ngực, còn lão cầm búa thì lảo đảo ôm bụng. Nhương Thư quay ngoắt lại hớt đứt yết hầu nạn nhân rồi tung mình ra xa tránh chiêu hợp công của Ðào Thiên Hậu và hai lão hộ pháp còn lại.

Họ Ðào đau lòng khôn xiết trước cái chết chóng vánh của hai thủ hạ trung thành. Lão điên cuồng gầm vang :

- Lập trận!

Thế là bọn đệ tử Báo Ứng hội lăn xả vào, phối hợp cả đao kiếm lẫn độc châm, quyết băm thây kẻ địch. Song không phải chúng đánh đấm hỗn loạn mà theo một chiến thuật định sẵn, nhịp nhàng và dũng mãnh.

Từ vòng tròn chung quanh, bọn sát thủ thay nhau chạy qua chạy lại, tấn công tâm điểm là Nhương Thư, chỉ một chiêu là rút sang vị trí đối diện. Mỗi đợt như thế là sáu gã, tả, hữu, tiền, hậu, thượng, hạ.

Ðáng ngại nhất là mũi hạ bàn, trong tư thế cuộn tròn người, che thân bằng vũ khí, những tên sát thủ kia đã khiến Nhương Thư phải lúng túng.

Ðịa Ðường đao pháp là môn võ kỳ dị nhất Trung Hoa, xuất hiện vào thời Nam Tống, khi quân Mông Cổ xâm lăng Hoa Hạ.

Kỵ binh Mông Cổ hung hãn và thiện chiến đã đè bẹp bộ binh nhà Tống nhờ vó ngựa thần tốc. Lúc chúng đánh Hồ Nam, một vị ẩn sĩ đã đến thành Tương Dương dạy cho quân Tống pho Ðịa Ðường đao pháp này. Vài ngàn cặp chân ngựa Mông Cổ đã bị chặt và thành Tương Dương cầm cự được mấy năm trời. Sau này, Chu Nguyên Chương cũng có cả một đạo quân chuyên luyện Ðịa Ðường đao pháp, phá tan những đội kỵ binh nhà Nguyên, thành lập triều Minh.

Lục phương thọ địch, lại thêm độc châm bên ngoài bắn vào như mưa, Nhương Thư đành phải hát bài tẩu mã. Chàng thi triển Cửu Huyền bộ pháp, kiếm ảnh che thân, tiến dần về hướng Bắc.

Tất nhiên trận pháp của Báo Ứng hội không cho phép, bọn sát thủ liều chết xông vào, chẳng ngại câu sinh tử. Dũng khí của chúng quả là đáng sợ.

Nhương Thư có cảm giác như mình bị vây chặt bởi một lũ người điên, không còn dám nương tay, bảo kiếm bay lượn như tia chớp, đã gạt những đòn tấn công và lấy mạng kẻ thù.

Cả ba cao thủ đầu sỏ Báo Ứng hội là Ðào Thiên Hậu và hai lão hộ pháp cũng tham gia trận pháp. Với họ, Nhương Thư đối phó rất vất vả nên lưng trúng độc châm chi chít, tuy đau đớn nhưng chàng không thấy hiện tượng trúng độc, lòng càng tin lời Thúy Sơn. Nàng đã bảo rằng Tần Nhương Thư ba lần ăn được kỳ trân, thân thể bách độc bất xâm. Nhương Thư vừa đánh vừa nhổ bỏ ám khí trên người và ném trả lại đối phương.

Ðào Thiên Hậu cũng phát giác việc này, kinh hãi thét lên :

- Gã này không sợ độc! Các ngươi hãy bắn vào mắt gã cho ta!

Thế là bọn sát thủ ở ngoài cứ nhắm vùng mặt Nhương Thư mà phóng kim thép.

Nhương Thư như mãnh hổ cùng đường, giận dữ múa tít trường kiếm, tả xung hữu đột. Chàng xông đến đâu là có xác người gục ngã, tiếng kêu lìa đời nấc nghẹn hoặc ồn ào.

Nhương Thư đủ khôn ngoan để né tránh ba cường địch, chú tâm tấn công đám đệ tử kém tài, thu hoạch rất lớn.

Thấy thủ hạ chết như rạ, Ðào Thiên Hậu tan nát ruột gan, quên cả thận trọng lao vào tập kích hậu tâm họ Tần.

Nhương Thư đã tin mình là Nhương Thư nên nảy ý định sát hại Ðào Thiên Hậu để báo phụ thù. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, sau sẽ khó gặp được lão hồ ly xảo quyệt này.

Sau lần thoát chết dưới mũi côn ngàn cân của Âm Sơn lão tổ, chàng hiểu rằng cơ thể mình rắn chắc, kiên cố hơn thường nhân gấp mấy lần. Giờ đây chàng lợi dụng ưu thế đó để ra tay.

Nhương Thư bất ngờ đề khí bốc lên cao, khoằm bàn tay tả xạ đủ sáu đạo Lục Mạch thần chỉ vào mặt Ðào Thiên Hậu.

Tiếng chỉ kình rít gió khiến họ Ðào sợ hãi. Nhưng lão đã hơi chậm chân, và cũng vì tốc độ cực nhanh của chỉ phong, nên lãnh một chỉ vào mắt trái.

Công lực phân tán làm sáu nên không mạnh, chỉ đủ sức phá vỡ nhãn cầu Ðào Thiên Hậu. Nhưng trong lúc họ Ðào tá hỏa tam tinh, tay chân bủn rủn thì kiếm của Nhương Thư đã đến nơi, đâm thủng yết hầu của lão. Ðây cũng là vị trí của huyệt Liêm Tuyền, thuộc mạch Nhâm.

Mũi kiếm cắt đứt khí quản lẫn thực quản, máu tràn vào phổi đưa nạn nhân đến cái chết khá nhanh chóng. Ðào Thiên Hậu ngạt thở, mắt trợn trắng, miệng há hốc, hai tay cào cấu cổ họng đòi dưỡng khí.

Nhưng lão chưa kịp chết thì Nhương Thư đã trúng đòn của lão hộ pháp cầm chùy. Chàng muốn giết kẻ gia thù nên chấp nhận trả giá, có điều không được quá đắt.

Khi đâm vào cổ Ðào Thiên Hậu, Nhương Thư chỉ dùng có hai thành công lực, kỳ dư dồn cả về hậu tâm để đỡ đòn.

Tiếng chùy giáng vào lưng nghe khá kêu, Nhương Thư hộc máu và bị đẩy văng về phía trước. Kỳ diệu thay, chàng không chết mà còn vung kiếm giết liền hai gã đang lơ ngơ đứng đúng nơi mình đến.

Nhương Thư tràn tới, xuất chiêu “Lôi Phong Thiết Phiến”, kiếm quét tròn một đường hình rẽ quạt, không phải chém mà là đâm thủng ngực thêm bốn tên nữa. Kể thì đơn giản nhưng thực ra chiêu này có đến một trăm linh tám thế thức, mũi kiếm vừa quét vừa điểm như mưa nên đối phương không sao ngăn nổi.

Phòng tuyến đã trống, Nhương Thư lao vút đi, khuất dạng trong bóng tối của khu rừng phía Bắc thảm cỏ. Chạy được hơn dặm, chàng nghe tiếng Thúy Sơn hỏi :

- Phải đại ca đó không?

Chàng vội đáp :

- Ta đây!

Từ sau một gốc cây lớn, Thúy Sơn xuất hiện, giọng đầy lo âu, trách móc :

- Thấy đại ca lâu quá không đến, tiểu muội nóng ruột quay lại xem sao?

Nhương Thư cảm động nắm tay nàng :

- Chúng đông đến hàng trăm tên, ta phải vất vả lắm mới giết được lão Ðào Thiên Hậu rồi thoát thân!

Thúy Sơn hân hoan nói như reo :

- Ðại ca giỏi thực! Giữa vòng vây dày đặc mà vẫn báo được gia thù!

Thúy Sơn đã tìm ra đường mòn đưa đến bờ Nam sông Hoàng Hà nên dắt Nhương Thư đi theo. Họ đến nơi thì trời hửng sáng.

Ðoạn bờ này có địa thế rất cao nên không cần đắp đê. Hai người ngồi phịch xuống bãi cỏ xanh rì nhờ mưa đầu thu để nghỉ ngơi. Ðào Thiên Hậu đã chết, chắc chắn bọn Báo Ứng hội không dám đuổi theo Nhương Thư.

Thúy Sơn nhờ ánh bình minh mà phát hiện những vết máu trên lưng trượng phu, kinh hãi rú lên :

- Ðại ca thọ thương rồi!

Và nàng mau mắn lột áo chàng, đau lòng trước mấy chục lỗ thủng nhỏ và một vết bầm lớn cỡ bàn tay. Thúy Sơn ấn vào và tò mò hỏi :

- Chỗ này của đại ca bị loại vũ khí gì đánh trúng vậy?

Nhương Thư cười đáp :
- Cây chùy sắt của lão hộ pháp béo lùn! May mà ta đã vận công bảo vệ, và mượn đà đẩy mà nhảy đi, không thì xương đã gãy rồi!

Thúy Sơn vừa bôi thuốc kim sang lên vết thương, vừa cằn nhằn :

- Ðại ca không được liều mạng như thế nữa! Lỡ chàng có mệnh hệ gì lần nữa, bọn tiểu muội chắc phát điên mất!

Nhương Thư liền an ủi :

- Nàng chớ quá lo lắng làm gì, làm gì có kẻ giết nổi ta?

Sau khi hạ sát Âm Sơn lão tổ, chàng thực sự tin tưởng vào kiếm pháp và chỉ pháp của mình nên mới nói thế.

Nhưng từ trong cánh rừng cạnh bờ sông bỗng có tiếng ai cười nhạt :

- Cuồng ngôn! Bọn ta đến hóa kiếp cho ngươi đây!

Vừa nói, phe đối phương vừa ập đến, vây chặt vợ chồng Nhương Thư. Chàng không biết lai lịch bọn lạ mắt này, song Thúy Sơn đã sợ hãi thét lên :

- Âu Dương Lăng!

Nhờ thế Nhương Thư mới hiểu gã trung niên áo xanh, tuấn tú, oai phong kia từng là Cung chủ của Tứ Phạn Thiên cung. Nghe đồn gã đã đưa thủ hạ về Thiểm Tây liên kết với Báo Ứng hội, nhưng sao lúc nãy không xuất hiện để trợ giúp Ðào Thiên Hậu.

Cạnh Âu Dương Lăng là tám lão già trong Hộ cung Thập nhị chân khanh. Thế lực của đối phương khiến Nhương Thư thầm lo ngại cho Thúy Sơn.

Bờ sông cao hơn mặt nước Hoàng Hà đến tám chín trượng, nước sông lại chảy cuồn cuộn như thác lũ, nhảy xuống mà thọ thương hay không giỏi thủy tính là khó toàn mạng.

Thúy Sơn thì thầm :

- Ðại ca! Chúng ta hãy phá vòng vây chạy dọc bờ sông tìm về Khai Phong! Tiểu muội bơi rất dở và cũng chẳng dám nhảy xuống nước từ độ cao chóng mặt này!

Là bậc anh hùng bất khuất, Nhương Thư hiên ngang đáp :

- Phá vây không khó! Nàng cứ giữ vị trí sát mép sông, ta ở phía ngoài chống trả!

Âu Dương Lăng cười nhạt :

- Cứ trăn trối đi rồi chết! Ngươi đã thọ thương làm sao địch nổi bọn ta? Nay bổn nhân tập thành Thần Quang chưởng pháp, mở lượng bao dung cho ngươi được nghỉ ngơi một khắc!

Thêm sức lực là thêm sinh cơ, Thúy Sơn chụp lấy ngay :

- Cung chủ quả có khí độ của bậc trượng phu! Song ta thắc mắc vì sao Cung chủ lại có mặt nơi này mà không bạt kiếm trương trợ Ðào Thiên Hậu?

Thúy Sơn là một trong những mỹ nhân hàng đầu võ lâm, sau những ngày hoan lạc trùng phùng với Nhương Thư, nàng mập ra, dung nhan càng mặn mà quyết rũ. Âu Dương Lăng là nam nhân, lại nổi tiếng phong lưu, lẽ nào không chạnh lòng ngây ngất.

Y nhìn nàng bằng ánh mắt thèm thuồng và đắc ý đáp :

- Bổn cung dời đến Thiểm Tây, nhất thời phải chịu lụy địa chủ là Báo Ứng hội! Nhưng Ðào Thiên Hậu tham lam, bắt ta phải dâng khẩu quyết Thần Quang kiếm phổ. Ta đồng ý nên được họ Ðào xem trọng, đối đãi tử tế! Khi biết lão đi Khai Phong đoạt Mạc Gia thần kiếm, ta lập tức bám theo, chỉ đến trễ độ vài khắc. Nhưng dẫu có đến sớm ta cũng chẳng dại gì cứu mạng lão!

Thúy Sơn tủm tỉm hỏi thêm :

- Cung chủ bảo rằng mình tập đại thành Thần Quang chưởng pháp, tiểu muội chẳng dám tin vì công lực Cung chủ còn kém lắm!

Âu Dương Lăng ngửa cổ cười ngạo nghễ :

- Này mỹ nhân! Trước sau gì nàng cũng phải chết hoặc thuộc về ta, vì vậy, bổn nhân chẳng giấu diếm làm gì! Ta đã làm thịt con Huyết Hoa Lộc nên hiện sở hữu đến hơn hoa giáp chân khí, và mỗi ngày mỗi tăng thêm! Chỉ ba năm nữa là ta sẽ trở thành vô địch thiên hạ!

Nhương Thư nhìn cặp mắt chói lọi hào quang của Âu Dương Lăng, biết rằng gã không nói khoác. Chàng càng thêm lo lắng, quyết định đào tẩu ngay. Nhương Thư vỗ lưng Thúy Sơn khẽ quát :

- Ði!

Cả hai thủ kiếm lao vút về hướng Tây, cùng tấn công ba lão Chân Khanh. Thúy Sơn chọn một còn Nhương Thư phụ trách hai.

Sáu đạo thần chỉ là vũ khí bất ngờ nên nạn nhân không tránh khỏi, vừa cử kiếm đã buông rơi, ôm ngực rên la. Còn chiêu kiếm Niên Miên Nhược Tồn cũng thành công chẳng nhỏ. Ðường kiếm lấp lánh trong ánh triều dương, vẽ nên những đường tơ bất tận, níu chặt kiếm của lão Chân Khanh.

Lão ta bất ngờ xòe tả thủ vỗ liền một chưởng cách không để tự cứu nguy. Thì ra Âu Dương Lăng đã đem Thần Quang chưởng pháp dạy cho thủ hạ.

Chưởng kình vừa chạm ngực Nhương Thư thì đã đứt đoạn vì chàng đã biến chiêu đâm thủng huyệt Lao Cung của đối thủ. Sau đó, chàng trổ ba lỗ trên ngực lão.

Tuy đắc thắng nhưng Nhương Thư lại bội phần lo lắng, lập tức tràn qua mé hữu để hỗ trợ Thúy Sơn. Nàng không đủ bản lãnh để đối phó với Thần Quang chưởng pháp.

Phản ứng thần tốc này đã cứu vãn được một phần tai họa. Lão già thấp bé kia thấy kiếm quang cuồn cuộn ập đến liền run sợ, chưởng kình lệch đi, chỉ trúng vào vai phải Thúy Sơn.

Là thân liễu yếu đào tơ, xương cố nhỏ nhắn, Thúy Sơn đau đớn rú lên, thân hình loạng choạng. Tuy nhiên, kẻ đả thương nàng đã phải bồi thường. Kiếm chưa đến nơi thì Nhương Thư đã hạ thủ bằng một ngọn chỉ phong vào huyệt Ðộc Tỵ dưới đầu gối chân phải đối phương. Lão ta lập tức lảo đảo vì chân trụ tê tái, lộ sơ hở và trúng một kiếm vào vùng gan.

Nhương Thư chẳng cần biết nạn nhân sống chết thế nào, nhảy về phía ái thê. Âu Dương Lăng và ba lão Chân khanh đã đến nơi, nhất tề cử chưởng hợp công. Nhương Thư kinh hãi ôm Thúy Sơn nhảy ngược về phía bờ sông.

Nàng nữ hiệp vùng Bát Ðạt Lĩnh tuy gãy xương vai nhưng vẫn kiên cường nén đau, cùng Nhương Thư hợp lực đề khí, nhờ vậy hai người bay khá xa, chỉ còn cách mép vực sông hơn trượng.

Hai lão Chân Khanh trấn giữ mé này lập tức vung chưởng tấn công. Nhương Thư chẳng hề úy kỵ, ôm kiếm lao vào, kiếm kình vun vút cắt nát chưởng phong, dư lực giáng vào người chàng nhưng không ngăn được đà tiến vũ bão. Chàng đã đạt đến trình độ thi triển thuật Ngự kiếm trong khoảng cách gần, chính là khắc tinh của Thần Quang chưởng pháp.

Hai lão giết mướn già khiếp vía, vội cử kiếm chia tả hữu phản kích.

Thanh gươm của Nhương Thư loang rộng, va chạm với cả hai đối thủ. Tiếng tinh tang vang lên dồn dập. Luồng kiếm ảnh sáng bạc kia bất ngờ nghiêng hẳn về mé hữu, chụp lấy lão Chân khanh cao gầy, râu ngắn ngủn. Lão rú lên thảm khốc vì cái đau khủng khiếp của vùng ngực trái.

Lão còn lại thấy kẻ thù hở sườn trái, nghiến răng đâm liền bốn nhát, nhưng Thúy Sơn đã luôn bám sát Nhương Thư, đỡ đòn cho chàng.

Tuy đánh mất ký ức nhưng bản năng sinh tồn của Nhương Thư vẫn nguyên vẹn. Nó lại được tôi luyện qua những trận đấu sinh tử trong quá khứ, khi hữu sự liền hiển hiện. Chàng đã tính toán rất chính xác chứ chẳng phải liều lĩnh.

Thúy Sơn chặn xong đòn tập kích thì Nhương Thư quay sang xạ một đạo chỉ kình sắc bén như dùi sắt, xuyên thủng huyệt Mũi Trung trên ngực trái kẻ địch. Ðây chính là tử huyện nên nạn nhân khó thoát chết.

Nhưng vẫn còn Âu Dương Lăng và ba lão Chân khanh nữa, cả bốn vung song chưởng tấn công Nhương Thư và Thúy Sơn, chẳng thèm dùng kiếm cho mệt.

Nhương Thư kinh hoàng dồn toàn lực vào chiêu “Huyền Vụ Mãn Thiên”, kiếm quang tỏa rộng che chắn cho cả hai người.

Tám đạo chưởng kình giáng vào màn sương kiếm mịt mù, lực đạo mãnh liệt như sấm sét, nên đã phá thủng được lá chắn thép, một đánh vào bụng Nhương Thư, một vào ngực Thúy Sơn.

Nhương Thư chỉ hộc máu lảo đảo, song Thúy Sơn thì văng ngược ra phía sau, rơi xuống sông Hoàng Hà. Nhương Thư ngoái nhìn theo, nhận rõ vòi máu tươi trong miệng Thúy Sơn phun ra vương vãi không gian.

Chàng đau đớn gầm lên, định lao theo người yêu thì bị đối phương chặn lại bằng những đạo chưởng phong vũ bão.

Nỗi thống khổ biến thành cơn thịnh nộ điên cuồng. Nhương Thư trợn mắt xông vào Âu Dương Lăng. Chính phát chưởng của gã đã đưa Thúy Sơn xuống hoàng tuyền. Với độ cao tám chín trượng, một kẻ thọ thương như nàng chẳng thể nào sống sót nổi. Thúy Sơn dẫu không nát xương vì sức căng của mặt nước thì cũng bị dòng nước đục ngầu, hung hãn kia cuốn đi và dìm chết.

Công lực Nhương Thư chưa đầy hoa giáp, tức thị kém Âu Dương Lăng một, hai bậc, nhưng võ nghệ của chàng cao siêu hơn hắn ta. Và khi chàng đã nổi điên, xem thường sinh tử thì càng đáng sợ.

Âu Dương Lăng chột dạ trước ánh mắt tóe lửa căm hờn của đối phương, vội đánh chiêu “Nguyệt Quang Vân Xuất”, song thủ vỗ liền mười hai chưởng ảnh. Cùng lúc ấy, ba lão đạo sĩ giả hiệu mang danh Chân khanh kia cũng hợp chưởng cùng Môn chủ.

Nào ngờ, thân hình Nhương Thư đang ập đến lại đột ngột bốc cao như pháo thăng thiên, khiến những đạo chưởng kình hụt mục tiêu, chạm vào nhau nổ ì ầm.

Cơn giận ngút trời đã nhất thời khích động tiềm thức Nhương Thư, khiến chàng bất giác thi triển chiêu “Kính Ðảo Quang Phương” theo phương vị hai trục tung, hoành.

Và từ trên không trung, chàng sa xuống như núi Thái Sơn ập vào đầu kẻ thù. Âu Dương Lăng hồn phi phách tán cử song thủ vỗ liền hai chưởng, đồng thời song cước lui mau. Không phải do gã phản ứng nhanh mà bởi Nhương Thư đã hao tổn chân nguyên sau trận tử đấu với Báo Ứng hội, Âu Dương Lăng thoát chết nhưng hai bàn tay bị đâm nát, rơi mất mấy lóng, mặt và đầu cũng tổn thương nhẹ.

Cảm giác đau đớn và sợ hãi đã làm cho Âu Dương Lăng chẳng còn chút dũng khí nào, tung mình đào tẩu ngay.

Ba lão Chân khanh liều chết cầm chân Nhương Thư để Cung chủ thoát thân. Càng đánh họ càng khiếp đảm trước kiếm thuật và tấm thân sắt thép của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách. Chàng liên tiếp trúng chưởng mà vẫn đứng vững và trả lại họ những vết thương vấy máu. Cả ba sợ xanh mặt hè nhau bỏ chạy, chia làm ba hướng để làm khó dễ họ Tần.

Nhương Thư không ngần ngại đuổi theo cái lão đã dại dột chạy đúng hướng Âu Dương Lăng vừa thoát đi. Lão ta bị truy quá nút, vừa chạy vừa nói nhanh :

- Sao ngươi không chạy dọc bờ sông tìm xác vợ, theo ta làm gì?

Lão chỉ nói vì quá sợ, nào ngờ lại có tác dụng. Nhương Thư lập tức đình bộ, chạy ngược về phía bờ sông. Chàng phi thân như điên theo dòng nước đang hùng dũng xuôi Ðông, miệng gọi vang :

- Sơn muội! Sơn muội!

Chàng hành động một cách mù quáng vì giờ này xác Thúy Sơn đã trôi xa hàng mấy dặm.

Ðược vài khắc, Nhương Thư kiệt lực, vấp tảng đá ngã lăn ra, chàng bò đến mép vực sông nhìn dòng nước vàng đục, ác độc kia mà khóc vùi.

Chàng chẳng cần biết mình là ai, chỉ biết mình yêu tha thiết Bạch Thúy Sơn, và cái chết thảm của nàng đã khiến chàng đứt từng khúc ruột.

Nhương Thư càng đau khổ hơn khi không thể nhảy xuống nước chết theo nàng. Thứ nhất là vì chàng bơi rất giỏi, chẳng thể chết đuối được. Thứ hai, chàng phải sống để giết Âu Dương Lăng mà báo thù, cũng như tiêu diện Kỵ Ba Thần Quân.
Nhương Thư nghiến răng thề nguyện :

- Sơn muội hãy chờ ta! Ngày nào diệt xong Tứ Phạn Thiên cung và Sơn Hải bang ta sẽ đến với nàng!

Nhương Thư thổn thức đến khô lệ, và mơ màng nghe có tiếng chim bay ngang, hót trên đầu. Tiếng chim đã gợi cho chàng nhớ đến những con bồ câu đưa thơ của Cái bang, huy động nhân thủ ngược dòng tìm xác Thúy Sơn. Chàng không thể để người vợ yêu lênh đênh làm mồi cho cá, hoặc được chôn như một nạn nhân vô danh.

Nhương Thư bật dậy phi thân về Khai Phong cho thật nhanh. Lúc đi ngang tòa mộc xác của Tích Bảo chân nhân, nơi ngập tràn kỷ niệm, chàng sực nhớ đến giọt máu của mình trong bụng Thúy Sơn, càng thương tâm vô hạn.

Ði thêm một đỗi, Nhương Thư phát hiện một con tuấn mã còn đủ yên cương đang gặm cỏ, chàng lướt đến vỗ về rồi lên ngựa. Con vật này chắc là của một lão Chân khanh đã bị chàng giết.

Sơn Tây là vùng đất bị người Mông Cổ chiếm giữ lâu nhất, lại là cao nguyên nên nghề nuôi lừa ngựa rất phát đạt. Nhương Thư cỡi ngựa từ nhỏ, thuật kỵ mã và chăm sóc thuộc hàng thượng thặng.

Chàng không cần dùng roi đánh đập mà vẫn khiến con ngựa lạ ngoan ngoãn phóng như bay. Tuy đang nóng ruột, Nhương Thư cũng thầm khen ngựa tốt.

Chàng vào cửa Ðông thành lúc cuối giờ Thìn, lỏng tay cương, dáo dác tìm bọn ăn mày.

Hình dung thiểu não và bộ y phục bê bết máu của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách đã khiến bách tính trố mắt nhìn. Khách giang hồ thì kinh ngạc thầm mừng rỡ vì đã biết chuyện chàng hạ sát Âm Sơn lão tổ, thọ trọng thương, được Bạch Thúy Sơn cõng chạy.

Một hán tử mang kiếm bước ra, vòng tay nói :

- Sau khi cùng quân triều đình quét sạch Âm Sơn giáo, Dương Châu Thần Thâu cùng đệ tử Cái bang đã khổ công tìm kiếm đại hiệp và Tần phu nhân. Sao đại hiệp không đến Phân đà cho họ mừng.

Nhương Thư gật đầu :

- Xin cảm tạ các hạ! Song ta không biết lối!

Hán tử kia hăng hái đáp :

- Tại hạ rất vinh dự được dẫn đường cho đại hiệp!

Sau trận Cô Ðộc bảo, Tần Nhật Phủ đã làm chấn động võ lâm, thanh danh vang rền như sấm dậy, ai cũng tôn thờ chàng làm thiên hạ đệ nhất cao thủ, và chắc chắn sẽ trở thành Minh chủ võ lâm.

Bởi thế, hán tử này sướng rơn khi được làm quen và giúp đỡ chàng hiệp sĩ họ Tần. Gã hùng dũng rảo bước, đi phía trước đầu ngựa của thần tượng, cố tỏ vẻ bình thường, song thực ra, mũi gã nở lớn và phập phồng, còn miệng chỉ chực cười toe toét. Gã biết có rất nhiều người đang nhìn mình với ánh mắt ngạc nhiên và ganh tỵ.

Tim gã nổi trống trận khi nghe Tần Nhật Phủ hỏi :

- Xin các hạ cho Tần mỗ được biết đại danh!

Hán tử áo đen lắp bắp vì cảm động :

- Bẩm đại hiệp! Tại hạ là một kẻ áo vải vô danh, tên gọi Mục Tử Lương, năm nay hai mươi bảy tuổi, quê đất Hồ Nam!

Họ Mục khai báo đầy đủ, cứ như sắp kết giao huynh đệ với người ta vậy.

Nhương Thư chẳng thể nói câu “cửu ngưỡng”, chỉ gật đầu. Nhìn vai áo vải xấu sờn rách của Mục Tử Lượng, chàng chạnh lòng nghĩ đến hàng vạn chàng trai khác đang đeo gươm phiêu bạt, bỏ cố hương đi tìm chút thanh danh. Ða phần số ấy đều thất bại như Tử Lượng vậy. Muốn nổi danh hiệp khách trong chốn giang hồ sát máu này chẳng phải là chuyện dễ.

Phân đà Cái bang ở Khai Phong không xa, chỉ quanh co vài ngõ là đến nơi. Mục Tử Lượng hăng hái hét vang :

- Tần đại hiệp giá lâm!

Bọn hán tử đang ngồi trước sân vá áo bắt rận giật mình ngẩng lên, nhận ra chàng trai lông mày kép mà mình cực khổ tìm kiếm lâu nay.

Họ lúng túng đứng dậy khom lưng vái chào vì Tần Nhật Phủ đã chẳng chờ họ thông báo mà đi xăm xăm vào cửa sảnh.

Khách được chào đón bằng những tiếng ồ kinh ngạc, mừng rỡ của khá nhiều người. Quanh chiếc bàn bát tiên trần trụi, sứt mẻ kia có đến năm người, gồm Vô Ưu Cái, Ngọa Long Tú Sĩ, Triều Châu Thần Y, Dương Châu Thần Thâu và một gã khất cái gầy gò, cao lêu nghêu.

Gã cao gầy ấy chính là Phân đà chủ địa phương này, tên gọi Thanh Trúc Cái Phan Ðình Khải. Họ Phan đã cấp báo về Tổng đàn Lạc Dương khi tìm mãi không thấy Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách và Bạch Thúy Sơn. Do vậy, bọn Vô Ưu Cái mới vội vã đến Khai Phong.

Gương mặt đưa đám và thân thể tang thương của Nhương Thư đã khiến mọi người lo lắng. Vô Ưu Cái hấp tấp hỏi :

- Thúy Sơn đâu?

Nhương Thư thiểu não đáp :

- Sơn muội đã bị Âu Dương Lăng đánh trúng một chưởng, rơi xuống sông Hoàng Hà! Bang chủ mau cho chim câu bay đến các địa phương ở hạ lưu, huy động thuyền và người để vớt xác!

Vô Ưu Cái yêu thương Thúy Sơn như em gái, nay nghe hung tin không giữ nổi sự trầm tĩnh thường nhật, tái mặt quát :

- Sự việc thế nào? Mau nói rõ ta nghe!

Nhương Thư cười nhạt, mắt đổ lửa :

- Chuyện rất dài, trước mắt lão cứ làm theo lời ta!

Vẻ mặt đau khổ và dữ tợn của chàng đã khiến Vô Ưu Cái tỉnh táo lại. Lão bảo thủ hạ :

- Khải nhi! Sao ngươi không đi lo công việc, còn ngồi đấy làm gì?

Thanh Trúc Cái chính là đệ tử của Hầu Mộ Thiên. Gã vội dạ vang, tất tả bước ra ngoài.

Ngọa Long Tú Sĩ lên tiếng :

- Tần công tử cứ an tọa rồi kể rõ nguồn cơn cho bọn lão phu nghe thử?

Nhương Thư thẫn thờ ngồi phịch xuống ghế, uống liền ba chén trà cho nguôi cơn khát, rồi chậm rãi kể lại tất cả, trừ việc yêu đương giữa chàng và Thúy Sơn.

Cái chết của nàng đã khiến chàng chẳng còn thiết tha việc mình là ai nữa. Có nhận thân phận cũ cũng vô ích vì không bằng cớ và còn phiền nhiễu bởi sự tra hỏi. Nhương Thư quyết định giữ danh nghĩa Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách, diệt ma, phục thù xong là tự sát, chết theo nương tử.

Trong khi kể lể, những giọt lệ đã vơi giờ lại đầy và tràn ra khóe mắt, chứng tỏ niềm tiếc thương Thúy Sơn vô hạn. Ðiều này đã khiến bọn Vô Ưu Cái nghi hoặc. Là bậc anh hùng cái thế, nước mắt họ Tần nào dễ tuôn rơi như vậy.

Ngọa Long Tú Sĩ là ngươi luôn đoán chắc Nhật Phủ là Nhương Thư, giờ càng vững tin hơn. Lão đá nhẹ vào chân Vô Ưu Cái rồi bấm độn, xem thủ hung cát thế nào. Lỗ tú sĩ trầm ngâm một lúc, mặt lộ nét mừng :

- Tượng quẻ rất tốt! Thúy Sơn tuy gặp nạn nhưng có đến chín phần sống sót! Tần thiếu hiệp cứ yên tâm vào trong tắm gội, nghỉ ngơi và để Tạ thần y chăm sóc vết thương!

Nhương Thư bán tín bán nghi, gằn giọng hỏi lại :

- Tiên sinh nói thực đấy chứ?

Lỗ Ðăng Hân mỉm cười :

- Nếu sai, lão phu xin phế bỏ cái danh hiệu Ngọa Long ngay!

Là đệ tử nhà Phật, chàng vốn không tin bói toán, xong giờ đây chàng bám víu vào quẻ Dịch kia để không chết vì tuyệt vọng. Hơn nữa, thanh danh của Ngọa Long Tú Sĩ lừng lẫy đã ba chục năm, cũng đáng để tin lắm chứ.

Nhương Thư thở phào :

- Tạ ơn Phật tổ! Nếu Thúy Sơn thoát nạn thì đệ tử nguyện xây một cảnh chùa thật lớn!

Ðây chính là khuyết điểm của Di Hồn đại pháp, vì không thể thay đổi thói quen trong ngôn ngữ. Nhương Thư đã bộc lộ bản chất sư sãi của mình.

Mắt Vô Ưu Cái sáng lên, lão mỉm cười :

- Té ra Tần thiếu hiệp lại là một người mộ đạo, kính Phật chứ không kính Tam Thanh!

Nhương Thư cũng sững sờ trước việc này, thầm rủa mình đúng là cái gã sư nửa mùa của chùa Phật Quang.

Chàng không đối đáp, lặng lẽ đứng lên, chợt phát hiện Mục Tử Lượng vẫn còn lẩn quẩn trước sân Phân đà, liền bảo Vô Ưu Cái :

- Phiền Bang chủ thưởng cho vị huynh đài áo đen tên Mục Tử Lượng kia! Y đã nhiệt tình đưa đường cho tại hạ đến đây!

Hầu Mộ Thiên gật đầu và bảo gã tiểu cái hầu trà :

- Ngươi hãy dẫn Tần công tử xuống khánh xá, dành cho y một phòng thoáng đãng, yên tĩnh!

Gã tiểu cái vâng dạ, khom lưng mời Nhương Thư đi theo. ở đây, Vô Ưu Cái bước ra cửa sảnh, vẫy gọi Mục Tử Lượng :

- Ngươi vào đây!

Họ Mục mừng rỡ rảo bước theo Bang chủ Cái bang vào sảnh. Hầu Mộ Thiên ngắm nghía gương mặt thuần hậu, thật thà của Mục Tử Lượng, định nói thì bị Ngọa Long Tú Sĩ cướp lời :

- Chẳng hay Mục thiếu hiệp quê quán ở đâu?

Mục Tử Lượng vội vòng tay đáp :

- Bẩm tiền bối! Vãn bối quê huyện Nhạc Dương, phủ Hồ Nam!

Lỗ tú sĩ hỏi tiếp :

- Dung mạo của thiếu hiệp rất giống Tỏa Hầu Mục Vĩnh Phu cũng người đất Nhạc Dương! Dám hỏi đôi bên có quan hệ gì không?

Mục Tử Lượng tái mặt cúi đầu, sợ hãi đáp :

- Vãn bối chính là thứ nam của Tỏa Hầu!

Ngọa Long Tú Sĩ làm nhà trên núi Lỗ Gia Công, cũng thuộc Hồ Nam, nên biết rõ giới võ lâm trong phủ. Tỏa Hầu Mục Vĩnh Phu lại là một đại nhân vật, lừng danh với tài chế tạo ổ khóa, thiết kế cơ quan, tất nhiên Lỗ Ðăng Hân chẳng lạ.

Võ lâm Trung Nguyên có hai người nổi tiếng khéo tay là Tỏa Hầu ở phương Nam và Trượng Vương Tất Qui ở phương Bắc. Trượng Vương qua đời đã lâu, chính thị ông nội của Tất Cung Bảo, chủ nhân những trái Bạt Sơn Thần Lựu.

Lỗ tú sĩ cười ha hả :

- Thì ra ngươi là chàng trai không thích nghề bán ổ khóa, trốn nhà đi làm hiệp sĩ đây sao?

Lão còn giễu cợt :

- Sao ngươi không dùng tài mở khóa gia truyền mà kiếm ăn, để phải đói rách thế kia!

Mục Tử Lượng đỏ mặt, lúng túng đáp :

- Vãn bối tuy được chân truyền song tuyệt đối chẳng dám làm nhục nhã tông môn! Xin tiền bối chớ nói thế!

Vô Ưu Cái vốn có tài Minh chủ, giỏi thuật dùng người, nhận ra Mục Tử Lượng là bậc hiền tài, rất hữu dụng cho sự nghiệp giáng ma. Ông vui vẻ hỏi :

- Mục hiền điệt! Ngươi bỏ cảnh giàu sang phú quí chắc cũng vì hiệp tâm vạn trượng, nuôi chí trừ gian diệt bạo! Nay võ lâm gặp hồi kiếp nạn, ma chướng hoành hành, chẳng hay hiền điệt có chịu đem sức ra sát cánh với lão phu hay không?

Mục Tử Lượng choáng váng, ngây ngất như người đậu trạng nguyên, quì xuống lạy :

- Bang chủ đã có lòng hạ cố, vãn bối xin xả thân phò tá!

Vô Ưu Cái rời ghế, đỡ Mục Tử Lượng lên, đưa vào bàn. Ông hỏi han kỹ lưỡng, hài lòng khi biết họ Mục đủ tài đáp ứng những yêu cầu của mình. Ông bèn bảo gã về chỗ cư trú thu xếp hành lý, sang đây chờ lệnh.

Mục Tử Lượng đi rồi, Vô Ưu Cái nghiêm nghị hỏi Lỗ tú sĩ :

- Này Lỗ hiền đệ, tài bói toán của ngươi có thực sự linh ứng hay không?

Lỗ Ðăng Hân gượng cười :

- Thiên cơ đâu dễ để người phàm biết được! Quẻ bói chỉ đáng tin sáu bảy phần mà thôi! Tiểu đệ phải nói cứng thế để trấn an Nhương Thư đấy!

Hầu Mộ Thiên cau mày :

- Ngươi đã dám khẳng định rồi ư?

Lỗ Ðăng Hân gật đầu, nghiêm giọng :

- Tiểu đệ tự tin mình không thể lầm! Nay họ Tần thọ thương là cơ hội tốt để chúng ta kiểm chứng!

Vô Ưu Cái gật gù, quay sang bảo Tạ thần y :

- Phiền Tạ lão huynh xem xét thật kỹ cơ thể Tần Nhật Phủ!

Tạ lão mỉm cười, về phòng lấy rương thuốc, đi xuống khách xá. Nửa canh giờ sau ông trở lại, đôi lông mày bạc cau tít.

Tạ thần y nhấp hớp trà rồi kể :

- Lão phu đã để lẫn một hoàn thuốc ngủ vào thuốc trị nội thương, nhờ vậy có điều kiện quan sát rất kỹ. Khổ thay, mặt y không hề có dấu vết mổ xẻ hay dịch dung! Tuy nhiên lão phu đã khám phá việc y không sợ độc, dù trúng hơn hai chục mũi độc châm. Hai là, xương cốt y cứng rắn khác thường, chịu nguyên một chùy vào lưng mà chẳng gãy!

Vô Ưu Cái là người cực kỳ thận trọng nên phân vân :

- Lạ thực! Hai đặc tính cơ thể kia đúng là của Nhương Thư, song chẳng lẽ trên đời lại có kẻ tài ba đến mức cắt da xẻ thịt mà không để lại dấu vết?

Ngọa Long Tú Sĩ cười mát :

- Lão phu xin hiến một kế mọn!

Chương 18: Khê ngạn kiến Vô Y - Bích thượng phùng quỷ kế

Hôm sau, Vô Ưu Cái đến gặp Nhương Thư, trao cho chàng một quyển bí kíp chép tay, ân cần dặn dò :

- Ðây là Phật Ðăng kiếm phổ! Tuyệt học làm lừng danh Tần Nhương Thư! Nay công tử thay y giáng ma, hãy nghiên cứu để tăng cường bản lãnh!

Quyển thủ lục này do Trác Thiên Lộc chép lại, bị Nhương Thư thu hồi, giao cho Vô Ưu Cái cất giữ. Chàng sợ tuyệt học của ân sư bị thất truyền nên ủy thác Hầu Mộ Thiên tìm người tài đức mà truyền lại, trong trường hợp chàng đoản mệnh.

Nhương Thư mừng rỡ cảm tạ họ Hầu. Chàng hy vọng qua việc học Phật Ðăng kiếm pháp mà khẳng định thân phận thực và dần dà khôi phục ký ức.

Chàng luyện Phật Ðăng kiếm pháp mười mấy năm ròng, chiêu thức in sâu vào tiềm thức, phép “Di Hồn đại pháp” chỉ che mờ được ý thức, khiến chàng tạm quên đi. Giờ xem lại khẩu quyết, tay hữu bắt kiếm ấn thực hành, Nhương Thư thi triển một hơi toàn pho, chẳng chút ngượng ngùng.

Nhương Thư thở dài, hoàn toàn xác định mình là ai. Trong những ngày sau đó, chàng ở rịt trong phòng, luyện đi luyện lại những chiêu kiếm, mắt nhắm nghiền để tâm trí thức dậy theo từng đường gươm quen thuộc. Phật Ðăng kiếm pháp chính là chiếc chìa khóa thần diệu mở dần cánh cửa dĩ vãng bị tà pháp khép chặt. Gương mặt hòa ái, từ bi của Phật Ðăng Thượng Nhân hiện ra trước tiên vì ông là người dạy kiếm cho Nhương Thư. Sau đó là phong cảnh chùa Phật Quang, núi Ngũ Ðài và thi thể lõa lồ của người mẹ bạc mệnh. Lần lượt, Nhương Thư khôi phục toàn bộ ký ức, kể cả việc bị Ải Thần Quân bắt sống. Chính lão đã dùng tài dao kéo biến chàng thành Tần Nhật Phủ.

Chàng có thể tiết lộ bí mật này cùng bọn Vô Ưu Cái truy tìm Ải Thần Quân, bắt lão trả lại chân diện mục. Nhưng nếu thế thì chàng không thực hiện được lời thề với Thúy Sơn. Ba người vợ họ Ðiền và ba chiếc bào thai chẳng cho phép chàng tự sát.

Kỷ niệm về họ cũng đã sống lại cùng tình yêu, điều này khiến Nhương Thư vô cùng bối rối. Chàng quyết định giữ kín lai lịch, chờ xem an nguy của Thúy Sơn thế nào. Nếu nàng sống sót đúng như lời Ngọa Long Tú Sĩ tiên đoán thì hạnh phúc sẽ vẹn toàn.

Dù không quen gian dối, Nhương Thư vẫn phải nói ngược lòng mình khi bị Vô Ưu Cái hỏi han. Chàng bảo rằng Phật Ðăng kiếm pháp uyên thâm vô lượng, chẳng thể luyện thành trong thời gian ngắn được. Chàng biết đây là mưu kế của Ngọa Long Tú Sĩ, kẻ đã khẳng định với Thúy Sơn về thân phận của chàng.

Vẻ thất vọng lóe lên trong đôi mắt già nua của Hầu Mộ Thiên, làm cho Nhương Thư đau lòng vô hạn. Vô Ưu Cái yêu thương chàng như ruột thịt, chắc đã rất thương tâm khi mất mát.

Tiết Trung thu đến mang theo toàn tin xấu. Thứ nhất, các Phân đà dọc hạ lưu Hoàng Hà báo về rằng không thể tìm thấy xác Thúy Sơn. Họ đã dọ hỏi dân cư dọc hai bờ, suốt chiều dài ngàn dặm, cũng chẳng có ai vớt được.

Tin thứ hai là việc Sơn Hải bang do Kỵ Ba Thần Quân đích thân thống lãnh đã vây hãm Cưu Sơn, tình thế bọn Hoàng Nghi Tuyệt vô cùng nguy ngập.

Vô Ưu Cái liền cho mời Nhương Thư lên sảnh. Chàng hơi ngạc nhiên khi thấy cả Mục Tử Lượng cũng được mời dự họp. Gã đã đến ở đây cùng lúc với chàng, song hai người ít khi gặp gỡ.

Hầu Mộ Thiên thông báo kết quả cuộc tìm kiếm Thúy Sơn trước. Nghe xong, Ngọa Long Tú Sĩ hớn hở nói ngay :

- Không thấy xác tức là quẻ bói của lão phu đã linh nghiệm! Có lẽ Thúy Sơn được chiếc thuyền nào đó vớt lên. Họ đi ngược về hướng Tây nên không biết việc chúng ta tìm kiếm!

Nhương Thư buồn rầu lẩm bẩm :

- Một kẻ thọ chưởng thương, rơi xuống từ độ cao tám chín trượng, khó mà sống nổi với dòng nước dữ dội của sông Hoàng!

Lỗ Ðăng Hân bác ngay :

- Cát nhân chẳng thể chết yểu được! Trước đây nàng ta và Nhương Thư rơi xuống vực thẳm sâu vài chục trượng mà vẫn an toàn cơ mà!

Nhương Thư là người trong cuộc nên biết rất rõ, phần nào tin vào những kỳ tích phi thường.

Vô Ưu Cái bàn sang việc võ lâm, kể lại tình hình gay cấn ở Cưu Sơn. Nhương Thư xem Hoàng Nghi Tuyệt là bằng hữu chí thân nên khẳng khái nói :

- Tại hạ xin đi ngay Cưu Sơn để giải vây cho phe ta, đồng thời nhân cơ hội này mà giết Kỵ Ba Thần Quân, không cần chờ đến đại hội Minh chủ nữa!

Vô Ưu Cái gật gù :

- Hiện nay, Bất Trí thư sinh, Thiết Kình Ngư, Tô Châu ngũ tặc cùng hai trăm cao thủ Thiếu Lâm đã khởi hành đi Cưu Sơn. Tuy nhiên, trong lực lượng của chúng ta không ai đủ sức đương cự lại lão quỷ già Thành Vô Chiến. Vì vậy, Tần thiếu hiệp hãy đến đấy để cầm chân hắn!

Nhương Thư cau mày :

- Vì sao Bang chủ lại dùng chữ “cầm chân”?

Hầu Mộ Thiên thở dài :

- Vì bản lãnh của Kỵ Ba Thần Quân Thành Vô Chiến lợi hại hơn Âm Sơn lão tổ một bậc. Lão ta lại có bảo giáp da cá hộ thân, kiếm đâm không thủng!

Nhương Thư sực nhớ đến tấm bảo y mà Lã Tập Hiền đã mượn của Kỵ Ba Thần Quân, khi định giao đấu với chàng.

Ngọa Long Tú Sĩ tiếp lời họ Hầu :

- Không phải mình lão ta mà cả mười người đệ tử thân tín cũng mặc bảo y, đao pháp rất cao cường!

Tạ thần y bỗng than thở :

- Phải chi có được thanh Mạc Gia thần kiếm của Tích Bảo chân nhân thì mới mong giết được lũ tà ma đáng ghét kia!

Vô Ưu Cái hậm hực chửi :

- Mả cha cái lão đạo sĩ chuyên đào mồ thiên hạ! Bốn năm trước lão ta vớ được thanh thần kiếm trong một ngôi mộ cổ ở ngoại thành Lạc Dương, có mang đến khoe với lão phu, lão huyênh hoang rằng sẽ tìm bậc nhân hiệp mà tặng kiếm, sau đó ôm bảo vật biến mất tăm. Nếu lão ta thực lòng vì võ lâm thì đã sớm tặng cho Nhương Thư rồi. Còn ai xứng đáng hơn y nữa?

Chợt lão đổi giọng, quay sang ân cần với Mục Tử Lượng :

- Này Mục hiền điệt! Ðến lượt ngươi trưng của quí ra rồi đấy!

Họ Mục hân hoan gật đầu, trịnh trọng nhấc một túi lụa nhỏ trong lòng lên, đặt xuống bàn, miệng ấp úng vì xúc động :

- Bẩm chư vị! Vãn bối nhận được lệnh của Hầu bang chủ lập tức thức trắng chín ngày đêm, chế tạo ra được mười viên Lân Hỏa Thần Ðạn, theo đúng thiết kế của Lỗ tiền bối! Với loại vũ khí này, Tần thiếu hiệp có thể yên tâm đối phó với Kỵ Ba Thần Quân và bọn giáp sĩ!

Nói xong, Mục Tử Lượng đổ ra bàn những viên bi bằng vàng, lớn cỡ hột nhãn, hình cầu nhưng có sáu nốt lồi nhỏ xíu.

Nhương Thư cầm lên xem thử, ngơ ngác hỏi :

- Tác dụng của chúng thế nào?

Ngọa Long Tú Sĩ Lỗ Ðăng Hân tươi cười giải thích :

- Áo giáp da cá của thầy trò Kỵ Ba Thần Quân đều được tẩm dầu, tương tự như Ðằng Giáp của đám rợ phương Nam, từng bị Khổng Minh thiêu chết. Do vậy, lão phu đã nghĩ ra việc chế tạo Lân Hỏa Thần Ðạn, nhưng không có người đủ khéo kéo mà thực hiện. May thay, Mục hiền điệt đây sở đắc tài hoa của Tỏa Hầu, đã thành toàn ý nguyện của lão phu!

Mục Tử Lượng sung sướng lên tiếng giải thích :

- Bẩm chư vị! Tuy bề ngoài đơn giản nhưng việc tạo tác lại cực kỳ khó khăn, phức tạp. Sáu nốt lồi nhỏ xíu như đầu tăm này chính là bộ phận kích hỏa. Khi Lân Hỏa Thần Ðạn chạm mạnh vào người đối phương sẽ phát nổ và bốc cháy. Lửa lân tinh rất dữ dội, không thể dập tắt được và bám rất chắc vào mục tiêu. Giao Bì giáp của Kỵ Ba Thần Quân tẩm dầu thì lão càng mau chết.

Cử tọa hết lời khen ngợi tài nghệ của Mục Tử Lượng khiến gã khoan khoái phi thường. Dương Châu Thần Thâu nói đùa :

- Sao ngươi lại hoang phí đến mức dùng vàng là ám khí? Ngươi muốn Hầu bang chủ sạt nghiệp hay sao?

Mục Tử Lượng gượng cười :

- Bạch huynh quả khéo đùa! Vàng là thứ kim loại thích hợp nhất vì có thể dát mỏng, kéo sợi dễ dàng, lại không rỉ sét! Nếu làm bằng đồng thì lượng thuốc nổ ít ỏi kia không phá vỡ nổi vỏ bọc!

Nhương Thư cắt ngang lời gã :

- Mục công tử có thể chế tạo Bạt Sơn Thần Lựu được không?

Mục Tử Lượng bẽn lẽn lắc đầu :

- Thưa không, đấy là nghề độc môn của dòng họ Tất, tại hạ chẳng dám so bì!

Lỗ tú sĩ xen vào :

- Lão phu đã nghiên cứu rất kỹ trái Bạt Sơn Thần Lựu cuối cùng của chúng ta, nhận ra nó được dồn một loại thuốc nổ đặc biệt nên sức công phá mới khủng khiếp như thế! Chỉ riêng phương pháp nén chặt thứ hỏa dược nhạy cảm ấy vào ống đồng cũng đủ làm cho cả thiên hạ phải nhức đầu!

Vô Ưu Cái xoa tay :

- Không khó thì đâu còn là Trượng Vương! Thôi thì có gì xài nấy! À! Tần thiếu hiệp có biết ném ám khí hay không?

Dưới ánh mắt sắc như dao của lão, Nhương Thư cố bình thản đáp :

- Tại hạ quen luyện Lục Mạch thần chỉ, có thể dùng chỉ phong bắn thần đạn đi được mà!

Câu trả lời nghe hữu lý, nhưng thực ra là chàng có luyện qua phép ném Thiết Niệm Châu.

Nhương Thư biết rõ bản chất “cẩn tắc vô ưu” của Hầu Mộ Thiên, dù biết chắc chín phần vẫn chờ sự xác nhận của chàng.

Vô Ưu Cái dịu giọng bảo Mục Tử Lượng :

- Hiền điệt hãy về nghỉ ngơi vài ngày rồi tiếp tục chế tạo thêm thần đạn! Vận mệnh của võ lâm tùy thuộc vào ngươi đấy!

Tuy biết bị đuổi khéo nhưng Mục Tử Lượng vẫn cao hứng về câu nói trịnh trọng của lão hồ ly họ Hầu.

Dương Châu Thần Thâu không chờ đuổi, giả đò rủ Mục Tử Lượng đi uống rượu. Trong sảnh giờ đây chỉ có bốn người, cả gã tiểu cái hầu trà cũng bị xua đi mất.

Lúc này, Vô Ưu Cái mới nghiêm nghị nói với Nhương Thư :

- Tần thiếu hiệp! Bọn lão phu đã điều tra cặn kẽ, biết rõ thiếu hiệp là người đã làm cho bụng của ba nàng họ Ðiền phưỡn ra! Lão phu không bắt lỗi, chỉ muốn ngươi thành thực thú nhận và lãnh trách nhiệm!

Nhương Thư chờ đợi câu hỏi này đã lâu, chua chát đáp :

- Nếu tại hạ nhận mình là cha những đứa bé kia thì đồng ý lấy ba vị phu nhân họ Ðiền, liệu họ có chịu không?

Vô Ưu Cái cười nhạt :

- Chắc chắn là không! Vì vậy, ý của lão phu là ngươi sẽ tự sát trước linh vị của Nhương Thư để tạ tội!

Lão định bắt bí để chàng lòi đuôi chuột, chịu nhận lại thân phận, nào ngờ Nhương Thư buột miệng đáp ứng ngay :

- Dám làm dám chịu! Giết xong Kỵ Ba Thần Quân và Âu Dương Lăng là tại hạ dâng đầu cho Bang chủ!

Dứt lời, chàng đứng phắt dậy trở về phòng. Ở đây, ba lão nhân nhìn nhau ngơ ngẩn. Hầu Mộ Thiên rầu rĩ than :- Thế này là thế nào nhỉ? Nếu y là Nhương Thư sao không mở miệng thừa nhận mà lại chịu chết?

Ngọa Long Tú Sĩ dù cơ trí như Khổng Minh, song không biết rõ sự việc trong mộc xá, cũng như lời nguyện đồng hành cùng Thúy Sơn về cõi âm của Nhương Thư, nên đâm ra bối rối. Lão bắt đầu nghi ngờ định kiến vững chắc trước đây của mình.

Tạ thần y lên tiếng phá tan bầu không khí nặng nề :

- Lão phu đã theo cách của Lỗ lão đệ, bấm vào huyệt Mi Tâm song họ Tần chẳng hề có biểu hiện đau đớn. Có thể kết luận gã không phải là Nhương Thư bị phép Nhiếp Hồn biến thành Nhật Phủ!

Vô Ưu Cái ôm đầu than :

- Chắc lão phu điên mất!

Sáng hôm sau là ngày mười sáu tháng tám, Nhương Thư lên đường đi Cưu Sơn. Chàng phải có mặt sớm để hỗ trợ Hoàng Nghi Tuyệt. Lực lượng chính phái ở đấy khá mạnh, chỉ thiếu cao thủ để đủ sức đối phó với Kỵ Ba Thần Quân. Với hơn chục viên Lân Hỏa Thần Ðạn vàng óng, xinh đẹp kia, Nhương Thư hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu ấy.

Cưu Sơn chỉ có một đỉnh và căn cứ Cưu bang lại nằm trên bình đài ở sườn Ðông, vì ba hướng còn lại là rừng cây rậm rạp, đầy ác thú, độc vật, không có lối ra vào.

Cũng chính vì thế mà quân Sơn Hải bang chỉ vây hãm đoạn chân núi hướng Ðông, chiếm lấy Lạc Pháp trấn.

Lực lượng của Hoàng Nghi Tuyệt đông độ năm trăm, đã rút cả lên bình đài, tuy an toàn nhưng lâu ngày sẽ chết đói.

Quân tiếp viện còn ở phía sau nhưng Nhương Thư phải có mặt thật sớm vì Kỵ Ba Thần Quân đang cho thủ hạ đóng một chiếc thang khổng lồ, cao mười trượng, rộng hai trượng.

Mặt trước của thang dựng đứng, lợp kín bằng ván dầy, mặt sau dốc và gồm những bậc ngang. Khi đóng xong, Sơn Hải bang sẽ dùng con lăn đẩy chiếc thang áp sát bình đài rồi tiến lên. Lúc ấy, bọn Hoàng Nghi Tuyệt sẽ phải bó tay.

Sơn Hải bang đã quét sách đệ tử Cái bang trong bán kính mười dặm quanh Cưu Sơn. May mà trạm truyền tin lại sớm nằm trên núi, nên Vô Ưu Cái và hội đồng võ lâm mới nắm rõ cục diện.

Nhiệm vụ của Nhương Thư là có mặt trên bình đài, chặn đánh Kỵ Ba Thần Quân lúc lão nhảy từ đầu thang sang. Thủ hạ của lão đã có bọn Hoàng Nghi Tuyệt phụ trách.

Nhưng chàng sẽ lên bằng cách nào khi chung quanh núi là vách đá dựng ngược? Kỵ Ba Thần Quân đã đích thân khảo sát toàn khu vực mà không tìm ra lối lên, đành phải đóng thang. Hơn nữa, hàng ngàn tổ ong độc không cho phép lão đưa quân vào rừng. Một người thì không sao nhưng nhiều người sẽ đánh động bầy ong dữ.

Ngày xưa, trong những cuộc chiến tranh, người Trung Hoa dựa vào thành lũy mà phòng thủ, vì thế, một vài công cụ phá thành đã ra đời. Trong số đó có loại thang dài thượt gọi là vân thê (thang mây) được làm bằng tre và khá đơn giản. Khi sử dụng vân thê, người ta phải phối hợp với cung tiễn để hỗ trợ, song không mấy có kết quả. Ða số quân cảm tử trèo lên thang đều bỏ mình vì bị xô ngã, hoặc bị dầu hôi trút xuống đầu.

Loại thang nặng nề, kiên cố của Kỵ Ba Thần Quân sáng tạo ra không dùng được trong chiến tranh vì quanh thành đều có đào hào sâu, khó mà đưa qua. Song Cưu Sơn không phải thành quách và đệ tử Cưu bang cũng chẳng có cung tiễn nên vân thê của Thành Vô Chiến mới có đất dụng võ.

Như đã nói ở trên, việc thông tin liên lạc giữa Cưu Sơn và Lạc Dương vẫn được duy trì, nên Nhương Thư có cách để lên núi.

Bọn Sơn Hải bang không mù nên đã thấy chim câu mang thư cầu viện bay đi. Vì vậy, họ đặt mai phục ở mọi ngã đường để chặn đánh, chủ yếu phòng ngự hướng Nam, nơi ấy có đường thông với quan đạo. Quân chính phái đến tiếp ứng Cưu Sơn bắt buộc phải đi lối này.

Có một điều mà một kẻ đầy thao lược như Thành Vô Chiến không nghĩ đến, là việc đối phương chỉ có một mình và đi từ Khai Phong đến chân phía Bắc núi Cưu. Ở hướng này, họ Thành chỉ rải vài tên trinh sát cho có lệ. Lão mang theo sáu trăm quân nhưng cũng chẳng đủ để rải hết một chu vi hàng chục dặm.

Kế trưa ngày mười tám, Nhương Thư có mặt trong một thôn nhỏ, cách xa Cưu Sơn khá xa. Chàng vào quán trọ nghèo nàn ở đầu thôn ăn thật no, gởi ngựa lại rồi xuất phát.

Cuối giờ Mùi, chàng đến khu rừng già chân núi, dễ dàng qua mặt một gã hải tặc đang ngủ gục dưới gốc cây, tiến vào rừng.

Mưa thu làm thảm rừng ẩm ướt, xông lên mùi lá mục, côn trùng sinh sôi nảy nở rất nhiều, chúng rỉ rả chào đón Nhương Thư, song thỉnh thoảng lại có những tiếng sột soạt đầy đe dọa.

Tiếng hổ gầm từ xa vọng lại không làm Nhương Thư nao núng. Cả những tổ ong nằm rải rác khắp nơi cũng chỉ khiến chàng mỉm cười. Hoàng Nghi Tuyệt từng kể rằng loài Hoàng Phong trong rừng Cưu Sơn rất độc và dữ tợn, ai bị chúng đốt là toi mạng ngay. Nhờ bầy ong và đàn hổ mà khu rừng nguyên thủy rộng mênh mông này vẫn chưa bị loài người tàn phá. Bọn tiều phu chỉ đốn củi ở bìa rừng chứ không dám vào sâu.

Chợt phát hiện một con mãng xà dài ngoằng, to lớn, ngoắt ngoẻo trên cành cây trước mặt, Nhương Thư đi chếch sang hướng khác để tránh. Không có gì nguy hiểm sao mặt chàng lại nặng nề và ánh mắt u buồn thế kia? Ðấy là bởi con vật đã gợi nhớ đến Thủy Xà Vương và người yêu bạc mệnh là Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Ðại Ngọc.

Chàng đã giết được Thiểm Bắc Thần Long và Âm Sơn lão tổ để trả thù, song đâu phải nhờ thế mà Lâm nương sống lại.

Nhương Thư cố nén đau thương, vung kiếm chặt cành mở lối, bước nhanh hơn. Càng đến gần chân núi thì thảm rừng càng nhiều đá tảng, song chỉ làm đường dễ đi đối với kẻ có khinh công cao siêu. Nhương Thư nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác, trông đẹp như cánh chim, khiến lũ tu hú đang quang quác trên cành cao phải ghen tỵ.

Ðường rừng hiểm trở, Nhương Thư liên tục chuyển hướng để tránh những trở ngại quá lớn, nên thỉnh thoảng chàng phải nhảy lên ngọn cây, quan sát đỉnh Cưu Sơn để định hướng cho đúng.

Không muốn đánh động lũ ong rừng hung dữ, chàng chỉ dùng kiếm chặt những cành gai khi cần thiết.

Trong rừng thường có suối, do nước tích tụ trên núi chảy xuống, và Nhương Thư đã gặp một trong những khe suối ấy.

Nhương Thư mừng rỡ cởi hết y phục, nhảy xuống giòng nước mát, trong veo, có màu xanh của lá rừng. Chàng gột rửa bụi bặm và xăm soi những chỗ kín trên cơ thể để tìm bắt loài ve nhỏ bé mà lì lợm. Chàng không sợ độc, song chúng lại không sợ chàng.

Ve rừng chẳng hề đáng yêu như loài ve sầu vẫn thường ngợi ca mùa hạ. Chúng chỉ nhỏ hơn hạt mè, thuộc hạng khát máu nhất trần gian. Chúng thích những vùng phủ lông như đầu, nách, hạ thể...và khi cắn ai thì chui luôn vào sâu da thịt, khiến nạn nhân phát sốt, đau đớn vô cùng. Ðáng sợ nhất khi chúng chui vào lỗ tai, hổ thì rống chạy cong đuôi, người thì kêu cha gọi mẹ, đau thấu trời.

Nhương Thư chợt nghe tiếng sột soạt, đảo mắt nhìn quanh mà chẳng thấy gì, khi đã chắc rằng chẳng còn kẻ thù nhỏ bé nào trên người, Nhương Thư khoan khoái lên bờ, mở tay nải nhỏ lấy bộ võ phục sạch thay. Bộ lúc nãy cũng đã dơ bẩn và bị gai góc móc toạc, chẳng tiếc làm gì. Và chàng cũng không đủ can đảm ngồi bắt lũ ve trong bộ quần áo ấy.

Hơn nữa, sau mấy tháng đóng vai chàng công tử phong lưu Tần Nhật Phủ, Nhương Thư đã nhiễm thói quen sạch sẽ và chỉnh tề. Chàng không muốn xuất hiện trước mặt Hoàng Nghi Tuyệt và Từ Thanh Huệ với một bộ dạng rách rưới khó coi.

Giờ đây, Nhương Thư chỉ cần đi dọc bờ suối là sẽ đến được chân núi. Tất nhiên là phải ngược dòng.

Nhưng vừa đi được một đoạn, chàng chợt nghe phía sau vọng lại những âm thanh kỳ lạ. Tiếng kêu ấy đầy vẻ giận dữ, pha lẫn sự sợ hãi và dường như là cầu cứu vậy. Chúng trong trẻo và đúng là tiếng nữ nhân.

Không kịp tự hỏi vì sao chốn hiểm địa hoang vu này lại có đàn bà, Nhương Thư quay ngoắt lại, lao vút đi như tên bắn. Khi đến đoạn suối lúc nãy, chàng phát hiện trên bờ Tây có một con mãng xà, thân to bằng bắp đùi người lớn, đang quấn chặt một nhân vật tóc dài. Người này đang dùng hai tay xiết cổ con mãng xà, cố ngăn không cho cái miệng rộng hoác, đầy răng ngược kia nuốt gọn đầu mình.

Loài trăn lợi hại nhất là ở những vòng xiết chết người, lực đạo mạnh đến mức xương nai già cũng phải gãy răng rắc.

Ðã từng bị rơi vào hoàn cảnh ấy, Nhương Thư chẳng dám chần chừ, lướt đến vung kiếm chém bay đầu con trăn. Thân nó lỏng ra và nạn nhân kia thoát chết, nhún chân rời xa con mãng xà đang quằn quại,đứng nhìn Nhương Thư với ánh mắt biết ơn, miệng cười toe toét, nhe hàm răng nhọn hoắt, trắng nhỡn, gương mặt y chỉ lem luốc chứ không xấu xí, song toát ra vẻ man rợ, hoang sơ. Tuổi tác y chỉ độ mười sáu, mười bảy.

Nhương Thư đỏ mặt tía tai, chẳng dám nhìn vì y hoàn toàn lõa thể, và lại là giống cái. Nàng ta chẳng phải loài khỉ vượn vì trên làn da đen đúa kia không phủ lông mao, trừ những chỗ mà đàn bà ai cũng có. Nhưng cơ thể ấy đầy những bắp thịt thon dài, rắn rỏi, nhất là ở tứ chi. Ðấy có lẽ là kết quả của cuộc sống leo trèo hái trái, hay săn đuổi thú rừng.

Nhương Thư bối rối, quay gót bỏ đi. Nhưng cô gái rừng rú kia chỉ nhún chân một cái đã bay vèo qua mặt chàng chặn lại, hai tay giang rộng, mắt đầy vẻ van xin, lưu luyến.

Nhương Thư chột dạ nghĩ thầm :

- “Chết ta rồi! Hay là con bé này định giữ ta lại làm chồng?”
Chàng ngượng ngùng hỏi thử, dù chẳng biết đối phương có biết nói hay không.

- Dám hỏi cô nương là ai, vì sao lại một mình lạc lõng chốn này?

Cô gái lại cười và lắc đầu, tỏ vẻ không hiểu, và bập bẹ :

- Mày... nói gì?

Thì ra nàng ta chỉ biết tiếng Hồ Nam, trong khi Nhương Thư hỏi bằng tiếng Bắc Kinh.

Ðại loại, nước Trung Hoa tuy rộng lớn, mỗi vùng một thứ tiếng, song vẫn chỉ gồm khoảng tám phương ngữ ở tám khu vực.

Phương ngữ miền Bắc lấy tiếng Bắc Kinh là căn bản, phân bố theo khu vực cư trú của những thị tộc Bắc Hán. Từ sông Hoàng Hà qua Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quí Châu. Người sử dụng phương ngữ này đông đảo nhất, chiếm độ bảy phần mười dân số.

Phương ngữ của vùng giáp ranh Giang Tô, Triết Giang, lấy tiếng Thượng Hải làm đại biểu, đại bộ phận tập trung ở Triết Giang.

Phương ngữ của vùng Hồ Nam, dùng ngôn ngữ Trường Sa làm cơ sở.

Phương ngữ của Khách Gia là ngôn ngữ của người Hán di cư từ lưu vực sông Hoàng Hà xuống phía Nam, tập trung ở các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Giang Tô. ở Hồ Nam, Tứ Xuyên cũng có một số ít người nói tiếng Khách Gia.

Phương ngữ Phúc Kiến. Phân bố chủ yếu ở Phúc Kiến và một bộ phận ở Ðài Loan.

Phương ngữ vùng Giang Tây, Hồ Bắc, lấy tiếng Nam Xương là chủ.

Phương ngữ vùng phía nam Phúc Kiến, có ở cả Ðông Bộ tỉnh Quảng Châu, một phần đảo Hải Nam, Ðài Loan dùng nhiều nhất (Ðài ngữ).

Phương ngữ Quảng Châu, lấy tiếng Quảng Ðông làm chủ, tập trung ở Lưỡng Quảng.

May thay thân mẫu của Nhương Thư là người Hồ Nam, dĩ nhiên bà đã dạy cho con trai ngôn ngữ của quê hương. Chàng yêu mẹ nên yêu cả những gì gợi nhớ đến bà, bất giác có hảo cảm với cô gái man rợ này. Nhương Thư vui vẻ dùng tiếng Hồ Nam lập lại câu hỏi. Nàng ta cười tít mắt đáp một cách chậm chạp và ngọng nghịu, vì có lẽ đã nhiều năm không dùng đến.

- Ối chà! Té ra.... mày cũng.... biết nói tiếng.... của cha tao ư? Nhưng.... “cô nương” là cái gì vậy?

Trong tiếng Hán, hai từ Nhĩ, Ngã được dùng để xưng hô cho mọi vai vế, muốn dịch sao cũng được. Ðiều này đã bị các bậc túc nho đất Giao Chỉ chê bai rằng Hán ngữ thiếu sự phong phú và phân minh. Cha con, ông cháu mà cứ “Ni - Ngộ, Lư - Wa, Ní - Mờ” thì còn thể thống, lễ giáo gì nữa.

Do vậy, trong trường hợp này, tác giả dịch hai từ “Nhi - Ngã” của cô gái ở lõa thể kém văn minh kia bằng “mày - tao” chắc là thích hợp hơn. Nhưng nếu thế thì hơi chói tai, đổi là “ta - ngươi” dễ nghe hơn.

Nhương Thư phì cười giải thích :

- Cô nương tức là “mày” đấy!

Trong lễ nghĩa Trung Hoa, khi nói chuyện, Nhương Thư luôn phải nhìn vào mặt đối phương. Song thị hướng của mắt người khá rộng nên nhãn tuyến chàng bao quát luôn cả bộ ngực thanh tân, mun múp cao của cô gái. Chàng thầm hổ thẹn và nhớ Thúy Sơn vô hạn.

Nữ sơn nhân kia vui vẻ nói :

- Lúc nãy, ta đang tắm thì nghe tiếng chân của ngươi, vội ẩn vào bụi rậm trên bờ. Ta mải mê xem ngươi tắm nên không để ý đến con trăn! Ngươi đi khỏi thì nó quấn lấy ta!

Nhương Thư xấu hổ đến mức chỉ muốn độn thổ, cúi gầm mặt xuống thì ánh mắt lại vướng phải cái gò nhỏ xum xuê lau lách, càng thêm lúng túng. Chàng cuống lên :

- Thôi ta đi đây!

Và chàng quay gót bước nhanh. Song cô gái rừng rú kia đã hoảng hốt, lướt theo với một tốc độ kinh người, từ phía sau ôm chặt lấy Nhương Thư, miệng van xin :

- Ðừng đi! Cha ta chết đã năm mùa tuyết rơi, và kể từ ấy ta chưa gặp được người nào cả!

Giọng nói khẩn thiết thê lương kia khiến Nhương Thư rùng mình, tưởng tượng ra cảnh tịch mịch đáng sợ của một con người, giữa rừng già chỉ toàn dã thú và cây cối lặng câm. Chàng là kẻ từ bi, nhân hậu, lẽ nào lại để cho một đồng loại phải sống trong cảnh sơ khai, mất dần tính người này.

Nhương Thư bâng khuâng tưởng nhớ ân sư, lòng thanh thản với quyết định của mình, dịu giọng bảo :

- Nàng hãy buông ta ra, đưa ta về nhà xem sao!

Cô gái không hiểu ý, vẫn xiết chặt vòng tay mạnh mẽ, lực đạo lên đến mấy trăm cân. Xem ra nàng ta có sức khỏe thật khác thường.

Cô gái rừng rú ngơ ngẩn hỏi :

- Nhà là gì?

Nhương Thư rầu rĩ đáp :

- Nhà là nơi mà ngươi và thân phụ thường ở đấy!

Cô gái gật gù :

- Té ra cái hang đá còn được gọi là nhà!

Nàng ta buông Nhương Thư ra, nắm tay chàng lôi đi :

- Hãy theo ta!

Ðến lượt thân sau mượt mà với chiếc eo thon lẳn, bờ mông chắc nịch, tròn trịa làm xốn xang đôi mắt Nhương Thư. Chàng chịu hết nổi, giữ cô gái lại, mở bọc hành lý lấy ra bộ y phục cuối cùng, dịu dàng bảo :

- Nàng hãy xuống suối tắm và rửa sạch đất cát rồi mặc quần áo vào!

Cô gái hân hoan nhận lấy, cười khanh khách :

- Cha ta cũng có một bộ màu xanh thẫm giống như vậy! Song ông ta đã mặc khi chết, ta chẳng dám lột ra!

Nàng hớn hở đặt lên tảng đá cạnh bờ rồi xuống suối tắm táp, kỳ cọ. Dĩ nhiên Nhương Thư quay đi, chẳng dám nhìn.

Lát sau, cô gái rừng lúp xúp trong bộ quần áo rộng thùng thình, hiện ra trước mặt chàng. Hai vạt áo vẫn mở toang, còn lưng quần thì được kéo lên đến tận dưới vú, vì cô gái thấp hơn Nhương Thư một cái đầu. Chàng cắn răng khép nhanh hai vạt áo, giật lấy dải thắt lưng, quấn chặt cho nàng ta.

Nhương Thư thoáng giật mình khi thấy dung mạo nàng có nét giống Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Ðại Ngọc, tuy không đẹp bằng. Chàng nghe lòng quặn đau, thở dài nói :

- Ta tên Tần Nhật Phủ, còn nàng tên gì?

Cô nàng nhăn mặt, gãi đầu suy nghĩ trông rất khổ sở :

- Lúc còn sống, phụ thân gọi ta là Anh nhi, còn họ thì ta quên béng mất rồi. Chẳng nhớ Triệu, Ngụy, Tề, Lỗ, Tống gì cả!

Nói xong, Anh nhi mau mắn dẫn Nhương Thư đi về hướng Ðông. Ðộ vài chục dặm thì đến một khách xá cao chừng mười trượng, dường như là sườn Tây của một nếp đất đột ngột nhô cao do địa chấn. Tuy nói là đi nhưng thực ra làm gì có đường xá. Anh nhi di chuyển bằng cách đu dây lêo hay quăng mình từ cành này sang cành khác. Ðộng tác nhanh nhẹn, nhẹ nhàng chẳng thua loài khỉ vượn. Nhương Thư không chịu kém, bắt chước làm theo lòng rất thích thú.

Nhà của Anh nhi là một động khẩu lớn, cao đến hai trượng và rộng cũng chừng ấy. Khu vực trước cửa động là một bãi cỏ phẳng phiu, thưa thớt cây cối nên ánh dương quang lọt được vào trong, khiến khung cảnh thạch động sáng sủa, chẳng đến nỗi âm u.

Nhờ vậy, Nhương Thư sớm nhận ra hai con hổ vằn to lớn đang nằm chễm chệ trên sân động, nhìn mình với ánh mắt nghi hoặc và đầy đe dọa.

Anh nhi thấy chàng giật mình, bèn cười khanh khách :

- Ðừng sợ! Tiểu Thư và Tiểu Hùng là vật nuôi của ta đấy!

Rồi nàng vui vẻ bảo hai con hổ một lớn một nhỏ :

- Hắn chính là khách của ta! Hai ngươi đi ra ngoài để ta tiếp khách!

Hai con ác thú ngoan ngoãn đứng lên, lừng lững đi ra. Lúc ngang qua Nhương Thư, chúng khẽ gầm gừ để thị uy.

Anh nhi đắc ý giới thiệu :

- Con lớn là Tiểu Hùng, cũng giống đực như ngươi vậy! Còn Tiểu Thư là giống cái nên nhỏ hơn! Ba năm trước ta giết cha mẹ chúng rồi bắt chúng về nuôi cho vui!

Nhương Thư nghe nhắc đến đực - cái, chột dạ nhớ lúc mình tắm suối, bị con bé thổ tả này rình. Chàng ậm ừ cho qua chuyện rồi bước vào sâu quan sát.

Trong động không hề có vật dụng gì ngoài hai chiếc phản gỗ thô sơ, xấu xí, một phủ đầy bụi, có lẽ là của người đã chết. May mà Anh nhi không ăn thịt sống vì giữa động có một bếp than, cạnh cắm hai chạng ba nhỏ dùng để gác thanh sắt nướng thịt.

Nhương Thư bước đến vách tường Bắc vì nơi đây có đặt một cỗ quan tài bằng thân cây nguyên vỏ. Nó được xẻ đôi khoét rỗng ruột, đặt tử thi vào rồi trám lại bằng nhựa cây. Với loại gỗ long não này thì chẳng loại mối mọt nào hủy hoại được.

Trên vách đá hai bên linh cữu có khắc đôi liễn, nét bút cứng cáp, hùng mạnh :

Huy ngô bửu kiếm tỳ hưu viễn tích nam san!

Tạm dịch :

“Ta dương buồm gấm, cá dữ dạt ra biển Bắc.

Ta múa gươm thiêng, ác thú chạy tít núi Nam!”

Hai câu đối ngang tàng, cao ngạo này rất quen thuộc với Nhương Thư. Chàng đã thầm đoán ra lai lịch thân phụ của Anh nhi. Ông chính là Cẩm Phàm kiếm khách Ðoan Mộc Toàn, bá chủ Ðộng Ðình hồ và một đoạn sáu trăm dặm sông Trường Giang.

Chương 19: Khê ngạn kiến Vô Y - Bích thượng phùng quỷ kế

Mẫu thân Nhương Thư là người thành Trường Sa, phủ Hồ Nam, nên biết rõ nhân vật này, từng kể cho chàng nghe. Ðoan Mộc Toàn thành danh từ năm hai mươi bốn tuổi, do xuất thân từ nhà đại phú nên cho đóng một chiếc thuyền lớn, trang trí hoa lệ, buồm bằng gấm dầy màu xanh, lúc thì lưỡng lờ trên Ðộng Ðình hồ, lúc xuôi ngược Trường Giang, oai phong lẫm lẫm. Về võ công, Ðoan Mộc Toàn đứng đầu võ lâm phương Nam nhờ pho Thiên Cương kiếm pháp và cả thanh Thiên Cương thần kiếm cứng rắn tuyệt luân.

Ông ta lại anh tuấn hơn người, đúng câu tài mạo song toàn, vì thế mà cao ngạo, khó khăn cả trong việc chọn người phối ngẫu, gần bốn mươi vẫn phòng không chiếc bóng.

Ðột nhiên, đến năm Kỷ Tỵ, nhằm năm chính thống thứ mười bốn, lúc Nhương Thư tròn một tuổi, Cẩm Phàm kiếm khách mắc phải quái bệnh, mặt mũi, thân thể lở lói, u nần như người bị phong cùi. Và sau đó không lâu, Ðoan Mộc Toàn biến mất, chẳng rõ đi đâu.

Nhương Thư đang trầm ngâm suy nghĩ thì Anh nhi đã mang ra một túi nhỏ bằng da nai, trao cho chàng và nói :

- Trước khi chết! Cha ta có dặn rằng khi nào có người nào đến đây thì cho họ xem cái túi này!

Nhương Thư mở nút thắt dây buộc bụng miệng túi, đổ những vật bên trong ra phản, gồm một kim bài có dây đeo, một quyển sách và một mảnh lụa tròn.

Chàng xem xét tấm kim bài vàng óng kia trước, thấy một mặt khắc nổi hai câu liễn giống trên vách, mặt kia là một chiếc thuyền buồm.

Nhương Thư trao thẻ bài ấy cho Anh nhi rồi trải cuộn lụa ra. Nó chính là di thư của Cẩm Phàm kiếm khách, có lẽ được viết bằng câu nhọn chấm máu tươi, vì nơi đây làm gì có bút mực. Ngay mảnh lụa cũng chỉ là một vạt áo cắt ra.

Nội dung của di thư thế này :

“Duyên nhân nhã giám! Lão phu vốn thực là Cẩm Phàm kiếm khách Ðoan Mộc Toàn đất Hồ Nam. Năm tứ thập, lão phu mắc quái chứng, dung mạo bị phá hủy, bèn bỏ Ðộng Ðình hồ đi tìm danh y. Triệu Châu Thần Y đã tận tình điều trị cho lão phu hết nửa năm mà không có kết quả. Mùa xuân năm chính thống thứ mười lăm, Bố Y Thần Toán Tô Hữu Tề đến Triều Châu thăm Tạ thần y, biết chuyện của lão phu liền bói dùm một quẻ. Ông ta khuyên lão phu nên đi lên hướng Bắc, khi nào nghe chim tu hú kêu bảy tiếng thì dừng chân ắt gặp thuốc thang!

Lão phu liền nghe lời họ Tôn nên có mặt ở Cưu Sơn này. Mật của loài Ðộc Hoàng Phong đã chữa lành quái bệnh, song không thể trả lại dung mạo anh tuấn cho lão phu.

Trước khi lâm bệnh, lão phu đã có lời minh sơn thệ hải với Nghi Xương Thần Nữ Khúc Phi Anh. Do vậy, lão phu không dám vác gương mặt lồi lõm, đầy sẹo về Hồ Nam gặp nàng, đành chôn vùi đời mình chốn rừng sâu.

Tám năm sau, trong lúc đi săn thịt, lão phu chợt phát hiện có một đứa bé gái độ bốn tuổi đang sống chung với bầy vượn. Lão phu liền bắt về nuôi, đặt tên là Ðoan Mộc Anh, để tưởng nhớ đến người yêu cũ.

Anh nhi hiếu thảo và ngoan ngoãn đã khiến cuộc đời lão phu có được những ngày hạnh phúc. Năm Anh nhi mười hai tuổi lão phu đã quyết định đưa nó về với nhân quần xã hội, nào ngờ, chưa kịp thực hiện thì lão phu bị một con rắn cực độc cắn vào đùi.

Biết mình không thể sống sót, lão phu xé áo, cắt tay viết bức di thư này để lại. Ai là người hữu duyên vào được chốn tuyệt địa, đọc thư này, xin hãy khai ân đưa đứa con gái nuôi của lão phu về Ðoan Mộc gia trang ở Trường Sa. Túc hạ cứ đưa tấm kim bài và di thư này ra, sẽ được hậu tạ ngàn lượng hoàng kim.

Ðoan Mộc Toàn tái bút!”

Ðọc xong, Nhương Thư giảng giải sơ lược cho Anh nhi nghe rồi dặn dò :

- Nay ta còn phải lên núi Cưu Sơn một chuyến, Anh nhi hãy ở đây chờ đợi vài ngày nữa ta sẽ quay lại rước nàng!

Ðoan Mộc Anh tròn mắt thắc mắc :

- Vách núi dựng đứng cao ngất, làm sao ngươi lên được!

Nhương Thư mỉm cười :

- Sẽ có người thả dây kéo ta lên!

Ðoan Mộc Anh lộ vẻ đắc ý :

- Ta chẳng cần dây cũng lên được. Ngươi thật là dở tệ!

Nhương Thư biết nàng không nói dối vì đã mấy năm sống với bầy vượn, khả năng leo trèo phải khác thường.

Hoàng hôn đã tắt lịm, lát nữa đây không gian sẽ tối đen, Nhương Thư đòi đi ngay. Anh nhi hăng hái :

- Ta sẽ dẫn ngươi đi cho nhanh. Song chỗ hẹn có đặc điểm gì để nhận ra?

Nhương Thư đáp :

- Ban ngày họ cắm lá cờ trắng, ban đêm thì đốt lửa trên đỉnh vách!

Anh nhi cười hì hì :

- Thế thì không lo! Chúng ta ăn cho no cái đã!

Trong thư, đệ tử Cái bang ở Cưu Sơn đã nói rằng Kỵ Ba Thần Quân không thể đóng xong thang trong vòng năm sáu ngày tới. Do vậy, Nhương Thư chẳng gấp lắm, ở lại ăn bữa chiều với Anh nhi. Thực ra bụng chàng cũng đói meo.

Ðoan Mộc Anh thổi bùng bếp than, bẻ thêm củi khô vào để nướng chiếc đùi nai. Gia vị chỉ có loại muối là tro của thảo mộc, chẳng mặn mà cho lắm.

Trong lúc ăn, Nhương Thư vui vẻ nói :

- Anh nhi! Ta sẽ nhận nàng làm em! Từ nay ngươi gọi ta là Tần đại ca và xưng là tiểu muội!

Ðoan Mộc Anh mừng rỡ lập đi lập lại hai từ ấy, miệng cười khúc khích, để lộ hàm răng trắng nhọn của kẻ quen ăn thịt. Trước khi về với Cẩm Phàm kiếm khách, nàng không biết dùng lửa và ăn thịt sống.

Xong bữa, Anh nhi hớn hở đưa đường cho Nhương Thư, chỉ nửa canh giờ sau đã đến bìa rừng, nơi tiếp giáp với sườn phía Bắc núi Cưu Sơn.

Chân vách toàn đá sỏi nên cây cối rất thưa thớt, tạo một khoảng trống lớn, dọc theo chân núi. Nhờ vậy, Nhương Thư đã nhìn thấy đốm lửa lập lòe trên đỉnh vách, cách chỗ chàng đứng không xa.

Nhương Thư dịu dàng bảo :

- Anh nhi hãy về động đi, tối đa là mười ngày ta quay lại đón hiền muội!

Ðoan Mộc Anh gật đầu không nói song ánh mắt hoang dại kia sáng rực niềm tin và nỗi lưu luyến.

Thực ra thì lúc ấy trời đã tối, sương mù từ cánh rừng bốc lên che phủ không gian, song cả Nhương Thư lẫn Ðoan Mộc Anh đều có nhãn lực phi thường nên mới thấy rõ nhau, cũng như cảnh vật.

Nhương Thư rảo bước, lát sau đã đến nơi, phát hiện dưới chân ngọn lửa trên đỉnh núi là một tảng đá khổng lồ, cao nửa trượng, mặt lớn độ chục mảnh chiếu.

Nhương Thư đã mấy lần rơi xuống vực, đối với độ cao cũng âm thầm ngán ngại, chẳng khác chim rừng trúng tên, thấy cành cong là sợ. Chàng nhủ nhầm :

- “Hoàng Nghi Tuyệt quả khéo chọn địa điểm! Lỡ đứt dây, ta rơi xuống tảng đá này thì khó sống!”

Bỗng chàng nghe tiếng động sau lưng, quay lại thì thấy Ðoan Mộc Anh, liền cau mày hỏi :

- Sao Anh muội không chịu về động?

Anh nhi lúng túng đáp :

- Tiểu muội từng té gãy xương vì dây leo đứt, lo cho đại ca.... nên đến đây xem sao?

Nhương Thư phì cười :

- Làm sao hiền muội hứng ta cho được, lúc ấy cả hai cùng chết chứ nào có ích gì? Những người trên kia là bạn của ta, chắc y đã kiểm tra dây kỹ lưỡng, làm sao đứt được!

Ðoan Mộc Anh gật gù :

- Thế thì tốt! Nhưng tiểu muội sẽ ở đây, chờ đại ca lên an toàn rồi mới đi!

Nhương Thư cảm động trước sự quan hoài của cô gái rừng hoang dã, vỗ vai nàng rồi nhảy lên tảng đá. Sợi dây chão lớn bằng cổ tay đã thả sẵn, song Nhương Thư phải báo hiệu rồi mới dám lên. Chàng ngửa cổ vận công nói :

- Tại hạ là Tần Nhật Phủ đây!

Người phía trên đáp ngay :

- Hay quá! Không ngờ Tần đại hiệp lại đến sớm như thế! Mời đại hiệp thượng sơn!

Nhương Thư yên lòng nắm dây chão lần lên, hai chân điểm vào vách, phần dây chão phía dưới được quấn hờ hơn nửa vòng quanh thân để có thể neo mình nghỉ ngơi khi cần. Lực đạo hai cánh tay chàng rất khỏe nên tốc độ tiến khá nhanh, nửa khắc đã đạt độ cao mười trượng, cách đỉnh vách chỉ ba trượng.

Bỗng từ trên đầu chàng có ba người ló ra, tay phải cầm đao, tay trái cầm đuốc soi sáng. Một gã cười khanh khách :

- Tần Nhật Phủ! Ngươi trúng kế của Thần quân rồi!

Nhương Thư chưa kịp cảm nhận được hết sự kinh hoàng thì đối phương vung đao chặt dây chão. Nhớ đến tảng đá dưới chân, Nhương Thư chua xót tự nhủ rằng mình chắc chắn phải chết. Ngay cả khi không rơi trúng tảng đá, chàng cũng khó toàn mạng vì nền đất chân núi cứng rắn.

Nhát đao oan nghiệt kia nhanh đến mức không cho phép chàng phản ứng.

Dây đứt lìa trong tiếng rú phẫn nộ của Nhương Thư. Nỗi sợ hãi khiến chàng co rúm người lại, tay nắm chặt sợi dây, chân kẹp cứng lấy đoạn chão nãy giờ quấn quanh hông.

Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, Nhương Thư chợt thấy sợi dây chão phía dưới căng ra và một lực đạo mãnh mẽ giật phăng thân hình chàng chấn sang mé hữu, rơi xuống tàn lá xum xuê của một cây cổ thụ ở cách tảng đá ba trượng. Chiều cao của cây này đã năm trượng nên khoảng cách rơi giảm bớt đi.

Theo bản năng sinh tồn, Nhương Thư đã dồn toàn bộ công lực bảo vệ thân thể. Sức nặng cộng với đà rơi của chàng đã làm cành cây gãy răng rắc một loạt từ trên ngọn xuống. Dĩ nhiên, da thịt của Nhương Thư chẳng thể lành lặn, rách toạc nhiều đường và mê man bất tỉnh vì đầu bị đập mạnh, nhưng chàng vẫn còn sống.

Trưa hôm sau, Nhương Thư hồi tỉnh, ngỡ ngàng nhận ra mình đang nằm sấp, thân thể lõa lồ, lưng đùi sau vương vướng cái gì đó.

Chàng vừa định ngồi lên thì có tiếng người nhắc nhở :

- Ðại ca cứ nằm im, chờ tiểu muội thay thuốc lá, băng bó xong mới được cử động!

Ðấy là tiếng của Ðoan Mộc Anh. Chàng xấu hổ quá liền nằm im thin thít. Dẫu sao nằm sấp vẫn kín đáo hơn ngồi dậy.

Hồi tưởng lại cảnh tử vong, chàng nhận ra chính Anh nhi đã cứu mạng mình. Nhương Thư liền hỏi :

- Anh muội! Ngươi làm thế nào để cứu được ta vậy?

Ðoan Mộc Anh vừa giã lá cây trong chiếc cối gỗ, vui vẻ giải đáp :

- Ðại ca biết không, tiểu muội chờ đại ca lên được nửa đường, liền nắm đầu dây trèo lên cây cổ thụ, cột chặt vào ngọn rồi giữ lấy và thu dần về!

Nhương Thư hiểu ra, lầm bầm :

- Thảo nào ta có cảm giác phần dây phía dưới hơi căng và cứ tưởng do gió đưa!

Anh nhi nói tiếp :

- Nhờ ánh sáng cây đuốc của bọn ác độc kia mà tiểu muội nhìn thấy nhát dao chặt dây, và kịp thời kéo đại ca về phía mình!

Nhương Thư cảm động nói :

- Hiền muội thực là thông minh và tốt bụng!

Bảy ngày sau, nhờ những thứ thuốc vô danh mà thần diệu trong rừng Cưu Sơn, ngoại thương của Nhương Thư đã hoàn toàn bình phục, song lòng lại nặng trĩu lo âu.

Thứ nhất, chàng lo cho an nguy của Cưu bang. Vụ ám sát chàng chứng tỏ rằng Kỵ Ba Thần Quân đã chiếm được Cưu Sơn, trước khi chàng đến, thư cầu viện chỉ là quỷ kế.Thứ hai, giờ đây chàng lại có thêm trách nhiệm với cô gái bạc mệnh Ðoan Mộc Anh. Trong những ngày qua, Anh nhi đã chăm sóc chàng chẳng chút thẹn thùng, và dù không nói ra nhưng ánh mắt kia ngập tràn niềm yêu thương vô hạn. Nàng đã thẳng thắn từ chối việc về Trường Sa sống với nhà họ Ðoan Mộc và đòi theo chàng mãi mãi.

Nhương Thư hiểu rằng lời thề đồng hành xuống suối vàng với Thúy Sơn sẽ chỉ được thực hiện sau nhiều năm nữa. Hình bóng ba người vợ đang mang thai luôn nhắc nhở chàng không được phép chết. Chẳng thà bất tín chứ không thể bất nhân, bất nghĩa.

Trời sanh đã quá ưu đãi, nhiều lần ban cho chàng mạng sống, sao chàng có thể tự hủy được?

Mười một viên Lân Hỏa Thần Ðạn được Nhương Thư nhét vào ngực áo nên không bị cành cây va chạm vào khi chàng rơi xuống. Ðây cũng là điều xảo diệu khôn lường, vì nếu không gặp Ðoan Mộc Anh, không tặng nàng bộ quần áo cuối cùng thì Nhương Thư đã bỏ túi thần đạn vào tay nải, và chắc chắn chúng sẽ phát nổ, thiêu chết chủ nhân.

Chàng chỉ mang theo ba bộ võ phục, một mặc trên người, hai trong bọc. Khi bỏ một, tặng một, túi hành lý rỗng không, vô dụng, được để lại trong thạch động.

Kẻ gian hùng, mưu đồ bá chủ, thường có tật luyến tài, muốn thu dụng những kẻ anh hùng về làm thủ hạ. Do vậy, Nhương Thư hi vọng bọn Hoàng Nghi Tuyệt vẫn còn bị giam giữ chứ chưa chết.

Lực lượng chính phái ở Cưu Sơn toàn là những cao thủ kiêu dũng, số còn sống sót sau cuộc chiến tất sẽ được Kỵ Ba Thần Quân dùng Nhiếp Hồn đại pháp khống chế chứ không giết cho uổng phí. Tham vọng càng lớn thì càng cần nhiều nhân thủ để thực hiện.

Nghĩ vậy nên Nhương Thư quyết định dọ thám Cưu Sơn một lần xem sao. Chàng hỏi Ðoan Mộc Anh :

- Anh muội! Hôm trước ngươi bảo rằng có thể trèo lên vách đá Cưu Sơn mà không cần người kéo lên! Nay ta muốn nhờ hiền muội giúp ta lên đấy để cứu những người đang bị giam giữ!

Cô gái đã trả lại cho Nhương Thư bộ võ phục, vì bộ trên người chàng đã tan nát khi rơi xuống tàn cây. Dù định lực cao như núi, Nhương Thư cũng phải giữ lễ, bắt Anh nhi khoác vào người mảnh da gấu. Thường thì nàng chỉ mặc nó khi tuyết bắt đầu rơi.

Cẩm Phàm kiếm khách qua đời khi con gái nuôi mới mười hai tuổi đến giờ thì những bộ quần áo da cũ đã không còn vừa vặn, nên Anh nhi phải vụng về tự chế tác lấy. Ðơn giản là nàng lột da con gấu đen, chặt đầu, chặt hai bàn tay, và thiến ngang bụng, rốt cuộc có được chiếc áo khoác lông dài đến quá gối.

Khổ thay, Anh nhi lại chẳng có thói quen khép hai vạt áo nên cái gì cần giấu lại lộ ra. Nhương Thư khổ sở nhắc nhở thì nàng cười khúc khích.

- Thế này cho mát! Vả lại đại ca đã thấy ráo trọi rồi, che giấu làm gì nữa! Còn của đại ca thì tiểu muội nào có lạ gì!

Nhắc lại, khi nghe Nhương Thư đòi lên núi, Ðoan Mộc Anh hăng hái nhận lời :

- Tiểu muội sẽ lên trước, thả dây để đại ca lên sau!

Sợi dây chão oan nghiệt hôm trước vẫn còn nằm vắt vẻo trên tàn cây cổ thụ, tuy thiếu ba trượng song vẫn đủ dùng vì Nhương Thư có thể từ một chỗ cao nào đó tung mình lên chụp lấy đầu dây.

Xế chiều hôm ấy, hai người chuẩn bị lên đường. Anh nhi trút ngay bộ lông gấu ra :

- Leo núi không thể mặc áo lùng tùng, nặng nề này được!

Nhương Thư xốn mắt trước thân hình thon lẳng, khỏe mạnh, đầy sức sống thanh xuân của Anh nhi, vội cởi áo mặc cho nàng.

- Vậy thì hiền muội hãy mặc áo này vào!

Quả là chiếc áo đủ dài để che phủ đến tận gối mà không làm cô gái vướng víu khi leo trèo.

Hai người có mặt ở chỗ cũ, Anh nhi rút lấy đầu dây chão đang lòng thòng, cuộn lại rồi dẫn Nhương Thư đi về hướng Ðông thêm vài chục trượng. Ðoạn vách đá phía này ghồ ghề, có nhiều mẩu lồi, khe nứt, khả dĩ làm điểm tựa đặt chân. Song chỉ có loài khỉ vượn mới có thể vượt vách bằng con đường cheo leo hiểm trở này.

Nhương Thư thầm lo ngại, hỏi nàng :

- Anh muội có chắc lên được hay không?

Ðoan Mộc Anh mỉm cười tự hào :

- Ðại ca yên tâm! Tiểu muội đã lên núi ba bốn lần rồi!

Sương chưa lên, ánh tà dương vẫn còn soi rõ cảnh vật, song trên đỉnh vách không người canh gác nên Nhương Thư chẳng sợ bị phát hiện. Chàng chỉ lo Anh nhi trượt tay mà thôi.

Nhương Thư thở dài :

- Hiền muội lên đi! Ðại ca sẽ cố đỡ nếu ngươi rơi xuống!

Chàng không nói khoác vì biết rõ sức mạnh của mình. Chàng định sẽ nhảy lên hứng lấy Anh nhi. Và dùng xác thân mình làm nệm cho cú rơi của nàng.

Ðoan Mộc Anh chỉ cười, nhanh nhẹn trèo lên. Gió Tây lồng lộng thổi tung vạt áo để lộ đôi mông rám nắng tròn đầy khiến Nhương Thư bật cười.

Chàng cười chính mình vì đa dục mà e dè, sợ hãi đủ điều. Trong khi Anh nhi hồn nhiên, vô tư, trong sáng như trời xanh lồng lộng. Tự bao giờ con người phải dùng y phục để che chở thân thể trước con mắt dục vọng của đồng loại? Y phục trước tiên chỉ là dụng cụ làm ấm da thịt khi lạnh giá, sau đó kín đáo hơn để chống muỗi mòng.

Nhương Thư nghe lòng thanh thản hơn, chăm chú theo dõi bước tiến của cô gái rừng. Anh nhi hành động nhanh nhẹn, chuẩn xác như loài vượn, tứ chi bám vào những điểm tựa nhỏ bé, từng bước vững vàng vượt lên. Nàng không sợ độ cao, như cá không sợ nước nên đã thành công, tất nhiên phải kể đến sức mạnh và sực khéo léo của cuộc sống hoang dã.

Hơn khắc sau, Ðoan Mộc Anh đã an toàn ngồi vắt vẻo trên đỉnh vách, thả sợi dây se bằng vỏ cây xuống. Nó rất nhẹ nên nàng phải cột đầu dây vào một cục đá.

Nhương Thư bắt lấy, cột đầu dây chão vào để Anh nhi kéo lên. Sau khi cố định đầu trên, Anh nhi ra hiệu cho Nhương Thư. Ðoạn vách này thấp hơn chỗ chàng ngộ nạn hai trượng nên Nhương Thư chỉ cần tung mình lên là nắm được ngay.

Có dây, chàng thoăn thoắt trèo, hơn nửa khắc đã đến nơi. Theo kế hoạch, Anh nhi ở lại bảo vệ đường rút lui, còn Nhương Thư lần ra sườn Ðông dọ thám.

Ðoan Mộc Anh có mang theo Thiên Cương thần kiếm, ở chỗ chật hẹp hiểm trở này, dẫu gặp cường địch cũng không đáng ngại. Nhương Thư đã khảo sát võ nghệ của nàng, mừng vì Anh nhi có sức khỏe phi thường và trình độ kiếm pháp khá cao.

Thiên Cương kiếm pháp chủ ở lực đạo mãnh liệt, đòn ra như lôi giáng. Chiêu thức không rườm rà nhưng rất hiểm độc. Nó vốn dành cho nam nhân, nhưng Ðoan Mộc Anh còn khỏe hơn lũ đàn ông. Nàng lại mang bản chất sơn dã, khi đánh nhau thì dữ như cọp.

Nhương Thư tủm tỉm cười kéo vạt áo xốc xếch của Anh nhi xuống và nói :

- Hiền muội đừng vì nóng ruột mà lần theo ta! Nếu để mất sợi dây này là nguy đấy!

Anh nhi nghiêm nghị :

- Tiểu muội chỉ chờ đến lúc bình minh! Ðại ca không ra thì tiểu muội sẽ vào đấy!

Nhương Thư cảm động gật đầu và buột miệng nói đùa :

- Muội ăn mặc thế này mà vác kiếm đánh nhau thì e rằng phe đối phương khó thoát chết!

Anh nhi ngơ ngác không hiểu, nhìn theo bước chân Nhương Thư.

Họ Tần nương theo cây cối, đi vòng ra sườn núi hướng Ðông, lòng ngạc nhiên trước vẻ tĩnh lặng khác thường của nơi này. Dù phe nào chiếm cứ cũng không thể im ắng vì giờ mới là giữa giờ Dậu, chiều đã đi nhưng màn đêm chưa buông.

Nhương Thư mạnh dạn áp sát khu nhà gỗ, không chờ đợi bóng đêm nữa. Nghe ngóng hồi lâu, chàng có thể khẳng định nơi đây chẳng một bóng người.
Nhương Thư thận trọng tiến vào hậu viện, lục soát dần ra ngoài. Tất cả những tài sản có giá trị đều đã bị lấy sạch. May thay, trong phòng nọ còn sót lại hai bộ võ phục cũ kỹ của nam nhân và cả chục bộ võ phục dành cho nữ.

Nhương Thư đoán đây là khuê phòng của vợ chồng Hoàng Nghi Tuyệt. Phe địch toàn đàn ông nên không lấy quần áo đàn bà làm gì. Nghĩ đến Ðoan Mộc Anh, Nhương Thư dồn vài bộ cả nam lẫn nữ vào một vuông vải, đeo lên vai.

Không hề có mùi máu, chứng tỏ nơi đây chẳng xảy ra cuộc chiến. Vậy thì Kỵ Ba Thần Quân đánh chiếm Cưu Sơn bằng cách nào?

Lòng đầy nghi vấn và lo lắng, Nhương Thư đi vào tòa đại sảnh bằng gỗ, trụ sở chính của Cưu bang. Nơi đây cũng còn nguyên vẹn, chỉ mất những vật trang trí.

Nhương Thư chậm chạp đi dọc chiều dài đại sảnh, ra đến cửa chính, đứng dưới mái hiên bâng khuâng nhìn quanh chiếc sân rộng, kéo dài đến tận mép bình đài.

Ðã gần cuối giờ Dậu, không gian nhá nhem, mờ mờ, song trên nền trời vẫn nổi bật hai vật khiến chàng chú ý. Ðó là hai cột gỗ có thanh ngang ở trên như chữ thập, và dường như ai đó đang bị trói ở đấy.

Nhương Thư kinh hãi lao vút về hướng ấy, nhận ra hai thân hình tả tơi, lem luốc, y phục đầy máu khô kia chính là Hoàng Nghi Tuyệt và Từ Thanh Huệ.

Nhương Thư run giọng gọi :

- Hoàng đại huynh! Hoàng đại tẩu!

Song không ai trả lời cả. Nhương Thư sa lệ, vung kiếm đốn cột gỗ trói Hoàng Nghi Tuyệt, chỉ ba bốn nhát đã xong, chàng buông kiếm đỡ lấy cột, từ từ hạ xuống đất.

Trước tiên, chàng thò tay thăm mạch cổ họ Hoàng, hân hoang khôn xiết vì gã còn sống. Nhương Thư đến luôn cây cột thập tự giá thứ hai, càng mừng hơn khi Từ Thanh Huệ cũng chưa chết, dù mạch mong manh như sợi tơ mỏng.

Không thể mạo phạm đến vợ của bằng hữu. Nhương Thư liền đưa cả người lẫn cột vào đại sảnh. Những ngọn đuốc cắm trên tường quá rẻ tiền nên chẳng ai thèm lấy. Chàng đốt cả lên cho sáng sủa rồi chặt dây trói và tìm nước cho hai nạn nhân uống.

Sau đó, Nhương Thư chạy ngược phía sườn Bắc, gọi Ðoan Mộc Anh :

- Anh muội mau đến giúp ta một tay! Phe đối phương đã rút hết cả rồi, chỉ để lại hai người bạn của ta!

Anh nhi đang nóng ruột đợi chờ, mừng rỡ chạy đến ngay. Ðôi mắt cú vọ của chàng nhìn rất rõ cặp đùi ngựa của Anh nhi đang phơi ra trước gió, liền tháo tay nải, nhanh tay lấy ra một chiếc quần dài.

- Hiền muội hãy mặc vào kẻo bạn ta cười đấy!

Ðoan Mộc Anh ngoan ngoãn thêm lời và còn ra vẻ lễ giáo :

- Tiểu muội đã nhớ được lời phụ thân dạy bảo lúc còn thơ, quyết từ nay không lõa thể nữa!

Nàng bỗng mỉm cười và nói thêm một câu :

- Nhưng với đại ca thì tiểu muội chẳng hề e ngại!

Nhương Thư rầu thúi ruột, chẳng hơi đâu mà cãi cọ với con bé kém văn minh này. Chàng nắm tay Anh nhi lôi đi thật nhanh.

Gần nửa đêm, hai nạn nhân đã được đưa về đến thạch động. Tuy đã được cho uống nước lúc còn trên núi. Song giờ đây một bát nước nóng pha mật ong rừng cũng là điều cần thiết. Có lẽ họ đã phải chịu đói khát vài ngày.

Sau đó, Nhương Thư dồn chân khí kiểm tra kinh mạch. Nhận ra có bảy huyệt đạo bị phong tỏa, nên gân cốt vợ chồng họ Hoàng đều mềm nhũn, không còn tính cường cơ. Còn những vết thương rướm máu kia chính là vết roi da, hậu quả của một cuộc tra tấn hành hạ.

Thương tích không nặng song đã làm độc khiến hai người sốt mê man, lại thêm kiệt lực vì chẳng được ăn uống. Họ còn sống là nhờ đã dày công luyện võ, chân nguyên thâm hậu, sức chịu đựng hơn người.

Kỵ Ba Thần Quân quả là tàn ác khi dành cho họ cái chết dần mòn đáng sợ này.

Trước tiên, Nhương Thư truyền chân nguyên, đả thông những huyệt đạo bị bế tắc, thúc đẩy chân khí bản thân họ lưu chuyển.

Thủ pháp điểm huyệt của Kỵ Ba Thần Quân rất quái dị, Nhương Thư tốn rất nhiều sức lực mới giải phá được. Cũng may Nhiên Ðăng tâm pháp vô cùng uyên bác, màu nhiệm, lại thêm tu vi gần hoa giáp nên Nhương Thư đã thành công.

Kinh mạch ổn định song nạn nhân vẫn chưa tỉnh lại được. Nhương Thư tiến hành bước điều trị ngoại thương.

Ðoan Mộc Anh thấy chàng cởi y phục Hoàng Nghi Tuyệt cũng lăng xăng cởi áo Thanh Huệ. Nhương Thư giật mình cản lại :

- Nàng hãy ra ngoài, chờ ta lo xong cho họ Hoàng rồi hãy vào rửa vết thương cho Hoàng đại tẩu!

Anh nhi tròn mắt thắc mắc :

- Sao chúng ta không cùng làm một lúc cho nhanh?

Nhương Thư bối rối giải thích :

- Thân xác của nữ nhân chỉ dành cho trượng phu, người ngoài không được phép nhìn hay chạm đến. Từ nương là vợ của họ Hoàng, ta đâu thể thất lễ được!

Ðoan Mộc Anh gật gù ra vẻ hiểu biết, chậm rãi đi ra ngoài. Ðược vài bước thì quay lại nói :

- Ðại ca! Nếu thế thì tiểu muội chính là vợ của đại ca phải không?

Nhương Thư biết nàng ám chỉ đến việc hai người quá quen thuộc với nhau, liền hổ thẹn, chẳng biết nói sao. May thay, Anh nhi không chờ câu phúc đáp bước đi ngay.

Ttrưa hôm sau, nhờ uống mật ong quí và được đắp lá rừng, Hoàng Nghi Tuyệt đã hồi tỉnh trước., Gã ngơ ngác nhìn đôi nam nữ lạ mặt đang đứng cạnh giường, lát sau mới đủ tỉnh táo để nhận ra đôi lông mày kép quái dị nhất thế gian. Họ Hoàng lộ sắc mừng, thều thào hỏi :

- Tần đại hiệp vẫn còn sống đấy ư? Thế mà Thành lão quỷ bảo rằng Tần đại hiệp đã chết ở sườn núi phía Bắc!

Gã chợt nhớ đến ái thê, lo lắng hỏi thêm :

- Từ nương thế nào rồi? Ðại hiệp có cứu được nàng không?

Nhương Thư gật đầu trấn an :

- Hoàng huynh yên tâm! Ðại tẩu vẫn bình an, đang nằm ở góc xa kia!

Ánh mắt Hoàng Nghi Tuyệt lộ vẻ hân hoan. Gã thở phào :

- Trời cao có mắt nên người tốt chẳng thể chết oan!

Tri ân nhưng không nói lời cảm tạ vốn là thói quen của họ Hoàng.

Nhương Thư cho gã uống một bát mật ong rồi hỗ trợ việc hành công. Ðến chiều thì Hoàng Nghi Tuyệt đã khôi phục được bảy phần sức lực và Từ Thanh Huệ cũng tỉnh lại song vẫn còn rất yếu ớt.

Hoàng Nghi Tuyệt đã có thể ăn uống bình thường, ngấu nghiến thanh toán món thịt nai nướng, song ăn từng ít một cách quãng nhau để khỏi chết vì bội thực như Vương An Thạch.

Trong khoảng cách giữa hai lần ăn, họ Hoàng trò chuyện với ân nhân. Nhương Thư liền hỏi :

- Kỵ Ba Thần Quân chiếm được Cưu Sơn bằng cách nào? Tại hạ thấy chiếc thang khổng lồ kia chưa đóng xong mà?

Hoàng Nghi Tuyệt quắc mắt căm hờn chậm rãi nói :

- Gã khốn kiếp Tiểu Hồ Ly Chung Kim Dục đã bán đứng bọn tại hạ. Hôm rằm tháng tám, gã bỏ thuốc mê vào thức ăn, nước uống khiến đêm ấy mọi người ngủ say như chết, và Sơn Hải bang chiếm được Cưu Sơn mà chẳng tốn một mũi tên. Hôm sau, Kỵ Ba Thần Quân được thư của Vô Ưu Cái bang chủ, biết đại hiệp sẽ đến bằng đường sườn Bắc liền tương kế tựu kế để sát hại.

Nhương Thư hỏi tiếp :

- Lực lượng cao thủ chính phái ở Cưu Sơn đâu cả rồi, có ai bị hại không?

Hoàng Nghi Tuyệt buồn rầu đáp :

- Tất cả đều bị khống chế bằng độc dược và Nhiếp Hồn thuật! Họ sẽ trở về để ám hại năm vị Chưởng môn trong hội đồng võ lâm!

Nhương Thư giật mình kinh hãi :

- Nguy hiểm thực! Tại hạ phải đi ngay để ngăn chặn âm mưu này!

Họ Hoàng chua chát lắc đầu :

- Có lẽ đã quá trễ rồi! Tuy nhiên Thành Vô Chiến không có ý định giết chóc mà chỉ khống chế hội đồng võ lâm! Ðại hội Minh chủ sắp đến, không thể thiếu họ được, và vì Kỵ Ba Thần Quân tin rằng ngôi vị tối cao ấy sẽ thuộc về mình.

Nhương Thư thở phào :

- Thế thì chưa đến nỗi! Tại hạ sẽ tìm người giải tỏa Nhiếp Hồn pháp cho họ!

Và chàng ngạc nhiên hỏi lại :

- Vì sao Hoàng huynh lại biết rõ mọi mưu đồ của Sơn Hải bang như thế?

Hoàng Nghi Tuyệt cười lạnh :

- Tại hạ và chiết thê đã thống lãnh Cửu Bang tiêu diệt khá nhiều thủ hạ Sơn Hải bang nên bị Thành Vô Chiến căm ghét, không cho phép sống sót. Trong lúc giam cầm, tên cẩu tặc Tiểu Hồ Ly đã thường xuyên đến đánh đập và chọc tức bằng cách tiết lộ kế hoạch của Kỵ Ba Thần Quân. Gã này cho rằng bọn ta chẳng thể thoát chết mà kể lạí!

Nhương Thư phẫn nộ trước sự phản bội đê tiện của Chung Kim Dục, an ủi họ Hoàng :

- Tại hạ thề rằng sẽ bắt Tiểu Hồ Ly đền tội!

Chợt nhớ đến an nguy của ba người vợ bụng mang dạ chửa, Nhương Thư cau mày bảo :

- Dẫu sao tại hạ cũng phải đi ngay Lạc Dương xem tình hình thế nào. Hoàng huynh và đại tẩu cứ ở đây dưỡng thương bình phục hãy lên đường. Hẹn gặp nhau ở Tổng đà Cái bang!

Hoàng Nghi Tuyệt liền bàn :

- Nếu Vô Ưu Cái đã bị hại thì Lạc Dương chẳng còn là nơi an toàn! Mong đại hiệp thận trọng khi vào thành! Ngoài cửa Ðông có tòa Toàn Chân đạo quán của Từ Phong chân nhân Khúc Hoàn Sơn. Ông ta quen biết với tiên sư tất sẽ vui lòng cho Tần đại hiệp trú chân. Vợ chồng tại hạ cũng sẽ đến đấy tìm đại hiệp.

Sáng hôm sau, tức hai mươi bảy tháng tám, Nhương Thư dặn dò Ðoan Mộc Anh chăm sóc vợ chồng Hoàng Nghi Tuyệt rồi rời thạch động.

Chàng trở lại quán trọ trong thôn nghèo hôm trước lấy ngựa. Lão điếm chủ thực thà vẫn chưa bán mất tuấn mã của vị khách thất tung. Nhương Thư đền bù cho lão bằng tờ ngân phiếu trăm lượng bạch ngân.

Chương 20: Hải Long bất khả đương Lân Hỏa - Giai đắc vô thu lưỡng vĩnh hoan

Mười ngày sau có một kỵ sĩ võ phục xanh, áo choàng cùng màu, nón tre rộng vành sùm sụp, từ đường quan đạo Đông Tây, rẽ phải về hướng bờ sông Lạc Hà.

Ngã ba này cách cửa Đông thành Lạc Dương bốn dặm, dẫn đến Toàn Chân đạo quán của Từ Phong chân nhân! Lão Quán chủ già nua lẩm cẩm ấy dường như thích chết đói về cõi tiên hơn là giàu sang, do vậy, đạo quán rộng thênh thang này thưa vắng bóng tín đồ.

Không người cúng dường, đền miếu tiêu điều tàn tạ, cỏ mọc đầy những khe gạch trên sân. Cả hàng rào mộc cẩn quanh đạo quán cũng không được cắt xén tỉa tót nên mọc um tùm, loạn xạ, chẳng mỹ quan chút nào cả.

Song chính vì vậy mà đạo quán là nơi rất thích hợp cho những kẻ muốn tránh né con mắt của người ngoài. Nếu không, thiên hạ sẽ thắc mắc vì sao chốn tu hành lại có ba ả giai nhân đang thơ thẩn ngắm những bụi cúc tháng chín, và thỉnh thoảng thở dài thườn thượt.

Cổng tam quan của đạo quán luôn khép chặt, cài then cẩn thận khiến chàng kỵ sĩ áo xanh thẫm kia phải đập cửa vào gọi vang :

- Lão Quán chủ! Đệ tử có việc xin cầu kiến!

Ba ả vú to kia vội vã chuồn ngay vào khu nhà phía sau đại điện của Đạo quán. Họ đi đến một phòng lớn, nơi có bốn lão nhân tuổi từ năm mươi mấy đến tám chục đang ngồi đàm đạo.

Người già nhất mặc đạo bào, râu tóc bạc như sương, da mặt nhăn nheo, mũi lân đỏ ửng vì thích rượu hơn thích trà. Ông ta chính là Từ Phong chân nhân Khúc Hoàn Sơn.

Ba lão còn lại là người quen của chúng ta: Ngọa Long Tú Sĩ, Triều Chân Thần Y và Dạ Quân Tử. Vậy thì ba thiếu phụ kia phải chăng là chị em nhà họ Điền?

- Thưa đúng thế! Uyển Xuân luôn nhanh nhảu, hớt hải nói :

- Khúc quán chủ! Có một gã đến đập cửa, gọi đích danh ông đấy!

Mã Lan tủm tỉm tiếp lời :

- Phải chăng lại là người đến đòi tiền rượu? Tiện nữ sẵn sàng trả hết giùm Chân nhân để đền ơn tương trợ.

Khúc Hoàn Sơn ngượng ngùng nói lầu bầu :

- Làm gì còn chủ nợ nữa! Hôm trước Mã thí chủ đưa bạc, bần đạo đã thanh toán xong xuôi cả rồi!

Ngọa Long Tú Sĩ cau mày :

- Lạ thực! Sao gã không xưng danh tính nhỉ! Đạo trưởng nên mang theo kiếm, bọn lão phu sẽ ẩn mình theo dõi, sẵn sàng tiếp ứng!

Từ Phong chân nhân nghe lời quân sư, về đạo xá lấy vũ khí, rồi mới ra mổ cổng.

Nhương Thư đã được Nghi Tuyệt miêu tả kỹ dung mạo của Khúc quán chủ nên yên tâm vòng tay nói :

- Bẩm Quán chủ! Đệ tử là Tần Nhật Phủ, bằng hữu của Hoàng Nghi Tuyệt! Y bảo Quán chủ là chỗ thâm giao với Đao Đế, có thể cưu mang đệ tử vài ngày!

Trong lúc chàng nói thì Chân nhân đã nhận ra cặp lông mày kép. Song ông vẫn không vồn vã mà lại lạnh lùng đáp :

- Bổn quán nghèo nàn, thùng gạo lại vừa cạn, chẳng dám chiêu đãi bậc quí nhân. Phiền công tử vào thành tìm khách sạn mà ở.

Nhương Thư đang ngớ người trước thái độ bất ngờ này thì Chân nhân hỏi bâng quơ :

- Sao bần đạo nghe lời đồn công tử và họ Hoàng đều đã bị Kỵ Ba Thần Quân giết chết ở Cưu Sơn?

Nhương Thư hiểu ngay lão sợ chàng là của giả, liền vui vẻ lột nón :

- Đệ tử chính thực Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách, xin đạo trưởng cứ kiểm tra lông mày khắc rõ!

Từ Phong chân nhân đang lưỡng lự thì có tiếng người vọng ra :

- Chân nhân kêu gã giao vũ khí rồi mới vào khách xá! Đấy là giọng nói của Ngọa Long Tú Sĩ, lão ta cùng hai người kia đã nấp trong gian mé hữu của Đại điện thờ Tam Thánh để quan sát. Đây cũng là nơi tiếp khách của đạo quán.

Nhương Thư nghe giọng quen quen nhưng không dám khẳng định, vội trao kiếm cho Khúc quán chủ, cột ngựa vào gốc đào già gần đấy, đi theo ông ta.

Khách xá rất tối vì cửa sổ đóng chặt còn cửa chính chỉ hé mở. Nhương Thư vừa bước chân vào thì bị một thanh kiếm đặt lên cần cổ.

Và cửa sổ được mở toang ra, giúp Nhương Thư nhận rõ ba người trong nhà. Chàng nghiêm nghị hỏi :

- Vì sao tam vị lại có mặt nơi này?

Ngọa Long Tú Sĩ bước đến giật đôi lông mày lệch của chàng, cào thử da mặt rồi thở phào :

- Tạ ơn Hoàng thiên! Công tử vẫn còn sống!

Dạ Quân Tử nghe vậy liền thu kiếm về, nhìn Nhương Thư bằng ánh mắt kỳ lạ. Lão chậm rãi nói :

- Lão phu vẫn không tin ngươi yểu mệnh!

Năm người ngồ xuống quanh bàn. Nhương Thư thầm lo ngại khi thấy ba lão này không ở Tạ gia trang mà lại đến đây. Chàng trầm giọng bảo :

- Chuyện thoát chết của tại hạ rất dài, phiền chư vị nói sơ tình hình ở Tạ gia trang và Tổng đà Cái bang trước đã! Tần mỗ rất nóng lòng được biết!

Ngọa Long Tú Sĩ thở dài thườn thượt, nói với giọng thê lương :

- Hai nơi ấy đều bị Sơn Hải bang khống chế cả rồi! Vô Ưu Cái và ba người vợ góa của Tần Nhương Thư đều bị giết!

Nhương Thư giật bắn mình, mắt trợn ngược, người run lên bần bật. Hung tin này như sét đánh ngang tai khiến chàng không sao trấn tĩnh được.

Nước mắt úa ra và Nhương Thư bật khóc thành tiếng :

- Ôi Hầu lão ca! Ôi ba người vợ yêu của ta! Tần mỗ còn sống ngày làm gì nữa?

Bốn lão già nhìn nhau đắc ý, và Dạ Quân Tử lạnh lùng nói :

- Ba nàng ấy là vợ của Tần Nhương Thư chứ không phải là vợ của ngươi!

Nhương Thư chẳng còn giấu diếm làm gì nữa, mếu máo đáp :

- Quách lão ca! Tiểu đệ đây chính là Nhương Thư đây! Ải Thần Quân đã dùng tà pháp và thuật cắt da, đắp thịt biến tiểu đệ thành Tần Nhật Phủ. Nhờ Thúy Sơn mà tiểu đệ mới tỉnh táo, khôi phục lại ký ức!

Nhắc đến người yêu dấu đã vong mạng chàng càng đau đớn. Thê tử đền chết sạch, Nhương Thư điên dại gào lên :

- Vợ con ta đâu?

Khí huyết nghịch hành, Nhương Thư hộc máu, ngã ngửa ra sàn nhà mê man bất động!

Quách Tàn Bôi cuống lên, trách móc Ngọa Long Tú Sĩ :

- Mưu kế này của lão thực quá độc ác, liệu y có sao không?

Tạ thần y ngồi xuống thăm mạch, mỉm cười trấn an :

- Chẳng có gì đáng lo! Giờ ta cứ đưa gã vào giao cho ba ả họ Điền!

Thực ra thì ba nàng đã vác ngực ra đến. Giọng nói quen thuộc của chồng khiến họ giật mình, có cảm giác như Nhương Thư đang gọi. Họ không còn tin vào việc hồn ma của chàng hiện về gieo giống, mà tin lời Ngọa Long Tú Sĩ đã khẳng định: Nhật Phủ là Nhương Thư!

Ba ả nhận ra Nhật Phủ nằm trên sàn, ngơ ngác và lo lắng. Lỗ tú sĩ đắc ý giải thích :

- Lão phu giả đò báo rằng các nàng đã chết, thế là hắn khóc lóc thú nhận mình là Nhương Thư, bị Ải Thần Quân đổi xác.

Ba nàng mừng rỡ ngồi xuống xuốt ve mặt trượng phu, nước mắt tuôn dàn dụa.

Quách Tàn Bồi cằn nhằn :

- Để lão phu bồng gã về phòng cho các ngươi tha hồ ôm ấp!

Nửa khắc sau, Nhương Thư hồi tỉnh, nhìn ba gương mặt thân yêu, mơ màng nói :

- Thì ra ta đã đuổi kịp các nàng! Thế Thúy Sơn đâu? Chẳng lẽ lại đầu thai nhanh như vậy, không chờ đợi ta?

Uyển Xuân phì cười :

- Bọn thiếp còn sống chứ đã chết đâu! Chàng bị Ngọa Long Tú Sĩ lừa đấy!

Nhương Thư ngồi bật dậy, ôm chầm lấy họ, cảm nhận được hơi ấm và mùi hương da thịt mới tin là thực! Chàng ngượng ngùng nói :

- Ta thực có lỗi với các nàng!

Rồi chàng hôn hít họ để đền bù. Bạch Cúc bỗng nói :

- Dung mạo này xa lạ quá, khiến thiếp chẳng yên lòng! Tướng công mao tìm lão chết tiệt Ải Thần Quân, bắt lão ta trả lại gương mặt cũ!

Uyển Xuân cũng tức tối chửi um :

- Mả cha cái lão lùn độc ác, bày ra trò quái dị này!

Nhương Thư vội bịt miệng nàng và nghiêm giọng :

- Thực ra Thần quân chính là ân nhân của ta. Ông đã cứu ta thoát khỏi vực sâu, dốc túi truyền tuyệt học. Ta đã nhớ ra việc ông nhận ta làm nghĩa tử, xưng hô cha con suốt nữa năm trời! Còn trò tinh quái này hoàn toàn không có ác ý!

Mã Lan hiền lành nói :

- Tướng công dạy chí phải! Bọn thiếp sẽ tôn kính Thần quân như cha chồng!

Nhương Thư hài lòng xoa bụng nàng và hỏi :

- Con của chúng ta thế nào rồi?

Mã Lan đỏ mặt đáp lí nhí :

- Thai mới hai tháng, chưa có động tĩnh gì cả, song Tạ thần y bảo rằng chúng rất khỏe mạnh!

Uyển Xuân và Bạch Cúc cũng vén áo, phụng phịu bắt Nhương Thư áp tai nghe ngóng. Tất nhiên chàng chẳng thấy con mình lên tiếng, chỉ nóng mặt vì làn da mịn màng, nồng ấm!

Nhưng chàng nhớ đến Vô Ưu Cái, cau mày hỏi :

- Ba nàng không sao song Hầu lão ca thì thế nào?

Bạch Cúc rầu rĩ đáp :

- Kỵ Ba Thần Quân oán hận Hầu bang chủ nhất nên đã rất nặng tay, biến Bang chủ Cái bang thành một kẻ si ngốc, ai nói gì cũng gật, suốt ngày cười nói huyên thuyên. Do vậy, Hầu lão ca mất chức Bang chủ, người thay ông ta là Truyền Công trưởng lão Thiết Thủ Cái Phùng Đông Tuân! Họ Phùng tính tình tham lam, từ lâu đã mê chức Bang chủ, nay hết lòng trung thành với Thành Vô Chiến để giữ ghế!

Tình tự, âu yếm hàng canh giờ, Nhương Thư hơi ngượng, rời phòng đi tìm các lão nhân. Ba cô vợ cũng sửa sang y phục, đi theo chẳng chịu rời!

Thấy nụ cười giễu cợt trên môi của Dạ Quân Tử, Nhương Thư hổ thẹn đánh trống lảng :

- Chẳng hay sức khoẻ bá mẫu thế nào mà Quách lão ca quay lại sớm vậy?

Quách Tàn Bôi cười đáp :

- Gia mẫu vẫn khang kiện! Ngươi hãy ngồi xuống đây, bọn lão phu nóng lòng muốn nghe kể lại chuyến đi Cuuu Sơn!

Nhương Thư tuân mệnh, thuật lại mọi sự, chỉ giấu diếm Đoan Mộc Anh suốt ngày lõa thể, nhỡn nhơ đây đó!

Song ba ả họ Điền nghe nói Anh nhi cưu mang chồng mình, liền tỏ lòng tri ân, rộng lượng. Uyển Xuân vui vẻ nói :

- Tội nghiệp cho Đoan Mộc Anh, chờ nàng đến bọn thiếp sẽ hết lòng chăm sóc, bù đắp cho tuổi thơ bất hạnh của nàng!

Bạch Cúc thì đánh phủ đầu :

- Nếu tướng công muốn có người bầu bạn lúc bọn thiếp thai nghén thì cũng chẳng sao!

Nào ngờ Nhương Thư tán thành ngay :

- Các nàng đã rộng lượng thì ta cũng không từ chối!

Bạch Cúc tức đến nghẹn họng, rủa thầm mình dại miệng nên se dây tự trói, sắc mặt lúc đỏ, lúc xanh trông rất tức cười!

Nhương Thư thản nhiên như không thấy, hỏi Lỗ Đăng Hân :

- Mong tiên sinh cho tại hạ rõ cục diện giang hồ hiện nay!
Chàng rất tin tưởng tài trí Tú sĩ và đã nghe Uyển Xuân kể lý do tại sao họ có mặt nơi này. Tối ngày hai mươi lăm tháng tám, Lỗ Đăng Hân nghe chim cú kêu, động tâm gieo quẻ, rồi quả quyết bắt cả nhà phải rời ngay Tạ gia trang. Lúc này các vị đại phu đã về quê thăm nhà vì không còn việc gì để làm, Dạ Quân Tử thì mới đến được hai ngày. Mười gã hóa tử hộ trang cũng đi theo họ.

Quách Tàn Bôi không tin tài tiên tri của họ Lỗ nên ẩn bên ngoài chờ đợi. Lát sau, lão hộc tốc chạy đến đạo quán báo tin Tạ gia trang đã bị một đội quân bịt mặt tấn công. Không gặp ai, chúng giận dữ phóng hỏa rồi mới chịu rút!

Trước đó vài khắc, Vô Ưu Cái đã bị Kỵ Ba Thần Quân ám hại nhờ nội ứng trong Tổng đà!

Nhắc lại, nghe Nhương Thư hỏi thế, Lỗ tú sĩ vuốt chòm râu đẹp, tư lự đáp :

- Giờ đây, chúng ta là những người duy nhất còn tự do. Cả đạo quân của Bất Trí thư sinh và Thiết Kình Ngư đi tiếp viện Cưu Sơn cũng bị Sơn Hải bang mai phục, bắt sống gần hết. Năm phái Bạch đạo hầu như bị thúc thủ vì Chưởng môn bị khống chế! Trước tình hình này, thiển ý của lão phu là phải giết cho được Kỵ Ba Thần Quân trong đại hội võ lâm. Nếu không làm được điều ấy thì chúng ta sẽ đi Sơn Tây tìm Ải Thần Quân. Chỉ có lão ta mới giải nổi Nhiếp Hồn thuật của lão quỷ. Khi cứu được hội đồng võ lâm rồi, chúng ta huy động lực lượng đệ tử năm phái tiến đánh Tế Nam!

Nhương Thư cùng họ thảo luận kỹ càng từng chi tiết của kế hoạch. Sau bữa cơn chiều lại bàn tiếp, tận cuối canh hai mới xong. Ba nàng góa phụ hụt nóng lòng được gần chồng nên chửi rủa thầm bốn lão già thiếu tế nhị kia!

Về đến phòng, Nhương Thư nằm xóng xoài trên giường, mắt lim dim ra chiều muốn ngủ. Uyển Xuân hờn mát :

- Tướng công không còn yêu thương bọn thiếp nữa sao?

Nhương Thư cười gượng :

- Các nàng đang thai kỳ mà!

Mã Lan hổ thẹn nói lí nhí :

- Tạ thần y có dạy rằng từ tháng thứ sáu mới phải kiêng cữ ái ân!

Nhương Thư mừng rỡ :

- May quá! Thế mà ta tưởng lại phải ngủ một mình!

Đêm ấy, khách xá của Toàn Chân đạo quán tràn ngập hương sắc tình yêu, bọn Mã Lan phỉ tình cá nước, không biết rằng Nhương Thư chẳng vui trọn vẹn vì thương nhớ Thúy Sơn!

Lần này đại hội võ lâm được tổ chức chân núi Tung Sơn. Trước kỳ hạn vài ngày, anh hùng hảo hán Tam Sơn Ngũ Nhạc đã tràn ngập huyện thành Đăng Phong, sáng rằm thánh chín tề tựu đông đảo trước lôi đài, tổng cộng con số lên đến nửa vạn người!

Khung cảnh đại hội đã quá quen thuộc nên tác giả chẳng miêu tả làm gì cho rườm rà, xin đi ngay vào cuộc!

Trước đây, hội đồng võ lâm dùng đại hội như kế sách giáng ma, thừa cơ tiêu diệt Âm Sơn lão tổ và Kỵ Ba Thần Quân qua bàn tay Tần Nhật Phủ. Vô Ưu Cái vẫn còn giữ túi chất độc thấm qua máu của Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan, kẻ đã chết ở Chính Khí trang, nên định thi hành kế dĩ độc công độc. Tứ Mi Kiếm Khách chỉ cần đả thương được hai lão quỷ là thành công!

Nay hội đồng võ lâm bị Thần quân khống chế dĩ nhiên tình hình đã khác, Nhương Thư phải đem thực tài ra để diệt ác, không trông chờ vào ai được nữa!

Ban giám đài vẫn là năm vị Chưởng môn Bạch đạo. Thiết Thủ Cái ngồi vào ghế của Hầu Mộ Thiên, gương mặt thịt nung núc, đầy vẻ tham lam, ti tiện kia tươi rói. Có lẽ lão là kẻ duy nhất của hội đồng không bị trúng tà nhãn Nhiếp Hồn và kỳ độc.

Chỉ có đệ tử năm phái mới biết rõ âm mưu sâu độc của Kỵ Ba Thần Quân, song chẳng được phép nói ra, vì ngay trong nội bộ từng phái cũng có người của Sơn Hải bang.

Sau khi chiếm được Cưu Sơn, biết được lộ trình quân tiếp viện, Thành lão quỷ đã bố trí phục binh bắt gọn đạo quân hai trăm người của Bất Trí thư sinh.

Những tù binh này nhanh chóng khuất phục bởi Nhiếp Hồn thuật, rầm rộ quay về căn cứ, báo rằng phòng tuyến Cưu Sơn không thể giữ được vì thiếu lương thực, họ phải phá vây đào tẩu.

Năm phái chưa kịp nghi ngờ giả chân thì bị đánh úp, Chưởng môn bị uy hiếp!

Tình hình chung là thế, giờ ta hãy nghe Thiết Thủ Cái cất giọng the thé khai mạc đại hội. Lập tức có người lên tiếng hỏi :

- Hầu Mộ Thiên đâu mà Cái bang lại đưa lão gà mái này ra?

Quần hùng ồ lên cười hưởng ứng, vì mấy ngày qua đã phong thanh biết được dã tâm của Kỵ Ba Thần Quân! Mười gã hóa tử bảo vệ Tạ gia trang đều là đồ đệ của Hầu Mộ Thiên nên không chịu bó tay, theo kế sách của Ngọa Long Tú Sĩ mà phục thù. Họ trút bỏ lớp ăn mày, trà trộn vào lực lượng hào khách, khéo léo rỉ tai bôi nhọ Sơn Hải bang!

Còn người dám xách mé tân Bang chủ Cái bang chính là Hồng Diện Tôn Giả Hoàng Huy Do. Lão ta đi Quỳnh Châu, Hải Nam mới vừa về đến, chưa biết ất giáp gì, kể cả cái chết của Thúy Sơn!

Thiết Thủ Cái Phùng Đông Tuấn giận tím mặt nhưng không dám phát tác, giả vờ buồn rầu đáp :

- Bẩm Hoàng tôn giả! Hầu đại ca bỗng nhiên phát cuồng, không còn năng lực lãnh đạo nên lão phu phải thay ông ta mà chấp chưởng Cái bang!

Hồng Diện Tôn Giả giật mình suy nghĩ, quay sang hỏi han những người đứng chung quanh. Họ nhao nhao tranh nhau thuật lại những điều mình biết khiến gương mặt đỏ như son của Hoàng lão tái mét.

Tôn giả đau đớn rú lên :

- Sơn nhi!

Nhưng không hiểu sao ông chợt sững sờ, miệng há hốc, đứng im không biểu hiện gì thêm, dường như đã có chủ ý!

Và khi nghe Kỵ Ba Thần Quân cho thủ hạ lên đăng ký thì Tôn giả cũng sang sảng bảo Thiết Thủ Cái ghi tên mình vào.

Đại hội ồn ào hẳn lên, mừng vì sẽ được chứng kiến cuộc so tài của hai đại nhân vật, một là bá chủ biển Đông, một là Vũ Nội đệ tứ thần!

Nhưng hai lão già bất tử ấy đã xuất hiện thì còn ai dám đăng ký nữa? Cho nên cử tọ xôn xao hẳn lên vì có một kẻ không sợ chết đã dũng cảm đối đầu với hai đại kỳ nhân.

Ông ta cao giọng tuyên bố :

- Lão phu là Cẩm Phàm kiếm khách Đoan Mộc Toàn xin được tham gia tranh cử!

Thế là những kẻ biết chuyện năm xưa trên chiếc thuyền buồm gấm xanh liền thao thao kể cho người chung quanh nghe về quá khứ của Đoan Mộc Toàn! Còn những người đứng gần thì lấm lét liếc nhìn gương mặt đoan chính, đầy xẹo của lão già áo đen đội nón rộng vành kia! Lũ thẹo xấu xí ấy chắc là dấu vết của quái bệnh năm nào!

Dũng khí của Đoan Mộc Toàn đã khiến cho tám chín cao thủ phương xa phấn khởi lên tiếng tham dự! Vậy là tổng số ứng viên chẵn mười hai!

Có lẽ ban giám đài, mà đại diện là Thiết Thủ Cái, làm theo ý của Kỵ Ba Thần Quân nên đã xếp Cẩm Phàm kiếm khách đánh trận khai mạc. Đối thủ Đoan Mộc Toàn là Thanh Hải Thiết Thương Mạc Lôi, tuổi độ ngũ thập!

Thần auân thượng đài sau cùng, và lại chẳng phải cặp với Hồng Diện Tôn Giả. Thành Vô Chiến muốn có lợi thế tìm hiểu võ công các ứng viên để dễ bề đối phó. Lão gian hùng như Tào Tháo, lại đa nghi không kém nên luôn thận trọng!

Nghe gọi tên, Cẩm Phàm kiếm khách lột nón rộng vành và tay nải trên vai, trao cho ả đệ tử trẻ tuổi đứng bên cạnh.

Ả này khá xinh đẹp, nước da đen dòn, mắt láo liên luôn ánh lên vẻ thích thú, tò mò, cứ như kẻ quê mùa được lên chốn đô hội vậy.

Đoan Mộc Toàn cởi cả chiếc áo choàng, nãy giờ khép kín ngực, để lộ tấm kim bài lừng danh, lớn cỡ bàn tay. Và thanh kiếm có vỏ bằng bạc nạm lam ngọc, chuôi khảm vàng kia chính là Thiên Cương thần kiếm!

Đoan Mộc Toàn chậm rãi bước lên lôi đài, trông oai phong lẫm liệt nhưng thật đáng thương vì gương mặt lồi lõm những vết sẹo. Ai đó buông tiếng thở dài như tiếc cho một kẻ ngày xưa đã từng nổi tiếng mỹ nam tử!

Vẻ xấu xa lồ lộ đã khiến thiên hạ không chú ý đến đôi thùy châu đầy đặn của Đoan Mộc Toàn! Thực ra, đôi tai ấy cũng đã được che giấu khéo léo bằng vài món tóc mai lòa xòa cạnh thái dương. Thảng hoặc có người nhìn thấy thì cũng chẳng lấy làm lạ, vì họ không nhớ rõ dung mạo của một kẻ thất tung gần ba chục năm!

Tướng Phật nhĩ không hiếm nên không ai nghi ngờ Đoan Mộc Toàn là Tần Nhật Phủ, hoặc Tần Nhương Thư.

Hai gã có tướng trường thọ này đã yểu mệnh chết sạch rồi! Kỵ Ba Thần Quân cũng tin như thế!

Giờ chúng ta quay sang quan sát bá chủ đất Thanh Hải, vùng cao nguyên phía Tây của Trung Hoa, nơi phát nguyên hai con sông vĩ đại là Hoàng Hà, Trường Giang và có hồ nước mặn lớn nhất nước!

Thanh Hải Thiết Thương Mạc Lôi có thân hình cao lớn nên mới dám chọn trường thương làm vũ khí. Lão cao hơn Cẩm Phàm kiếm khách hần một cái đầu!

Về dung mạo thì cũng đủ tai, mắt, mũi, miệng. Song tất cả đều lớn hơn người thường vì đầu lão khá to, xứng với thân hình.

Chiếc mũi lân của họ Mãc lộ rõ những gân máu, kết quả của một đời làm bạn với Tửu Thần. Song, ở nơi giá lạnh như Thanh Hải, ai cũng uống rượu cả, cho nên chẳng có gì đáng trách!

Thanh Hải rộng mênh mông, chỉ toàn núi đồi và đồng cỏ, dân cư thưa thớt, gồm nhiều bộ tộc thiểu số như : Tạng, Hồi, Thổ, Mông, Tác Ta, Mông Cổ, Ca Dắc... người Hán thì ít!

Và dường như Mạc Lôi có mẹ là người thổ thì phải, vì mắt của lão to mà sâu! Hôm nay, Thanh Hãi Thần Thương mặc võ phục màu trắng viền chỉ bạc, bó sát thân hình lực lưỡng, cuồn cuộn những bắp thịt. Xem ra, lão ta còn oai vệ hơn Cẩm Phàm kiếm khách một bậc.

Chốn thị thành lắm kẻ gian ngoa nhưng đất thô lậu thường chỉ sản sinh những kẻ thực thà chất phát, Mạc Lôi ồm ồm nói :

- Này Đoan Mộc Toàn! Ta trẻ hơn lão mười mấy tuổi, lại to con hơn nên nhường lão xuất thủ trước!Câu này nghe có lý nhưng lại đi ngược với quy củ võ lâm Trung Nguyên, cũng như lễ tôn trưởng vì thế quần hùng phá lên cười sằng sặc!

Thiết Thủ Cái mau miệng can thiệp vào vui vẻ giải thích cho họ Mạc nghe :

- Túc hạ sai rồi! Người trẻ tuổi hơn luôn phải ra tay trước để tỏ lòng tôn kính tuổi tác, và tránh cho đối phương cái tiếng ỷ già hiếp trẻ!

Thiết Thương ôm bụng cười hô hố :

- Lão ngu quá! Càng già càng yếu, gân cốt nhão nhoẹt, đến vợ còn chê, làm sao ăn hiếp những người trẻ tuổi được? Bằng chứng là ta đây hồi trẻ có bốn vợ mà còn chê ít, giờ chỉ đủ sức cho một mà thôi!

Họ Mạc còn quay xuống hỏi cử tọa :

- Dám hỏi chư vị, ta nói thế có đúng không?

Khách giang hồ phần lớn đều có tính thích ồn ào, hiếu sự, liền cười vang và đồng thanh khen phải!

Thiết Thủ Cái bị gã quê mùa họ Mạc chê là ngu, lại đưa ra lý sự cùn, liền bực bội nói :

- Ngươi mới là kẻ dốt nát! Người luyện võ, càng già công lực càng thâm hậu, làm sao thua đám thanh niên được?

Thanh Hải Thiết Thương trợn mắt sừng sộ :

- Này lão chết tiệt kia! Lão chê ai là dốt nát? Ta nói có sách, mách có chứng, bằng cớ xác thực đàng hoàng! Lần này Mạc mỗ vào Trung Nguyên sớm vài tháng, đi du ngoạn khắp nơi, nghe kể về hai gã trai trẻ là Tần Nhương Thư và Tần Nhật Phủ. Họ chưa đến ba mươi mà thay nhau tiêu diệt toàn là những lão già khú đế. Gần đây nhất là việc Tần Nhật Phủ một mình một kiếm giết Âm Sơn lão tổ, đấy không phải là trẻ mạnh hơn già hay sao?

Thiết Thủ Cái cứng họng trước lập luận vững chắc và bằng chứng hiển nhiên của Thiết Thương. Còn đám hào kiệt trẻ tuổi thì hoan hô như sấm dậy đồng thanh gọi vang hai cái tên Tần Nhương Thư và Tần Nhật Phủ.

Hai cao thủ bạc mệnh ắt đều là thần tượng của giới trẻ. Họ đã nung đúc hào khí cho những mái đầu xanh mới tập tễnh dấn bước giang hồ!

Chẳng cần nói chư vị độc giả chắc cũng biết Cẩm Phàm kiếm khách là do Tần Nhương Thư giả dạng. Sự có mặt của tay cao thủ dịch dung là Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi đã khiến Ngọa Long Tú Sĩ nghĩ ra mưu kế này!

Nhương Thư thấy mến vị bá chủ ngốc nghếch đất Thanh Hải, quyết định nhẹ tay với lão. Chàng sẽ đả bại họ Mạc chứ không gây thương tích. Từ ngày Thúy Sơn thiệt mạng, Nhương Thư xuất thủ tàn nhẫn hơn trước bội phần.

Không muốn kéo dài cuộc cãi cọ vui vẻ nhưng vô nghĩa này, Nhương Thư lên tiếng :

- Mạc túc hạ đã nói thế thì lão phu xin phép ra tay trước!

Thanh Hải Thiết Thương hớn hở gật đầu :

- Có thế chứ! Thì ra tôn giá có đầu óc hơn cái lão ăn mày dốt nát, ngoan cố kia! Xin mời!

Thiết Thủ Cái tức điên người, nhưng không thể đối đáp vì cuộc chiến đã bắt đầu.

Cẩm Phàm kiếm khách rút nhanh thanh Thiên Cương thần kiếm đen trùi trũi, lừng danh nhờ độ bền chắc, chặt vào đá cũng không gãy, không mẻ! Có điều nó nặng gấp rưỡi kiếm thường, phải là người có công lực thâm hậu mới dám dùng.

Nhương Thư đã ngày đêm nghiên cứu pho Thiên Cương kiếm pháp, và làm quen với thanh kiếm mới. Chàng không nhất thiết phải đạt đến tinh tuý mà chỉ cần nắm bắt lộ số để che mắt thiên hạ. Khi giao đấu, chàng sẽ thi triển Phật Đăng kiếm pháp và Huyền Không kiếm pháp là chủ yếu.

Giờ đây, Nhương Thư xông vào tấn công Mạc Lôi bằng một chiêu kiếm đơn giản, ít biến hóa nhưng nhanh và cực kỳ mãnh liệt.

Họ Mạc mỉm cười khinh thị, múa cây thương sắc dài nửa trượng một xích, giải phá chiêu kiếm của đối thủ bằng chín thế điểm tựa sấm sét. Cũng hư kiếm, trường thương lợi hại nhất ở những thức đâm.

Sắt chạm sắt, Thiết Thương nghe hai cánh tay chấn động, thầm kinh ngạc trước sức mạnh của Cẩm Phàm kiếm khách, tự hỏi chẳng lẽ đúng là “Gừng càng già càng cay”.

Song không phải vì thế mà ngán sợ, kẻ cứng đầu đất Thanh Hải hùng hổ ra sức phản kích, trường thương vù vù xé gió, vun vút bay lượn trong gió thu, công thủ đều có đủ.

Người đánh trường thương thường cầm vũ khí bằng hai tay, ra đòn bằng lực đạo của song thủ và cả sức của vai, lưng nên động tác uyển chuyển trông rất dũng mãnh và đẹp mắt. Những bước tiến thoái, tọa tấn của họ Mạc nhanh nhẹn và vững chắc, biểu hiện một bản lãnh đã dầy công rèn luyện. Lão lại có sức khỏe phi thường của gân cốt và những bắp thịt to lớn hộ trợ nên càng lợi hại!

Quần hào vô cùng thán phục đường trường thương của vị khách thô lỗ miền Tây, vỗ tay hoan hô ầm ĩ. Họ tin rằng Thiết Thương sẽ thắng vì Cẩm Phàm kiếm khách chỉ vờn quanh ngoài tầm thương, không sao áp sát được. Thương dài kiếm ngắn, không nhập nội thì làm sao Đoan Mộc Toàn đả thương được đối phương? Ngược lại, Mạc Lôi hoàn toàn có thể trạm vào người kẻ địch!

Tiếng sắt thép va chạm liên hồi, hòa với tiếng quát tháo thị uy của họ Mạc. Lão tên Lôi nên thích những âm thanh đầy tính đe dọa!

Nhưng dù đã trổ hết nghề, quát tháo khô cả cổ mà Thiết Thương vẫn không sao phá thủng được lưới kiếm của đối phương. Cẩm Phàm kiếm khách cứ ung dung, nhởn nhơ như cánh bướm, đánh bạt những đường thương hiểm hóc và vũ bão của đối thủ. Dường như Đoan Mộc Toàn muốn dùng kế Dĩ Dật Đãi Lao, chờ Mạc Lôi kiết sức mới phản công!

Sau ba khắc quay cuồng múa may, biểu diễn thương pháp, Mạc Lôi nghe hai cánh tay mỏi nhừ, đòn ra bắt đầu chậm hơn, mồ hôi ướt sũng bộ võ phục bằng gấm đắt tiền. Nhưng chẳng lẽ mở miệng nhận bại khi chưa ai rách áo hay thọ thương, Mạc Lôi cắn răng cầm cự đến cùng!

Cẩm Phàm kiếm khách bắt đầu phản công, bảo kiếm bay vun vút, tạo nên màn sương đan mờ mù mịt. Tiếng vũ khí va chạm giờ đây gấp gáp, rượt đuổi nhau tạo cảm giác như chỉ là một chuỗi ngân dài. Mạc Lôi kinh hoàng nhận ra mũi thương của mình đã bị trường kiếm phong tỏa. Và khi lão nỗ lực thọc một đòn chí mạng vào ngực Đoan Mộc Toàn thì đối phương xoay người lẹ như chớp, tránh khỏi đường thương hiểm ác, rồi ập đến.

Gương mặt xấu xí ghê rợn của Cẩm Phàm kiếm khách lù lù hiện ra trước mặt khiến Mạc Lôi thất kinh hồn vía. Sau đó lão nghe hai huyệt Kiên Tĩnh trên vai, hai huyệt Phục Thố trên đùi đau nhói. Nhưng quan trọng là hạ nang cũng lạnh toát và đau ghê rợn.

Kẻ học thức còn giải khuây bằng cầm, kỳ, thi, họa, hoặc đọc sách, còn người thô mạng, dốt đặc như Mạc Lôi thì chỉ có hai thú vui duy nhất là rượu và đàn bà!

Rượu thì lão bắt đầu hạn chế vì lục phủ ngũ tạng không cho phép, chỉ có khoản lăn lóc trên giường là xem ra trường cửu, an toàn nhất!

Mạc Lôi lại vừa lấy thêm người vợ thứ năm trẻ trung và hấp dẫn nên mới dắt vào Trung Thổ du ngoạn, sẵn hưởng tuần trăng mật luôn! Tình cờ gặp Đại hội võ lâm, lão đưa Ngũ phu nhân đến xem, bỗng nổi hứng khoe tài với người đẹp, để chứng tỏ mình còn rất khoẻ mạnh anh hùng! Giờ đây nếu bị thương vào chỗ nghiệt thì còn gì đời trai nữa? Không những vợ mới bỏ lão mà cả bốn mụ vợ cũ cũng sẽ đay nghiến chê bai. Hơn nữa, họ Mạc chưa có con trai nối dõi!

Nói thì dài nhưng thực ra tất cả những viễn cảnh tối rắm ấy hiện ra trong khoảnh khắc, Mạc Lôi sợ đến nỗi rú lên thảm khốc, cứ như bị đâm thủng ngực vậy.

Huyệt Kiên Tĩnh trúng đòn thì hai tay không cầm nổi Thiết Thương. Huyệt Phục Thố bị điểm thì song cước nhũn ra, và Mạc Lôi quỵ xuống, ngã sấp mặt xuống sàn lôi đài.

Lão là người chất phác, thẳng như ruột ngựa nên chẳng che giấu nỗi tuyệt vọng, bật khóc ồ ồ :

- Thế là toi đời ta rồi! Chẳng thà lão đâm chết ta đi chứ sao lại đánh vào chỗ ấy? Ngọc hành bị vỡ thì ta tuyệt tự và bị vợ bỏ ngay! ôi Ngũ nương ơi! Ta quả là ngu dại khi không chịu nghe lời nàng, thượng đài cho khổ thân!

Quần hùng phá lên cười nhưng cũng có một số phẫn nộ chửi vang :

- Thật là đê tiện! Sao lại có thứ võ công đánh vào hạ thể thế này? Thật là nhục nhã cho Trung Thổ?

Và người vợ thứ năm của Mạc Lôi đã trèo lên được mộc đài, ôm chồng khóc ngất :

- Tướng công ơi! ông không nghe lời thiếp nên mới khổ thế này! Tuần trăng mật chưa qua mà tướng công nỡ để thiếp rơi vào cảnh có chồng cũng như không thì tội cho thiếp lắm!

Mạc Lôi nghe lời than khóc ấy cũng thập phần thống khổ rống lên như cha chết!

Chợt lão phát hiện huyệt Kiên Tĩnh trên vai phải đã mở, liền thò xuống bụng dưới sờ nắn thử. Thấy của quý vẫn nguyên vẹn, chẳng đứt, chẳng vỡ, lão mừng đến phát cuồng, thét vang :

- Ngũ nương ơi! Nó vẫn an toàn, không sứt mẻ gì cả!

Hai huyệt Phục Thố ở chân cũng đã mở, Mạc Lôi lồm cồm đứng lên, miệng cười toe toét, tay lần cởi giải quần :

- Này bà nó cứ xem lại, đừng than khóc nữa!

Mấy ngàn khách quan chiến ôm bụng cười lăn lóc, cười đến nôn ruột. Và ai đó còn hối thúc :

- Ngươi cởi quần thì ta thưởng cho trăm lượng!

Thiết Thủ Cái sợ lão ngốc vùng sơn dã kia cởi thực liền quát lớn :

- Mạc Lôi không được làm càn!

Họ Mạc tỉnh ra, cười hề hề thắt lại giải quần, nhặt thương sắt, dắt cô vợ trẻ hạ đài. Vừa đi lão vừa nói với nàng :

- Về khách điếm cái đã, ở đây đông người quá!

Bỗng lão sực nhớ ra, quay lại vái Cẩm Phàm kiếm khách :

- Cảm tạ lão huynh đã nương tay! Ơn này ta chẳng dám quên, khi nào có dịp ghé thăm Thánh Đức Linh Cáp, nhớ đến Mạc gia trang để ta báo đáp!

Nhương Thư tủm tỉm đáp :

- Lão phu sẽ đến!

Chàng cũng hạ đài, mừng vì sự tình kết thúc vui vẻ. Nãy giờ chàng cũng lo ngay ngáy, tưởng mình đã lỡ tay, mới luyện vài ngày nên Nhương Thư đánh chiêu “Thiên Cương Ngũ Điểm” không được chuẩn xác. Đúng ra, nhát kiếm thứ năm nhắm vào huyệt Khí Xung phía trên hạ thể.

May mà chàng chỉ dùng kiếm kình để điểm huyệt nên trúng đâu cũng chẳng sao. Bởi ngọc hành là chỗ nhậy cảm nên Mạc Lôi bị đau nhiều, tưởng mình bị thiến!

Nhương Thư đã luyện kiếm đến mức chân khí lú ra khỏi mũi kiếm một ngón tay. Giá chàng có đủ hoa giáp công lực thì kiếm kình hóa kiếm khí, dài đến cả gang!

Trên lôi đài, Thiết Thủ Cái đã tuyên bố Đoan Mộc Toàn thắng trận và mời cặp thứ hai thượng đài.

Trận đấu này diễn ra giữa Xích Phong Thần Đao Ô Mã Cách, cao thủ nội Mông với Tháp Thành Quỷ Trượng Lỗ Xích, người Tây Vực!

Hai lão ngang tài, ngang sức lại có đấu pháp thận trọng nên cuộc chiến kéo dài lê thê, đến tận giờ Ngọ cũng chưa phân thắng bại. Quần hùng chán ngán và đói bụng nên la ó um sùm, chê bai hai đấu sĩ là chết nhát.

Khách giang hồ thường biết nhiều ngôn ngữ, có kẻ dùng tiếng Mông, tiếng Duy Ngô Nhĩ thóa mạ thậm tệ, khiến hai vị anh hùng sơn dã kia bực bội bãi chiến, quay xuống chửi lại. Cuối cùng họ cũng vì đói khát mà bỏ cuộc, rời Đại hội, một không quay trở lại nữa!

Chiều hôm ấy cặp thứ ba thượng đài, tái diễn tình trạng buổi sáng, song khá hơn vì giữa giờ Thân có một ứng viên tự nhận bại.

Thế là mất toi một ngày mà chỉ tổ chức được ba trận đấu. Để khỏi làm mất thì giờ của chư vị, tác giả xin đi ngay sang ngày thứ tư, khi mà chỉ còn ba đại cao thủ là Kỵ Ba Thần Quân, Hồng Diện Tôn Giả, và Cẩm Phàm kiếm khách. Họ vẫn chưa chạm trán lần nào, do sự sắp xếp của ban Giám Đài.

Sáng mười tám tháng chín, Thiết Thủ Cái bang sang sảng mời Kỵ Ba Thần Quân Thành Vô Chiến và Hồng Diện Tôn Giả Hoàng Huy Do thượng đài.

Thần quân đánh giá cao Tôn giả, xem thường Cẩm Phàm kiếm khách nên muốn dồn sức lực đả bại cường địch trước, lỡ lão có bị thọ thương thì hôm sau cũng đủ sức thanh toán kẻ yếu là Đoan Mộc Toàn.

Hội đồng võ lâm như lũ rối, răm rắp tuân lệnh Thần quân!

Thành Vô Chiến kém Hồng Diện Tôn Giả một tuổi, không có vinh dự đứng trong hàng ngũ Tứ thần vì hùng cứ biển Đông, ít khi vào Trung thổ. Giang hồ gọi lão và Ải Thần Quân là Võ Lâm nhị quân!

Có thể trước đây võ công của Thành Vô Chiến chẳng bằng Hoàng lão, song kẻ sĩ ba ngày không gặp đã khác, thì sau bốn mươi năm lại càng khó biết hơn thua!

Vô Ưu Cái đã cho điều tra, loáng thoáng biết được việc Thần quân tìm được kỳ hoa dị quả trên một hòn đảo hoang, công lực tăng tiến vượt bậc, râu bạc hóa đen mun. Tiếc rằng kỳ trân kia không làm mọc lại được mái tóc trên chiến đầu hói bóng. Vài sợi còn sót lại chắc cũng hồi xuân song nham nhở như lông chó, vì thế Thần quân đã cạo quách chúng đi.

Lạ thay, với chiếc đầy trọc lóc và bộ râu rồng rậm rạp, đen nhánh, trông họ Thành càng oai vệ, đẹp lão. Râu đen thì chân mày cũng phải đen, cứ như hai lưỡi kiếm xếch ngược lên góc trán. Thần quân có thêm một tướng tốt là chiếc mũi Huyền Đảm, tựa trái mật treo giữa mặt. Tiếc rằng, miệng lão lại nhỏ xíu, môi mỏng tanh, khiến kẻ ác mồm gọi là cái đít vịt!

Hôm nay, Kỵ Ba Thần Quân ăn mặc rất thanh lịch. Thân hình dong dỏng cao, khá rắn chắc, được tôn vinh bởi bộ trường bào xám bằng gấm thượng hạng may rất khéo, cùng chiếc áo choàng lưng dầy màu vàng nhạt.

Hồng Diện Tôn Giả thì xuề xòa với chiếc áo thụng, nửa giống tăng bào, nữa giống đạo bào, có màu của tơ tằm mới chưa nhuộm. Hai ống tay áo dài thượt như chạm đất kia chính là vũ khí của ông. Tuy y phục giản dị nhưng thân hình khôi vĩ, gương mặt đỏ như son và màu trắng đáng kính của râu tóc đã tạo cho Tôn giả một thần khí phi phàm.

Hoàng Huy Du cười bảo :

- Này lão đầu quả dưa kia! Sao lão không tiếp tục vùng vậy ngoài biển rộng bao la, vào mảnh đất chật hẹp này để làm gì?

Cử tòa cười ồ vì nhận ra đầu của Kỵ Ba Thần Quân rất giống một quả dưa gang!

Thành Vô Chiến gian hùng cái thế, thâm trầm như biển cả, chẳng hề bị khích nộ, cười nhạt đáp :

- Lão phu là người Trung Thổ, lúc già nhớ cố hương nên quay về, có gì là lạ!

Tôn giả bỗng thở dài, mặt buồn thiu :

- Người già mà nhớ quê là điềm sắp chết rồi đấy! Thành lão đệ mau về Quảng Đông sắp xếp hậu sự, còn chần chừ ở đây làm gì nữa? Lão phu xin đưa tiền điếu trước để lão đệ có lộ phí mà đi đường!

Cái vẻ “mèo khóc chuột” tinh quái của Tôn giả đã khiến quần hùng cười nôn tuột, và làm cho Kỵ Ba Thần Quân biến sắc. Họ Thành lạnh lùng gắt :

- Đánh đi! Đừng nói nhảm nữa!

Về qui cũ thì Thần quân nhỏ tuổi hơn mới là người được phép ra táy trước. Song Hồng Diện Tôn Giả đã bất ngờ muối mặt, lao vào tấn công như sấm sét.

Ông xuất ngay chiêu “Cẩm Tụ Tế Thiên” (Tay áo gấm che trời). Đôi ống tay áo dệt nên màn tụ ảnh mờ mờ, tụ kình mãnh liệt như thác lũ chụp lấy đối phương!

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau