TẦN NHƯỢNG THƯ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước

Chương con truyện Tần nhượng thư - Chương 21 - Chương 25

Chương 21: Hải Long bất khả đương Lân Hỏa - Giai đắc vô thu lưỡng vĩnh hoan

Bị mất tiên cơ, Thần quân tái mặt rút đao múa tít, thủ nhiều hơn công, biến mất trong màn đao quang vàng óng. Màu vàng sang trọng này được tạo ra bởi thanh Long Giáp kim đao oai trấn biển Đông.

Gọi là Long Giáp vì trên thân đao không trơn láng mà được khắc hàng ngàn mảnh vẩy rồng tinh xảo. Đao được mạ vàng rực rỡ. Vì ngoài lý do diêm dúa, Long Giáp đao còn tiềm tàng sát cơ! Từng chiếc vây được đánh bóng loáng kia là từng mảnh gương nhỏ xíu phản chiếu ánh dương quang, làm lóa mắt địch thủ!

Thành Vô Chiến là kẻ biết lợi dụng từng lợi thế nhỏ để thắng địch.

Nhưng sáng nay, mặt trời mùa thu vùng Hoa Bắc chỉ nhạt nhòa, không phát huy được tính năng của bảo đao, và kẻ địch của Thần quân lại là bậc kỳ lão võ lâm, đang chiếm tiên cơ nhờ ra đòn đột ngột.

Đôi ống tay áo chứa đầy chân khí liên tiếp giáng hàng chục nhát nặng như búa tạ vào lưới đao, cuối cùng, ống tay bên hữu vươn được đến ngực của Thần quân. Tiếng tụ kình nổ vào da thịt vang rất rõ. Thành Vô Chiến bị đẩy lùi một trượng, khóe miệng rỉ máu, vạt áo ngực rách toang để lộ áo trong trong trơn bóng, có màu đen mốc là lạ.

Hồng Diện Tôn Giả thấy đối phương trúng một đòn chí tử mà không hề hấn gì lòng rất chán ngán. Ông hiểu rằng Kỵ Ba Thần Quân có công lực thâm hậu hơn mình, và đã luyện thành cương khí hộ thân, vì áo giáp da cá kia chống được đao kiếm nhưng không chống được chưởng kình!

Do vậy, chẳng chờ Thiết Thủ Cái quát tháo, bênh vực gà nhà, Tôn giả nhảy lùi ngay sừng sộ nói :

- Này Thành Vô Chiến! Sao lão dám mặt áo giáp thượng đài?

Quần hùng nghe vậy liền nhao nhao phản đối kịch liệt, quên cả việc Tôn giả là người phạm quy trước!

Thiết Thủ Cái vội lên tiếng :

- Đây là sơ xuất của lão phu, quên không đọc điều lệ giao đấu nên Thành bang chủ không biết. Nay đã lỡ rồi, chẳng cần kiêng kỵ nữa, ai có giáp cứ mặc, ai có ám khí cứ tung ra, thế là công bằng!

Quần hào nghe lão nói ngang, giận dữ la ó, chửi bới vang trời. Song Hồng Diện Tôn Giả ra hiệu cho họ im lặng rồi rút cây trâm đồng trên búi tóc xuống, vui vẻ nói :

- Thế cũng được! Lão phu sẽ có dịp để thi triển tuyệt kỹ Huyền Hư Đoạt Mệnh thần trâm. Công phu này lão phu luyện thành đã lâu mà chẳng chỗ dùng!

Vẻ hân hoan, đắc ý của Tôn giả đã khiến Thần quân thầm lo ngại! Phải chăng đúng là tuyệt kỹ phóng trâm kia rất lợi hại nên Hoàng lão mới hí hửng như vậy?

Thiết Thủ Cái hắng giọng bảo :

- Giờ nhị vị hãy đấu lại, xem như chiêu lúc nãy không tính! Lần này Thành bang chủ sẽ xuất thủ trước vì ông ta có niên kỷ nhỏ hơn Hoàng tiền bối!

Tôn giả trợn mắt :

- Phế ngôn! Ai bảo ngươi rằng lão phu già hơn Thành Vô Chiến?

Thiết Thủ Cái tái mặt cãi :

- Cả võ lâm đều biết Kỵ Ba Thần Quân bảy mươi chín tuổi, sinh năm Đinh Sửu tức năm Hồng Võ thứ ba mươi. Còn Hoàng tiền bối năm nay chẵn tám chục, sinh năm Bính Tý!

Hồng Diện Tôn Giả cười khanh khách :

- Sai rồi, thực ra lão phu tuổi Mậu Dần, năm nay bảy mươi tám, cầm tinh con cọp nên tướng mão lão phu mới khôi vị, oai vệ thế này, bộ ngươi mù sao không thấy?

Quần hào vốn chán ghét kẻ tiểu nhân ti tiện, làm chó săn cho Thần quân như Thiết Thủ Cái, nên đã đồng thanh tán thành lập luận của Hoàng Huy Do. Ai đó còn mỉa mai :

- Tinh nào tướng ấy! Chỉ nhìn sơ Phùng bang chủ là tại hạ biết ngay ông cầm tinh con chó!

Câu này có ý chửi Thiết Thủ Cái là chó săn, khiến lão tức điên người chửi lại :

- Cha mi mới là chó! Người kia đốp chát ngay :

- Đúng vậy! Cha ta ngủ với mẹ lão nên bà ấy đẻ ra chó!

Cử tọa cười hô hố, ngoác miệng tham gia cuộc khẩu chiến, khiến Đại hội võ lâm chẳng còn ra thể thống gì nữa!

Kỵ Ba Thần Quân chẳng thèm bận tâm, lạnh lùng bảo Tôn giả :

- Lão phu chấp ngươi xuất thủ trước đấy!

Hoàng lão mỉm cười lướt đến tấn công. Thấy trận đấu đã tiếp diễn, quần hùng mới chịu ngậm miệng để theo dõi.

Hai bậc cao thủ lão thành đem hết sở học ra tranh tài, thân hình di chuyển, đảo lộn nhanh như gió, bóng vào tơ chạm ánh hoàng kim vang lên tiếng kình phong ào ạt và tiếng đao rít lên như xé lụa.

Kỵ Ba Thần Quân e ngại mũi trâm đồng trong tay hữu của Tôn giả nên phong thủ phần đầu và hạ thể rất kín đáo. Từ vai đến thắt lưng đã có giao bì giáp che chở nên không đáng ngại.

Thành Vô Chiến ngày càng phát huy được ưu thế về công lực và vũ khí, đao quang dàn dụa sát khí, sau ba trăm chiêu đã chém rách tay áo của đối thủ.

Hồng Diện Tôn Giả tự lượng sức mình không giết nổi đối phương, có đánh nữa chỉ thêm nguy, liền ra đòn tối hậu, một thắng một thua. Ông xuất chiêu “Cẩm Trung Châm Xuất” (Trong gấm lòi kim), tay áo phất như quét, điểm hơn trăm thức, công phá lưới đao và uy hiếp thân trên họ Thành.

Tuy có bảo y và cương khi song Thần quân chẳng dám xem thường những đòn trời giáng của Thiết Tụ, vì khi thân hình bị chấn động, đẩy lùi, đường đao khó tránh được việc lộ sơ hở làm mồi cho cho mũi trâm đồng!

Bởi thế, Kỵ Ba Thần Quân dồn toàn lực vào tuyệt chiêu “Ngự Ba Trảm Quái”, Long Giáp đao loang nhanh như thiểm điện, chặn đứng mọi thế công của kẻ địch, đồng thời xen lẫn những đòn đâm hiểm ác. Thì ra Thành Vô Chiến đã đưa cả tinh túy của kiếm thuật vào đao pháp của mình!

Hồng Diện Tôn Giả bị chiêu đao hùng mạnh và ảo diệu đẩy lùi liên tiếp, không hạ đài thì khó toàn tính mạng. Song đột nhiên, hai ống tay áo của ông đứt rời khỏi vai, bay đến quấn lấy đao Thần quân. Chúng bị chém te tua nhưng cũng đã làm Thành Vô Chiến giật mình và đường đao chậm lại.

Ngay lúc ấy, mũi trâm đồng trong tay hữu Hoàng tôn giả bay ra, nhắm vào bụng dưới của họ Thành. Nhưng lão ác ma bản lãnh trùm đời, đâu dễ bị chết nhanh như thế, đã kịp lách người tránh né, chỉ bị mũi trâm cắm vào dùi phải, và không phải là chỗ nhược.

Sau đó, Thần quân tiếp tục tràn tới quyết lấy mạng đối thủ. Nhưng Hồng Diện Tôn Giả đã khôn ngoan tung mình rơi xuống đất nhận bại. Ông cười khanh khách :

- Lão phu xin đầu hàng! Mong Thần quân trả lại chiếc trâm cài tóc. Nó tuy không đáng một xu nhưng lại là kỷ vật của lão phu đấy!

Vết thương không sâu, không đau đớn nên kẻ chiến thắng tỏ vẻ rộng lượng, rút ra ném trả cho chủ nhân. Trong lúc nhận sự hoan nghênh của cử tọa, Thành lão quỷ ngấm ngầm vận công không thấy hiện tượng trúng độc mới yên tâm!

Thiết Thủ Cái hớn hở công bố kết quả trận đấu và kính cẩn hỏi Kỵ Ba Thần Quân :

- Thành bang chủ có cần nghỉ ngơi đến sáng mai hay tham gia trận chiến chót ngay chiều nay?

Quần hào không muốn thêm sở hụi một ngày nữa nên ồn ào đề nghị đánh trận bế mạc vào lúc giữa giờ Mùi!

Thầm nghĩ mình có dư thời gian để phục hồi trọn vẹn công lực, Kỵ Ba Thần Quân đồng ý!

Đúng như chương trình, giữa giờ Mùi, hai ứng viên của trận chung kết có mặt trên lôi đài.

Kỵ Ba Thần Quân đã vất bỏ bộ trường bào buổi sáng, thay vào bằng bộ khác rực rỡ hơn. Màu hồng xem ra rất thích hợp với lễ đăng quang ngôi vị Minh chủ võ lâm!

Phần Cẩm Phàm kiếm khách dường như không tin tưởng vào chiến thắng chiều nay nên mặc chiếc áo màu xanh đã cũ, hàm ý nhạt mùi danh lợi, có thua cũng chẳng sao!

Chiếc đạo quang trên đầu Đoan Mộc Toàn cũng chẳng mới mẻ gì, hình thêu Thái Cực sổ chỉ, phai màu trông thật tang thương!

Cách ăn mặc ấy quả tương ứng với mảnh kim bài mờ đục trên ngực.

Kỵ Ba Thần Quân đắc ý vì phong thái mình tôn quý, oai nghiêm hơn hẳn đối phương, liền tủm tỉm hỏi đùa :

- Té ra mấy chục năm nay túc hạ bỏ nhà đi tu tiên! Nhưng sao giờ lại động lòng trần tục muốn là Minh chủ võ lâm?

Đoan Mộc Toàn ung dung đáp :

- Bần đạo được Chân Võ Đế Quân giáng mộng, dạy rằng phải về ngay Trung Thổ sát cánh cùng đồng đạo giáng ma! Bần đạo đi ngang đây tình cờ gặp đại hội này. Thuận duyên mà tham gia thế thôi!

Nghe đối phương ám chỉ mình là tà ma, Thần quân bẽ mặt không hỏi thêm.

Thiết Thủ Cái hằng giọng tuyên bố :

- Mời Đoan Mộc đạo trưởng xuất thủ trước!

Cẩm Phàm kiếm khách gật đầu, rút kiếm thủ thế, bàn tay tả bắt kiếm đặt xéo trước ngực. Tay áo đạo bào rộng và dài quá bàn tay nên lão phải lắc cổ tay mấy lần để kiếm ấn có thể ló ra ngoài.

Kỵ Ba Thần Quân luôn cảnh giác cao độ, chiếu đôi nhãn thần sắc bén quan sát từng cử chỉ nhỏ song không phát hiện điều khả nghi!

Đoan Mộc Toàn đã bắt đầu tấn công bằng thứ kiếm pháp Thiên Cương rất quen mắt. Thần quân điềm nhiên đón đỡ bằng chiêu đao với bảy thành công lực chiếm ngay được chút ưu thế. Lão thầm đoán Đoan Mộc Toàn có tối đa là năm chục năm chân khí, dù tuổi đã sáu mươi tám.

Chẳng còn gì để e ngại, Kỵ Ba Thần Quân yên tâm biểu diễn đao pháp, cống hiến cho khán giả những chiêu hoa mỹ để họ phải tâm phục khẩu phục tân Minh chủ.

Sát khi của chiêu đao không nhiều, công thủ lưỡng toàn, đao kình vù vù chấn động không gian, song chỉ có mục đích thị uy và bắt đối phương phải thối lui dần và rơi khỏi lôi đài.

Đấu pháp này vừa biểu lộ được tài hoa, vừa thể hiện tính thượng võ và cũng rất an toàn vì lưới đao kín như bưng!

Quần hùng vỗ tay reo hò, ngây ngất trước đao pháp kỳ diệu và hùng mạnh của Thần quân, khiến lão hài lòng.

Cẩm Phàm kiếm khách bị bức tường thép kia dồn ép, cứ phải lùi mãi, dù đã cố chi trì để trụ lại.

Lôi đài rất rộng, bề ngang là mười trượng, vị chi mỗi bên có được năm, song lùi mãi cũng phải đến nơi. Sau hơn hai trăm chiêu, Đoan Mộc Toàn chỉ còn cách mép đài đúng một trượng, bị thanh Long Đao Giáp đánh văng ngay ra!

Cẩm Phàm kiếm khách rơi đúng ngay mép lôi đài, đứng trên gờ nhỏ là thanh gỗ kẹp ván lót sàn đài. Gờ này chạy suốt bốn mép lôi đài, còn có tác dụng trang trí và báo cho kẻ đang giật lùi biết mình sắp rơi.

Thấy đối phương lảo đảo thân hình như sắp té, Kỵ Ba Thần Quân đình bộ, đình thủ để chứng tỏ tư cách cao thượng của một bậc Minh chủ đáng kính! Vinh quang dễ khiến người ta ngây ngất, hơn cả rượu ngon!

Cáo già cũng có lúc sa bẫy, bậc trí giả đôi khi mắc sai lầm! Kỵ Ba Thần Quân đã không thoát được kế hoạch tinh vi của Ngọa Long Tú Sĩ! Lỗ Đăng Hân từng phục vụ Thành Vô Chiến nên hiểu rõ bản chất, tính tình của lão ta!

Cẩm Phàm kiếm khách, tức Tần Nhương Thư, đang loạng choạng bỗng bất ngờ bay vút lại trở lại, kiếm quang phủ mờ thân ảnh, kiếm kình rít vo vo.

Thuật Ngự kiếm lợi hại ở chỗ đường gươm nhanh tựa sao sa, hàng trăm thế thức đánh ra chỉ trong khoảnh khắc, hỗ trợ với đà nhảy nên Nhương Thư lao nhanh như tia chớp.

Nụ cười tươi rói trên miệng Kỵ Ba Thần Quân héo đi và đôi mắt lộ rõ sự kinh hoàng. Trực giác của kẻ lão luyện sớm đánh hơi được mùi vị tử vong.

Chiếc tán thép đan mờ chưa đến thì năm điểm nhỏ màu vàng óng đã đi tiên phong, ba nhắm thân trên, hai nhắm hạ thể. Thành Vô Chiến phản ứng mau lẹ tuyệt luân, thò tả thủ quét hai mũi ám khí phải dưới, mặc kệ ba mũi Thượng bàn vì ỷ vào bảo giáp. Đồng thời hữu thủ chặt xéo một đường đao mãnh liệt vào lưới kiếm đang ập đến.

Trong lúc cấp bách mà Thần quân dồn được năm thành lực đạo cũng đã là điều phi thường. Đao kiếm chạm nhau, họ Thành khôn ngoan mượn lực phản chấn lùi chếch sang bên tả nửa trượng. Năm thành công lực của lão đã tương đương với cả tu vi của Nhương Thư.

Nhưng nguy hiểm đâu chỉ có thế, Lân Hỏa Thần Đạn đã phát nổ, lửa bùng lên đốt cháy bàn tay tả và nuốt chửng gương mặt nạn nhân. Trước tiên, bộ râu rồng quăn tít, và đôi lông mày quắc thước của Thành Vô Chiến bị cháy rụi.

Số người chết vì nước luôn nhiều hơn vì lửa, song ai cũng sợ lửa hơn nước! Tuy chỉ bị rát da mặt mà Thẩn quân cũng rơi vào hoảng loạn không kịp tránh thức kiếm tiếp theo của Nhương Thư, đứt lìa cánh tay trái.

Cái đau thấu trời đã làm cho lão tỉnh táo lại, vung đao đánh bạt đường gươm đang đâm vào cổ,

Áo ngoài, áo trong bốc cháy khét lẹt, biến Thần quân thành ngọn đuốc sống. Nhưng trái với dự đoán của Ngọa Long Tú Sĩ, áo giáp da cá của họ Thành rất khó cháy, lửa chỉ tàn phá được mặt ngoài một cách chậm chạp chứ không lan nhanh hay ăn thủng!

Nửa vạn người sửng sốt kêu lên trước cảnh tượng bất ngờ và đáng sợ này. Họ trố mắt nhìn cảnh Kỵ Ba Thần Quân mang ngọn lửa trên thân, tuyệt vọng chống trả lại những đường kiếm sấm sét của Đoan Mộc Toàn!

Cả cuống chết đít còn cay, Thành Vô Chiến dẫu cụt một cánh tay, da mặt bị phỏng nhẹ nhưng công lực vẫn còn được tám thành. Lão chẳng cam tâm buông xuôi, để ngôi Minh chủ tuột khỏi tay. Hơn nữa, cảm giác giận dữ, căm hờn của một kẻ bị lừa đã thôi thúc lão phải báo thù.

Thần quân nghiến răng vung ra những chiêu đao mãnh liệt như sóng dữ, chẳng kể gì đến việc lửa đang đốt cháy áo quần. Lão có cương khí hộ thân nên không thể bị hại bởi ngọn lửa nhỏ bé kia được!

Song lão quên một điều là khi không còn gì để cháy thì ngọn lửa tắt ngúm và thân dưới sẽ hiện ra lồ lộ trước mặt quần hùng!

Thần quân điên cuồng đánh một hơi bốn chục chiêu mà không làm gì được đối phương. Cẩm Phàm kiếm khách giờ đây mới để lộ thực tài, đường gươm kỳ ảo và nhanh như thiểm điện, thẳng thắn chiết giải đao chiêu, thân hình chập chờn như ma muội.

Kỵ Ba Thần Quân chưa hề chạm trán Nhương Thư hay Nhật Phủ nên không nhận ra lộ số võ công của Đoan Mộc Toàn, nhưng lòng bắt đầu ngán ngại. Máu từ cánh tay cụt vẫn tuôn và chẳng mấy chốc Thần quân sẽ kiệt lực, lão bèn nhớ đến chước thứ ba mươi sáu.

Lúc này, tiếng cười đã lan tỏa khắp đại hổi. Họ không còn kinh ngạc vì ngọn lửa và bắt đầu chú ý đến việc Kỵ Ba Thần Quân trần truồng, ngoài mảnh giáp che thân trên, mọi thứ đều phơi ra cả.

Có kẻ ác độc nào đó còn cười hô hố xúi giục :

- Đoan Mộc Toàn! Sao ngươi không thiến cha cái của lòng thòng trước mặt kia đi, trông nó đong đưa thật ngứa mắt!

Thế là cử tọa cười bò, buông lời chế giễu Thần quân, có muối mặt đánh nữa cũng chỉ mang nhục mà không chừng còn mang họa, Thành lão quỷ tấn mạnh nhưng chân lại bước lùi!

Tất nhiên Nhương Thư không để lão chuồn, kiếm quang tỏa rộng, sát khí mịt mờ, chỉ chờ sơ hở là hạ thủ.

Trong giao đấu, chẳng phải muốn chạy là chạy, muốn lùi là lùi. Khi quay mình đào tẩu là để trống lưng, khi tung ngược ra sau là để trống hạ bàn, còn khi thoái hậu là tấn công không vững, chính vì thế, Kỵ Ba Thần Quân chỉ dám lùi từng bước để bảo toàn tính mạng!

Nhờ thận trọng như thế mà Thần quân đã an toàn thoái lui được một quãng dài, chỉ còn cách mép đài ba trượng. Nhương Thư vô cùng khâm phục đao pháp và sự chịu đựng kiên cường của đối phương. Song chàng không cam tâm để lão thoát thân liền xuất kỳ chiêu.

Nhương Thư vung kiếm đâm liền tám mươi mốt thức, phong tỏa từ mặt đến bụng Thần quân. Thành Vô Chiến thận trọng giải phá, đao kiếm chạm vào nhau vang rền! Lão đã bảo vệ được thân trên, nhưng một luồng chỉ phong từ ngón giữa của bàn tay tả Nhương Thư đã bất ngờ bay ra, nhắm vào huyệt Trung Cực thuộc mạch Nhâm, nằm dưới rốn bốn thốn.

Chẳng không thể đánh vào huyệt Khí Hải vì bảo giáp của lão ma đã che kín chỗ nhược ấy. Dù đã tính toán chu đáo, nhắm rất chuẩn nhưng ý trời không thuận. Miếng ván lót sàn lôi đài phía sau Kỵ Ba Thần Quân bị dẫm đạp quá nên long đinh, bật lên hơi cao, nâng gót của ủng khi lão ma lùi lại, đứng lên. Bởi thế, huyệt Trung Cực thoát nạn còn hạ bộ họ Thành mang họa!

Đạo Trung Xung chỉ xuyên thủng dương v*t và ngọc hành của Thần quân đúng như ý nguyện của quần hùng!

Kỵ Ba Thần Quân đau thấu trời, rú lên như heo bị chọc huyết, rồi liều mạng nhảy ngược về phía sau. Lão đã yếu nhiều nên cú nhảy chỉ xa hơn trượng, còn cách mép lôi đài cũng chừng ấy, và Nhương Thư đã lướt theo.

Tính mạng Thần quân tưởng chừng hữu hỉ, nào ngờ, từ dưới đất có bốn bóng người nhất tề nhảy lên. Vũ khí của họ dài thượt, vươn quá họ họ Thành mà đỡ đòn giùm.

Họ chính là Đài Loan tứ ngư ông, thủ hạ trung thành của Thần quân. Bốn lão ma biển Đông đã dồn hết công lực và cần câu thép nên lực đạo rất hùng hậu, họ lại xuất hiện bất ngờ khiến Nhương Thư bị động, chàng mà cố giết Kỵ Ba Thần Quân thì sẽ khó mà toàn mạng. Bởi vậy, Nhương Thư phải tung mình tránh chiêu lưỡng công kia!

Kỵ Ba Thần Quân cố nén đau, rống lên như hổ bị thương :

- Té ra ngươi là tiểu tử Tần Nhật Phủ?

Lão đã nhận ra chàng nhờ Lục Mạch thần chỉ. Quần hào sửng sốt, nhìn Cẩm Phàm kiếm khách và thét vang mừng rỡ khi Đoan Mộc Toàn lột mặt nạ, để lộ gương mặt anh tuấn và đôi lông mày kép có một không hai!

Họ Tần vòng tay nói :

- Kính cáo chư vị đồng đạo! Tại hạ bị Thành Vô Chiến dùng quỷ kế ám hại ở Cưu Sơn. May mà trời cao chưa nỡ đoản mệnh, tại hạ thoát chết, giả dạng làm Cẩm Phàm kiếm khách để báo thù.

Thấy thần tượng chưa chết mà còn chiến thắng oanh liệt lão quỷ già Thành Vô Chiến, hàng ngàn hào kiệt trẻ phấn khởi phi thường, đồng thanh hô vang :

- Tần minh chủ! Tần minh chủ!

Đám trung niên, lão nhân cũng phục lăn trước bản lãnh và tài biến hóa xuất quỷ nhập thần của Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách nên cũng hô hào theo con cháu.

Dù không muốn nhưng Thiết Thủ Cái vẫn phải đại diện hội đồng võ lâm tuyên cáo việc trao ngôi Minh chủ cho Tần Nhật Phủ.

Khánh Hỉ đại sư, Phương trượng Thiếu Lâm tự và Thông Thiên chân nhân, Chưởng môn phái Võ Đang rời bàn giám đài, trao võ lâm lệnh kỳ và võ lâm ấn kiếm bằng Tử Ngọc cho họ Tần. Gọi là kiếm ấn vì chuôi của thanh tiểu kiếm dài một gang này tận cùng bằng một quả ấn nhỏ hình vuông. Nó là tác phẩm của Trượng Vương Tất Quỳ nên rất tinh xảo và xinh đẹp. Loại ngọc tía cực hiếm và có tính phát quang khi bị nóng lên!Nhìn ánh mắt đờ đẫn và nụ cười bi dại của họ, Nhương Thư đau lòng khôn xiết!

Kỵ Ba Thần Quân và bọn thủ hạ đã nhanh chân rời Đại hội vì sợ Tần minh chủ hạ lệnh cho quần hùng tấn công!

Lão phòng xa vô ích vì trong kế hoạch của Ngọa Long Tú Sĩ không có khoản này! Nay năm phái đều nằm trong tay Thần quân, các Chưởng môn bị khống chế cả tâm thức lẫn sinh mạng thì ngôi Minh chủ của Nhương Thư chỉ hữu danh vô thực!

Chàng giơ cao võ lâm kiếm lệnh và võ lâm lệnh kỳ, vui vẻ nói với quần hùng :

- Tại hạ sẽ cho sửa sang lại Tổng đàn võ lâm, đúng rằm tháng hai sang năm sẽ tổ chức tiệc mừng. Mời toàn thể chư vị vui lòng hạ cố, dùng vài chén rượu nhạt!

Toàn trường hoan hô như sấm dậy, khen ngợi sự rộng rãi của tân Minh chủ. Việc đãi đằng nửa vạn người chẳng phải là chuyện ai cũng dám làm, hoặc đủ sức làm!

Sau đại hội, tân Minh chủ Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách biến mất tăm, dù Tổng đàn võ lâm ở núi Thái Thất đang khởi công trùng tu.

Gọi là sửa chữa nhưng thực ra gần như xây mới, vì sau nhiều năm không Minh chủ trị vì, Tổng đàn đã hư hại khá nhiều.

Thái Thất sơn là đỉnh cực Đông của rặng Tung Sơn, đầu Tây chính thị là núi Thiếu Thất, nơi chùa Thiếu Lâm tọa lạc.

Kỵ Ba Thần Quân đang nắm trong tay năm phái lớn, tức là một nửa võ lâm. Lão chỉ cần danh vị Minh chủ là nuốt luôn nửa còn lại. Nhưng miếng mồi đã vào trong miệng còn phải nhả ra, lại cụt mất một cánh tay, Thành Vô Chiến quyết không tha cho Tần Nhật Phủ.

Với thế lực bao trùm, Thần quân cho truy tìm tung tích họ Tần. Và cử đi mấy chục toán sát thủ, Tiếc rằng, Tần Nhật Phũ đã biệt dạng, không hề để lại dấu vết.

Khi người của Sơn Hải bang đến công trường xây dựng Tổng đàn võ lâm thì thấy quân triều đình canh gác rất nghiêm mật.

Người lãnh mối thầu này là em vợ của Tổng trấn Quân Vụ Hà Nam. Lão ta được trả giá hời để thi công theo đúng bản vẽ, và có trách nhiệm bảo vệ công trình cho đến rằm tháng hai sang năm. Vì thế, lão đã nhờ đến sự hỗ trợ của ông anh rể là ngài Tổng trấn. Được chi năm trăm lượng hoàng kim, Tổng trấn vui vẻ điều quân đến canh gác!

Gã trinh sát Sơn Hải bang vừa mò đến dọ hỏi thì lập tức bị vây bắt ngay. May mà gã nhanh chân, không thì đã ăn những đòn tra tấn của nha môn.

Vậy thì chàng trai họ Tần của chúng ta đâu? Xin thưa rằng, Nhưưng Thư và bầu đoàn thê tử, bằng hữu đã kéo nhau đi Sơn Tây tìm Ải Thần Quân!

Đầu tháng mười họ có mặt ở thành Trường Trị, vào trọ trong lữ điếm rồi dọ hỏi về nhà cửa của Ải Thần Quân.

May mà lão chưởng quỷ là người sinh đẻ chốn này nên biết rõ, chỉ đường cho khách. Bọn Nhương Thư ăn cơm trưa xong, y phục chỉnh tề tìm đến Tần gia trang.

Quách Tàn Bôi đã chế tạo một chiếc mặt nạ, tạm thời trả lại cho Nhương Thư dung mạo cũ, và cũng để tránh tai mắt kẻ thù. Điều này đã khiến ba ả họ Điền vui vẻ hơn, song Đoan Mộc Anh thì lại bỡ ngỡ. Số người trong đoàn là mười một vì vợ chồng Hoàng Nghi Tuyệt, Dương Châu Thần Thâu và Mục Tử Lượng cũng có mặt. Thần Thâu và Tử Lượng ở Khai Phong về Tung Sơn xem đại hội, gặp bọn Ngọa Long Tú Sĩ.

Hồng Diện Tôn Giả không hiểu sao đã bỏ đi mất dạng sau khi đại hội bế mạc. Có lẽ ông đau lòng vì các chết của Bạch Thúy Sơn nên không còn thiết đến sự đời nữa.

Hôm rằm tháng chín, Tôn giả đã được Lỗ tú sĩ dặn dò kế hoạch hí lộng Kỵ Ba Thần Quân. Ông có trách nhiệm là cho Thành lão quỷ bộc lộ bảo y, đồng thời hợp thức hóa việc sử dụng ám khí của Nhương Thư. Nếu không, dù có đả bại Kỵ Ba Thần Quân chàng cũng chẳng thể trở thành Minh chủ, không phải vì danh dự mà vì đại cục sau này!

Nhắc lại bảy kỵ sĩ hộ tống cỗ xe song mã mui kín, chở bốn nàng rầm rộ xuất hiện trước cửa Tần gia trang!

Nhương Thư ngỡ ngàng khi thấy cơ ngơi xập xệ, nghèo nàn của toàn trang viện. Chẳng phải Ải Thần Quân đã tặng hết tài sản cho chàng rồi tay trắng hồi hương! Ngày ấy, Tần Thế Lan, tức Ải Thần Quân, rời Tạ gia trang mà không lấy theo vàng bạc, châu báu gì cả.

Nhương Thư vô cùng xúc động, biết Thần quân thật sự yêu thương mình như con vậy. Lão chỉ cần lấy lại một phần tư châu báu cũng đủ biến nơi đây thành phủ đệ lộng lẫy của bậc Vương Hầu!

Quanh trang chỉ là rào trúc sơ sài vì tường cũ đổ sập không tiền xây lại. Nhà cửa được cất theo lối Tam Hợp Thiện, ba dãy vây lấy bên, nhưng giờ đây ngói dột, cột xiêu, gạch lát sân bong lên từng mảng, cỏ mọc đầy.

Người trong nhà đã đi ra. Đó là một lão già tuổi sáu mươi, râu tóc hoa râm, dung mạo rất giống Ải Thần Quân. Lão mở cổng rào, nghi ngại hỏi :

- Chẳng hay quí khách giá lâm tệ xá về việc gì?

Nhương Thư vòng tay kính cẩn đáp :

- Bọn tại hạ muốn được bái kiến Tần lão tiền bối, tức Ải Thần Quân!

Lão nhân lạnh lùng bảo :

- Nhị thúc của lão phu không có nhà! Ông ta về đây ăn báo mấy tháng rồi bỏ đi Thái Nguyên du ngoạn, chẳng thấy trở về!

Thì ra lão này là cháu ruột của Thần quân, cảnh nhà khó khăn nên không vui khi thấy thúc phụ trở về với hầu bao lép kẹp. Lão sợ hãi Thần quân nên ngậm bồ hòn làm ngọt, nay gặp dịp mới buột miệng than thở trách móc. Thái độ này cũng chẳng có gì là lạ. Khi người ta quá nghèo, vợ con không đủ ăn thì việc cưu mang thêm một ông chú uống rượu như hũ chìm là cả một nỗi kinh hoàng!

Điền Uyển Xuân thấy thế liền đổ dầu vào lửa, dấm dẳng nói :

- Lão ấy trốn rồi ư? Bọn ta đến đây để đòi nợ đây!

Lão nhân họ Tần tái mặt xua tay hớt hải :

- Lão phu chẳng liên quan gì cả! Gia thúc phụ bỏ nhà đi đã ba mươi mấy năm, chẳng giúp đỡ gì được cho con cháu, sao lại bắt lão phu trả nợ thay?

Lão ta đang nói thì có một phụ nhân tuổi ngũ tuần, áo vải xanh vá víu ra đến nơi. Bà nghe nói đến nợ nần của chú chồng liền khóc lóc, tru tréo lên :

- Tướng công thấy không! Thiếp đã linh cảm trước tai họa này ngay khi Nhị thúc xuất hiện! Lão ta uống sạch gia tài dành dụm của chúng ta, lại còn huênh hoang rằng con nuôi lão sẽ mang vàng đến đây xây dựng nhà cửa, biến Tần gia trang thành đài phủ đất này. Vàng đâu chẳng thấy, chỉ thấy chủ nợ đến tìm! Phen này thiếp và lũ con chỉ còn nước ra đường mà ở thôi!

Rồi mụ quỳ sụp xuống lạy lục :

- Oan có đầu, nợ có chủ! Xin chư vị đi Thái Nguyên tìm lão chết tiệt ấy mà đòi, đừng đẩy gia đình tiện phụ vào cảnh khốn cùng!

Uyển Xuân không ngờ trò đùa của mình lại tai hại đến vậy, sợ Nhương Thư giận, vội chạy đến đỡ Tần phụ lên :

- Đại thư đừng khóc nữa! Tiểu muội chỉ đùa thôi mà! Bọn tiểu muội chính là nghĩa tức (dâu nuôi) của Tần lão gia, mang vàng về xây lại Tần gia trang đây!

Tần thị há hốc miệng, dụi mắt tưởng mình nằm mơ. Trong lúc ấy, Nhương Thư vòng tay thi lễ :

- Tiểu đệ, Tần Nhương Thư, nghĩa tử của Tần lão gia, xin ra mắt biểu ca!

Lão nhân kia cũng sửng sốt không kém vợ mình, luống cuống đáp :

- Thực thế sao! Té ra nhị thúc không nói láo! À... Lão phu là Tần Nam Sơn..., mời chư vị vào!

Ngọa Long Tú Sĩ biết chắc chủ nhà không đủ ghế cho khách ngồi, nên vui vẻ nói!

- Ngoài sân này mát mẻ, chẳng nhất thiết phải vào trong làm gì. Hơn nữa, lão phu muốn xem qua địa thế để tính toán việc xây dựng.

Hai canh giờ sau, bọn Nhương Thư rời Tần gia trang, để vợ chồng Tần Nam Sơn bàn bạc cách tiêu xài số vàng năm ngàn lượng!

Trưa mùng sáu tháng mười, đoàn nhân mã đi vào thành Thái Nguyên, địa phương trù phú, sầm uất nhất Sơn Tây.

Vào đầu thời nhà Minh, Thái Nguyên là nơi đặt phủ đệ của Tần Vương, một trong những hoàng tử của Chu Nguyên Chương. Minh Thái Tổ đã giao đất Sơn Tây và phong tặng cho con trai mình! Còn vùng Hà Bắc thuộc quyền Yên Vương Chu Đệ, người mà sau này soán ngôi cháu, lấy đế hiệu là Minh Thành Tổ.

Danh thắng nổi tiếng nhất Thái Nguyên là đền thờ Tần Tử nằm trong Lâm Viên Cổ dưới chân núi ông Sơn, phía Nam Thành!

Lâm Viên có nghĩa là vườn rừng, rừng cây do người trồng làm vườn cảnh. Nơi đây sơn thủy hữu tình, có hàng trăm đền đài, cung điện, miếu mạo, nhứng cái khiến người ta đắm say nhất là ba con suối ở đền Tấn Từ : Thiên Lợi Tuyền, Thánh Mẫu Tuyền và Nan Lão Tuyền!

Ngoài việc nước suối trong vắt, ngọt ngào, phong cảnh bên bờ và chiếc cầu Tấn Từ xinh đẹp đã gợi ý thơ cho hàng ngàn tao nhân mặc khách. Song vào thời ấy, cạnh suối Nan Lão, dưới cầu Tấn Từ độ gần dặm còn có một nơi mà du khách nào cũng phải ghé thăm, đấy là Trường Xuân tửu điếm.

Quán rượu này chỉ là một công trình đơn giản bằng gỗ, mái ngói, nằm bên bờ suối, cảnh vật không hơn những danh thắng khác trong lâm viên, nhưng nó thu hút khách nhờ nhan sắc của chủ nhân.

Hai mươi năm trước có một nữ lang tuổi ba mươi đến đây dựng quán, giờ nàng đã tròn ngũ thập mà dung nhan vẫn như xưa! Người ta phong tặng nàng danh hiệu Nan Lão Tiên Cơ, ý chỉ vị trí quán rượu cũng như sự trường tồn của vẻ đẹp thiên kiều bá mị.

Tiên cơ có nhũ danh là Trình Bích Liễu, thân hình nhỏ nhắn, thâm thấp như hàng vạn nữ nhân Trung Hoa khác. Nghĩa là nàng chỉ cao hơn Ải Thần Quân hai lóng tay.

Phải chăng vì nhan sắc và chiều cao khiêm tốn của Tiên cơ mà Ải Thần Quân phế bỏ mộng thành tiên, quyết tâm lấy cho được nàng? Hoặc vì một lý do nào khác khiến lão già trẻ con tuổi cửu tuần này yêu say đắm thì chỉ có trời mới hiểu nổi!

Sau ba ngày điều tra, bọn Nhương Thư tá hỏa tam tinh khi nghe nói Ải Thần Quân yêu điên cuồng chủ nhân Trường Xuân tửu điếm, đến mức xin vào làm tiểu nhị không lương để được gần gũi Nan Lão Tiên Cơ.

Người người ôm bụng cười lăn cười lóc, chỉ mình Đoan Mộc Anh không cười, thản nhiên nói :

- Hai người ấy đều trẻ mãi không già, vốn được trời sinh ra để lấy nhau, chẳng phải thế sao?

Nhương Thư tủm tỉm khen :

- Anh nhi quả là cao kiến! Bọn ta đã quên mất điểm này!

Ngọa Long Tú Sỉ lên tiếng :
- Hay lắm! Chúng ta sẽ thành toàn cho mối lương duyên thiên định này!

Mã Lan thích thú hỏi :

- Nhưng bằng cách nào?

Lỗ Đăng Hân cười đáp :

- Để lão phu và Tần công tử đến Trường Xuân điếm tìm hiểu tình hình rồi sẽ tính!

Quách Tàn Bôi cằn nhằn :

- Lão phu cũng đi nữa, bằng không thì hai người đừng hòng mượn mặt nạ!

Ba người hóa trang xong, tìm đến Trường Xuân tửu điếm. Lời đồn quả chẳng sai, quán rượu luôn đầy ắp tửu khách, và hơn nữa là khách võ lâm, vì Nan Lão Tiên Cơ cũng rất giỏi võ!

Hữu xạ tư nhiên hương, bao năm nay, hằng trăm thế gia công tử, hào kiệt giang hồ đất Thái Nguyên và vùng phụ cận đã rắp ranh sắm sẽ, thầm thương trộm nhớ mỹ nhân! Phần lớn đã mỏi mòn bỏ cuộc, tìm mối khác, chỉ còn lại những nam nhân cao tuổi, bởi Tiên cơ đã năm mươi!

Trong tình yêu, chẳng thể dùng võ nghệ diệt trừ tình địch mà giành lấy trái tim, cho nên dù bản lãnh thượng thừa mà Ải Thần Quân vẫn bị hạ phong trước kẻ khác!

Thứ nhất là vì lão quá lùn, thứ hai là quá già, thứ ba là không có tiền. Trong khi phe đối phương tuổi tác chỉ từ ngũ tuần đến thất tuần, trẻ trung, tráng kiện, thân thể cao lớn, oai vệ, gia tài đồ sộ.

Bọn Nhương Thư ngồi xuống một bàn trống, tò mò quan sát nữ chủ nhân. Họ dương đôi mắt nghi hoặc ngắm nghía nữ lang xinh đẹp, trẻ trung đang ngồi sau quầy quỹ, không sao tin được rằng nàng ta đã năm mươi!

Tiên Cơ cũng nhìn thấy khách mới, rời quầy bước đến bàn, nở nụ cười tươi tắn, thân thiện :

- Chắc tam vị mới đến tệ điếm lần đầu! Thiếp là Trình Bích Liễu, rất vinh dự được đón tiếp ngọc giá của bậc quý nhân!

Giọng nàng trong trẻo, ngọ ngào, khiến lòng người xao xuyến. Bộ đoạn bào bằng lụa xanh kia ôm sát thân hình nhỏ nhắn, cân đối và làm tôn nước da trắng trẻo, mịn màng của Tiên cơ!

Nói xong nàng quay lại cao giọng gọi :

- Tần huynh! Mau ra xem khách cần chi!

Nàng nghiêng mình chào bọn Nhương Thư rồi quay gót.

Dạ Quân Tử vỗ đùi tán thưởng :

- Ả này vừa đẹp, vừa khéo, bảo sao lão quỷ họ Tần không chết mê chết mệt!

Lúc này, Ải Thần Quân đã ra đến, áo tiểu nhị lem nhem dầu mỡ, khăn vải vắt vai. Lão khúm núm hỏi với dáng điệu rất chuyên nghiệp :

- Dám hỏi chư vị đại gia dùng những món gì?

Ngoài cặp lông mày thứ hai mới mọc lại, sau vài tháng trời rời Lạc Dương, Thần quân còn có thêm hàng râu mép xanh đen, gọn ghẽ. Lão muốn lấy Tiên cơ nên không thể giữ dung mạo trẻ con được!

Lỗ tú sĩ biết hai người kia sắp sửa phá lên cười nên nói mau :

- Một mâm rượu thịt gồm bốn món thượng hạng!

Thần quân hài lòng gật đầy, tất tả rảo bước. Ở đây, ba vị khách cúi gầm mặt để cười cho thỏa. Nhương Thư chợt thắc mắc :

- Vì sao Thần quân không mang thêm chân giả để được cao như lúc đóng vai Thế Lan?

Lỗ Đăng Hân vui vẻ giải thích :

- Lão ta yêu thực tâm nên không muốn gian dối Tiên cơ, còn lúc trước, do lão gán cho công tử danh hiệu và tên tuổi nên phải kê chân thật cao để khỏi bị Vô Ưu Cái nghi ngờ mình là Ải Thần Quân!

Rượu thịt được bưng ra, trong lúc bọn Nhương Thư ăn uống, không có khách vào thêm nên Ải Thần Quân rảnh rang, đứng cạnh quầy quỹ nói chuyện với Nan Lão Tiên Cơ.

Trong số thực khách hôm nay dĩ nhiên không thiếu vài tay tình địch của Thần quân. Một lão nhân áo gấm đen sang trọng, đầu đội mũ bá hộ lên tiếng :

- Này Tần lão huynh! Tòa Bách Hoa gia trang ở bìa lâm viên vừa đăng bảng rao bán, sao lão huynh không mua tặng Trình tiên cơ? Lão họ Hồ thua bạc nên bán rẻ, chỉ có ba ngàn lượng mà thôi!

Cả quán cười ầm vì câu giễu cợt kia. Một tên tiểu nhị làm sao có nổi ba ngàn lượng vàng!?

Nào ngờ Tần lão quay sang hỏi Tiên cơ :

- Nàng có thích tòa trang viện ấy không? Vài ngày nữa lão phu sẽ mua tặng nàng!

Trình Bích Liễu tủm tỉm gật đầu, nhưng ánh mắt lộ vẻ hoài nghi. Còn tửu khách thì cười hô hố, chê Ải Thần Quân là người khoác lác.

Tình địch thứ hai của Ải Thần Quân là một đại hán tuổi độ năm mươi, thân thể lực lưỡng, râu quai nón rất oai phong. Lão ra cười nhạt khích bát :

- Thần quân là bậc võ lâm tiền bối, sao lại để kẻ khác chiếm đoạt danh hiệu và tên tuổi của mình! Tại hạ vừa dự đại hội võ lâm trở về, tận mắt chứng kiến gã Tứ Mi Ngọc Diện kiếm khách Tần Nhật Phủ đả bại Kỵ Ba Thần Quân đoạt ngôi Minh chủ. Phải chăng lão huynh sợ hãi tiểu tử ấy nên không dám tìm đến hỏi cho ra lẽ!

Đám hào khách trong quán tán thành ngay, xem thường bản lãnh của Ải Thần Quân!

Tần lão cười khanh khách đáp :

- Các ngươi biết quái gì mà nói! Tần minh chủ võ lâm chính thực là con nuôi của lão phu. Nếu Trình tiên cơ chịu làm vợ lão phu, hắn sẽ đứng ra tổ chức và mời đủ Chưởng môn, long đầu các phái trong thiên hạ đến dự!

Bọn hào khách ôm bụng cười ngặt nghẽo, chửi Thần quân là kẻ nói láo một tấc đến trời!

Có kẻ tức quá, đốc thúc Nan Lão Tiên Cơ :

- Sao Trình mỹ nhân không lấy đó làm điều kiện hôn ước, để lão lòi mặt chuột ra?

Lời đề nghị này được nhiều người hưởng ứng, khiến Tiên cơ mất tự chủ, bẽn lẽn nói :

- Thôi được! Thiếp cũng xin chiều ý chư vị!

Rồi nàng bảo Thần quân :

- Nếu trong ba ngày, Tần huynh mua nổi Bách Hoa trang, thiếp xem như đã nhận sính lễ, và khi Tần huynh gọi được Minh chủ võ lâm đến quì lạy thì lễ thành hôn sẽ cử hành!

Cả quán ồn ào như chợ vỗ. Tin chắc Ải Thần Quân sẽ bỏ cuộc một cách nhục nhã.

Quả đúng như vậy, Tần lão nhăn nhó một cách khổ sở :

- Lão phu chẳng biết ba ngày có kịp hay không nữa?

Bỗng có người gọi thêm rượu, lão bèn tất tả chạy đến bàn của ba người khách lạ mặt. Thần quân hỏi mà như người mất hồn :

- Tam vị cần thêm mấy cân?

Và lão thiếu điều nhảy dựng lên vì nghe khách lạ hạ giọng đáp :

- Nghĩa phụ! Hài nhi là Nhương Thư đây! Xin nghĩa phụ cứ nhận điều kiện của Tiên cơ, chỉ ba khắc nữa là mỹ mãn!

Thần quân mừng đến líu lưỡi :

- Trời cao có mắt nên Thư nhi đến rất đúng lúc! Con trai hãy cố giúp ta lấy được mụ vợ này, không thì ta chết mất!

Nhương Thư gật đầu mỉm cười, Thần quân hí hửng chạy nhanh xuống bếp lấy vò rượu năm cân, mang lên cho con nuôi. Lão quay lại đứng bên quầy quỹ, lập tức bị thực khách tra hỏi :

- Sao Thần quân có làm được không?

Thần quân cười tươi rói, hỏi lại Nan Lão Tiên Cơ :

- Này Trình hiền muội! Nàng nói thực đấy chứ?

Tiên cơ đỏ mặt gật đầu :

- Thiếp vốn chẳng bao giờ nói hai lời!

Ải Thần Quân chợt nghiêm sắt mặt, nhìn nàng bằng ánh mắt thiết tha rồi truyền âm :

- Trước khi ra đi, lão phu muốn biết nàng có chút tình cảm nào với lão phu hay không?

Tiên cơ lặng người, buồn rầu suy nghĩ rồi đáp :

- Thực lòng thiếp cũng yêu mến Tần huynh vì đôi ta đều được trời ban cho Vô Thu Quả. Giá như Tần huynh đừng đại ngôn thì trước sau thiếp cũng nhận lời. Giờ sự thể thế này, xem như không duyên phận vậy!

Ải Thần Quân chết lặng người vì hạnh phúc ngút trời. Ông gật gù, quay lại nói với cử tọa :

- Mời chư vị cứ ăn uống thoải mái và chờ thêm vài khắc nữa để mừng cho lão phu và Tiên cơ. Hôm nay tệ điếm xin chiêu đãi miễn phí!

Chẳng ai tin nhưng cũng hồ hởi gọi thêm rượu thịt khiến Tiên cơ tái mặt, kéo áo Thần quân :

- Tần huynh định làm cho thiếp sạt nghiệp thì mới chịu đi ư?

Tần lão nheo mắt tình tứ :

- Nàng chớ lo! Cưới xong chúng ta ra ở Bách Hoa trang, không làm đầy tớ cho thiên hạ nữa!

Rượu vào lời ra, vài gã không biết ơn còn mỉa mai :

- Lát nữa Thần quân bỏ của chạy lấy người thì bọn ta lấy tiền đâu ra mà trả?

Tần lão cười ha hả hỏi lại :

- Thế nếu lão phu làm được, liệu mỗi người có dám bỏ ra trăm lượng bạc mừng hôn lễ hay không? Ai dám thì giơ tay lên!

Thế là bảy tám chục cánh tay nhanh nhảu đưa lên để chế giễu Thần quân.

Tần lão nghiêm giọng :

- Lão phu có trí nhớ phi thường, nhớ không sót một ai. Kẻ nào nuốt lời thì hãy coi chừng đấy!

Dứt lời lão xạ một đạo chỉ phong vào cột gỗ các chỗ đứng hơn trượng. Chỉ kình xé gió ghê người, bột gỗ bay mù mịt, và một cái lỗ sâu hoắm hiện ra!

Ai nấy lạnh gáy, nhớ đến truyền thuyết về tính hiếu sát của Ải Thần Quân ngày trước! Họ im như thóc, tự an ủi rằng chắc gì lão quỷ lùn kia đã cưới được Tiên cơ. Nhưng lát sau, có một cỗ xe song mã lộng lẫy cùng vài võ sĩ hộ tống, dừng cương trước cửa quán rượu.

Cửa thùng xe mở ra, có bốn nữ nhân y phục hoa lệ bước xuống. Đám kỵ sĩ gồm có năm người, có cả lão già áo gấm nâu, lúc nãy đã từng ngồi trong quán!

Khi chín người ấy bước vào thì hai tửu khách lạ mặt cũng đứng lên, nhập bọn đi đến trước mặt Ải Thần Quân. Hán tử võ phục đen xoa mặt, hóa thành một chàng trai cực kỳ anh tuấn, rất giống Ải Thần Quân, cả mặt mũi lẫn đôi lông mày kép. Gã vòng tay nói :

- Hài nhi bái kiến nghĩa phụ và nghĩa nương! Thân đương nhiệm Minh chủ không tiện thi đại lễ mong nhị vị nhân gia lượng thứ!

Ải Thần Quân xua tay cười khanh khách :

- Miễn lễ! Miễn lễ! Con hãy đứng sang một bên để lão phu nhận dâu!

Nhương Thư bước sang tả, nhường chỗ cho tam vị thiên kim tiểu thư nhà họ Điền. Ba ả e thẹn nghiêng mình theo phép túc bái. Rồi đến bọn nam nhân già trẻ đủ cỡ. Thấy chỉ còn mình Đoan Mộc Anh đứng tần ngần ngơ ngác, Thần quân hỏi Nhương Thư :

- Thế con tiểu nha đầu kia là ai vậy?

Nhương Thư hít mạnh một hơi để lấy dũng khí rồi bước đến dắt nàng sơn nữ lại trước mặt Thần quân và Tiên cơ. Chàng trầm giọng giới thiệu :

- Bẩm nhị vị nhân gia! Nàng này là Đoan Mộc Anh, người vợ thứ tư của hài nhi!

Đoan Mộc Anh hân hoan ngước nhìn chàng :

- Đại ca chịu lấy tiểu muội làm vợ ư? Thế thì hay quá, tiểu muội cũng muốn có con như ba vị đại thư kia!

Một trận bão cười nổ ra, phá tan không khí im lặng, trang nghiêm từ nãy đến giờ!

Thần quân tủm tỉm bảo ba dâu lớn :

- Các con đừng ghen tuông mà hại đến bào thai!

Mã Lan và Uyển Xuân thẹn thùng vâng dạ, riêng Bạch Cúc hậm hực nhủ thầm :

- “Ghen làm quái gì! Các bà sắp lâm bồn, cần người quạt than, giặt giũ đây! Lúc ấy con quỷ đen kia sẽ biết thế nào là khổ sở!”

Chương 22: Hồng Nhan thí phát nan vong ái - Hiểm đạo Thần quân thí bất toàn

Cuối tháng mười, bọn Nhương Thư sang đến tả ngạn sông Hoàng Hà, thiếu mất bốn người đàn bà vì Từ Thanh Huệ và ba ả họ Điền đã ở lại Tần gia trang, dưới chân núi Ngũ Đài sơn để tĩnh dưỡng. Họ là thai phụ nên không thể tham gia cuộc viễn chinh gian khổ được!

Ải Thần Quân đã trả cho Nhương Thư dung mạo cũ, song Dạ Quân Tử lại phải chế tác cho chàng một chiếc mặt nạ Tần Nhật Phủ!

Nhương Thư đã lên chùa Phật Quang hội ngộ với đồng môn, Chân Không thiền sư, phương trượng chùa, đã hứa sẽ bảo vệ bốn nữ nhân bụng mang dạ chửa kia!

Dĩ nhiên các nhà sư chỉ phụ trách vòng ngoài, việc hầu hạ bên trong đã có đám nữ tỳ lo toan!

Đoan Mộc Anh không bị giữ lại để giặt giũ như Bạch Cúc từng tính toán. Cô gái rừng thản nhiên tuyên bố :

- Tiểu muội sẽ đi theo Tần đại ca cho đến khi bụng to như tam vị đại thư mới thôi!

Bạch Cúc nổi dóa :

- Muốn bụng to thì nào có khó! Ngươi cứ ở lại đây để ta kiếm cho một gã tiều phu, hà tất phải bám lấy tướng công?

Đoan Mộc Anh nghe vậy rút kiếm đâm cổ tự sát, may mà Nhương Thư kịp ngăn lại. Bạch Cúc hết hồn hết lời năn nỉ cô gái sơn dã cương cường. Uyển Xuân cũng nói vào Anh nhi mới nguôi giận.

Chiều ngày đầu tháng mười một, Nhương Thư có mặt ở Toàn Chân đạo quán. Và ngay tối hôm ấy, họ bí mật vào thành Lạc Dương, đột nhập Phân đà Cái bang.

Vô Ưu Cái hồi sinh, và sau bốn ngày, nội bộ Cái bang không còn ai là tai sai của Kỵ Ba Thần Quân nữa.

Thiết Thủ Cái quỳ xuống khóc lóc xin tha mạng và đã toại nguyện. Bề ngoài, lão vẫn là Bang chủ Cái bang để bảo toàn bí mật cho chiến dịch giải thoát các phái của bọn Nhương Thư.

Sau Cái bang, Thiếu Lâm, bọn Nhương Thư giải phóng thêm phái Hoa Sơn ở Thiểm Tây và phái Võ Đang ở Hồ Bắc. Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi về Tứ Xuyên để cứu phái Nga Mi. Đến cuối tháng mười một thì cục diện võ lâm được vãn hồi hoàn toàn, phe chính phái bàn đến việc phản công, tiêu diệt Sơn Hải bang.

Nhưng Phân đà bí mật của Cái bang ở Tế Nam đã gởi tin về! Đó là việc Kỵ Ba Thần Quân kết thông gia với Tri phủ Sơn Đông. Thành Võ Chiến đã đem ái nữ xinh đẹp như tiên gã cho đứa con trai xấu xí đần độn của Quách tri phủ để củng cố thế lực của mình. Thế là lão được sự hậu thuẫn của quan quân Sơn Đông, khiến lực lượng bạch đạo chẳng dám bén mảng đến Tế Nam.

Tin thứ nhứt là đám cưới, tin thứ hai thì ngược lại! Võ Lâm Mạnh Thường Quân đột nhiên trúng gió độc, sắp chết và có di chúc để lại hết gia sản cho trưởng nữ.

Nghe xong tin này, Ngọa Long Tú Sĩ biến sắc nói :

- Thành lão quỷ quả là ác độc, không từ bất cứ thủ đoạn nào. Tài sản Điền gia phần lớn nằm trong các bất động sản, Thần quân muốn chiếm đoạt hết nên mới hạ độc thủ. Sau khi võ lâm Mạnh Thường Quân chết, chắc chắc trưởng nữ là Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm cũng khó yên thân.

Nhương Thư bàng hoàng nhớ đến người con gái ngang tàng, nóng nảy và bồng bột ngày nào! Thúy Sơn là gái giả trai nên Ngọc Trâm vô tội, từ lâu, Nhương Thư định đi Tế Nam tìm nàng nhưng không có cơ hội. Quê vợ là sào huyệt của Sơn Hải bang nên chẳng ai cho chàng đến đấy cả.

Song giờ này, nghe nói tính mạng người xưa đang bị đe dọa, Nhương Thư chẳng thể bỏ qua. Chàng nghiêm nghị nói :

- Hầu lão ca! Tiểu đệ phải đi Tế Nam rước Ngọc Trâm mới được!

Vô Ưu Cái nhìn chàng bằng ánh mắt yêu thương, cười bảo :

- Ngươi đi là phải đạo! Nhưng phải có kế sách chu đáo mới được!

Lão quay sang nói với Ngọa Long Tú Sĩ :

- Này Lỗ hiền đệ! Ngươi mau trổ tài Gia Cát, bày cho lão phu một diệu kế để bình định Sơn Đông xem nào?

Lỗ Đăng Hân gượng cười :

- Hầu bang chủ chớ nên bỡn cợt kẻ hèn này nữa. Tiểu đệ chỉ có thể hiến một kế mọn để cứu cha con Võ Lâm Mạnh Thường Quân và bọn Bất Trí thư sinh ra khỏi tay hùm mà thôi.

Cao lão, Thiết Kình Ngư và anh em Tô Châu ngũ tặc vẫn còn bị Sơn Hải bang giam giữ ở Tế Nam, vì Kỵ Ba Thần Quân mến tài Bất Trí thư sinh, muốn ông phò tá mình.

Vô Ưu Cái hài lòng :

- Kế ấy thế nào?

Tú Sĩ nghiêm nghị đáp :

- Lần này tiểu đệ sẽ đích thân đến Sơn Đông, tùy cơ ứng biến, không thể nói trước được. Chỉ phiền Bang chủ bố trí đại quân mại phục ở đèo Cù Vân, nếu Kỵ Ba Thần Quân đuổi theo thì xem như lão ta đã tận số! Đèo Cù Vân nằm trên đường quan đạo từ Tế Nam đi Tế Châu, địa hình cực kỳ hiểm ác, một bên là sườn núi đầy loạn thạch, bên kia là vực sâu.

Vô Ưu Cái hân hoan :

- Hay lắm! Ngươi quả là khéo chọn nơi mai táng Thành Võ Chiến, lão phu tán thành kế hoạch này.

Cứu nhân như cứu hỏa, ngay sáng hôm sau, Nhương Thư và Hoàng Nghi Tuyệt đã khởi hành, đi trước một bước.

Thời xưa, trong luật giao thông, có một hạng người được hưởng quyền ưu tiên số một, đó là bọn dịch tốt chuyển vận công văn hỏa tốc. Họ có thể phóng ngựa như bay, ai không tránh đuờng, lỡ bị dẫm chết thì ráng chịu.

Muốn đi nhanh mà không gây nghi ngờ, Nhương Thư và Nghi Tuyệt đã giả làm hai dịch tốt. Tuy nói là giả nhưng họ lại có đủ giấy tờ tùy thân thiệt thọ, có luôn công văn của Tri phủ Hà Nam gởi cho Tổng trấn Quân Vụ Sơn Đông.

Tri phủ Hà Nam Tây Môn Đạt vốn là anh vợ của quan Tổng trấn Trần Đăng Khải, nhân vật uy quyền số hai ở đất Sơn Đông. Đấy là trong thời bình, còn khi bờ biển bị quân Nhật Bản, Cao Ly xâm phạm thì Trần tổng trấn chịu sự điều động trực tiếp của bộ Hình, không thuộc quyền Tri phủ Sơn Đông nữa.

Là người giữ gìn cương thổ, Trần tổng trấn luôn phải có mặt tại thanh đảo, dù nhà cửa, thê tử thì ở Tế Nam.

Trần Đăng Khải là một võ quan tài ba và rất thanh liêm nên cảnh nhà thanh bạch, chẳng được sung túc lắm. Do vậy, Tổng trấn phu nhân, nhũ danh Tây Môn Lan, không được vui khi thấy gia tài của Quách tri phủ ngày càng đồ sộ.

Là nữ nhân, bà cóc cần biết chồng mình tốt gấp trăm lần lão Quách Tốn, lòng luôn bị hậm hực khi bị thua sút Tri phủ phu nhân nhiều mặt. Đàn ông có nghèo thì cũng cười xòa, nhâm nhi vài chén rồi gõ bầu rượu mà ngâm câu “an bần lạc đạo”, xong đàn bà phải lo toan đủ thứ nên không nuốt trôi nổi câu ấy.

Bào huynh của Tạy Môn Lan biết rõ gia cảnh của em gái nên thỉnh thoảng cũng giúp đỡ vài trăm lượng. Dĩ nhiên, Tri phủ Hà Nam luôn dùng đường dây dịch trạm để chuyển tiền, vừa nhanh chóng lại vừa an toàn. Bọn đạo tặc chẳng dại gì chặn dịch tốt để cướp những tờ công văn vô dụng.

Nay đã gần giữa tháng chạp, tuyết rơi đầy, tiết trời lạnh căm căm, nhưng lòng Trần phu nhân nóng như lửa, mong mỏi món tiền viện trợ của anh trai. Không có nó, gia đình bà khó mà ăn tết cho vui vẻ được.

Bởi thế, Tổng trấn phu nhân vui mừng khôn xiết khi nghe quân gác cổng dinh vào báo rằng có dịch tốt từ Lạc Dương đến.

Tây Môn Lan là em gái út nên tuổi mới ba mươi, dù đã hai mặt con nhưng nhan sắc vẫn mặn mà, xinh đẹp nhất hàng ngũ các mệnh phụ thành Tế Nam. Người đẹp thì thường quý trọng nhan sắc của mình, luôn tô điểm bằng y phục và dồ trang sức để được nhận những ánh mắt ngưỡng mộ, tán thưởng của thiên hạ.

Nàng lại không muốn bọn dịch tốt của anh mình xem thường nên càng phải giữ tư thế, không để họ về Lạc Dương kháo chuyện lung tung. Bởi vậy, Tây Môn Lan đã mặc bộ y phục đẹp nhất, son phấn cẩn thận rồi mới ra khách sảnh. Nàng hy vọng người ngoài chỉ nhớ đến nhan sắc của mình mà quên đi cảnh nghèo nàn của dinh Tổng trấn.

Sau khi ngồi chễm chệ cạnh bàn, Tổng trấn phu nhân mới cho lính mời hai gã dịch tốt kia vào.

Tuyết phủ đầy mũ và áo lông, khách phải phủi sạch, cởi ra trao cho tên lính hầu rồi mới nhập sảnh.

Tây Môn Lan kinh ngạc khi thấy hai gã dịch tốt này tướng mạo anh hùng, đường bệ chứ chẳng tầm thường, nhất là cái gã trẻ tuổi, có đôi vành tai phúc hậu kia lại càng bội phần tôn quý.

Và cũng gã ấy mỉm cười đôn hậu, vòng tay thi lễ theo cung cách võ sĩ rồi cất giọng trầm ấm :

- Tại hạ Tần Nhương Thư, bái đệ của Tây Môn đại nhân, xin ra mắt phu nhân!

Phải chăng Nhương Thư nói láo? Thưa không, chàng đã cùng Tri phủ Hà Nam Tây Môn Đạt lạy nhau tám lạy ngay tối mùng một vừa rồi.

Vì sao quan Tri phủ lại chấp nhận mối kết giao này? Bởi đã từ lâu, Tây Môn Đạt là nghĩa đệ của Bang chủ Cái bang Hầu Mộ Thiên.

Việc này người ngoài không được phép hay biết, song Tây Môn đại nhân được ngồi vững ba mươi năm ở ghế Tri phủ Hà Nam cũng là nhờ Cái bang. Y nổi tiếng là vị quan công minh, có tài xử án như thần, chưa hề để xảy ra oan khuất. Tình hình trị an trong phủ Hà Nam cũng rất yên ổn.

Tây Môn Đạt nhiều lần ban sắc chỉ khen thưởng, nhưng mọi công lao kia thực ra đều thuộc về Cái bang. Bọn hóa tử có mặt khăp nơi, mau chóng tìm ra hung thủ để Tri phủ đại nhân thăng đường phán xét.

Mà Nhương Thư còn hơn em ruột Vô Ưu Cái, lại là Minh chủ võ lâm, thì tội gì Tây Môn Đạt không vơ lấy?

Nhắc lại, Tổng trấn phu nhân Tây Môn Lan nghe khách nói thế, vội mời mọc :

- Đã là người nhà cả, mời Tần hiền đệ và vị huynh đài đây an tọa.

Nhương Thư giới thiệu danh tánh Hoàng Nghi Tuyệt với chủ nhà rồi cùng gã ngồi xuống. Chàng lấy thư của Tri phủ Hà Nam trao cho Tây Môn Lan.

Trong bao thư có đến hai tờ hoa tiên. Nét mặt Tây Môn Lan biến đổi theo từng hàng chữ, bàn tay búp măng trắng trẻo run nhẹ.

Trong tờ thư thứ nhất có một đoạn đáng chú ý : “Thất muội! Ba năm trước, Thái hậu du ngoạn Lạc Dương, làm mất vật yêu quý là con Hồng Anh Vũ. Ngu huynh may mắn tìm thấy nên được Thái hậu ân thưởng hai ngàn lượng hoàng kim. Nay thấy hiền muội cảnh nhà thanh bạch, ngu huynh xin tặng một nửa, mong hiền muội nể mặt ta mà nhận cho!”

Tây Môn Lan đọc hết hai thư này, ngước lên nhìn Nhương Thư. Chàng trai họ Tần liền lấy ra một xấp ngân phiếu, cung kính đặt trước mặt nàng.

Tây Môn Lan thừa thông minh để hiểu số vàng này là của ai? Chị dâu của nàng, tức Tri phủ phu nhân, là một người keo kiệt, đâu dễ gì chịu nhả cho em chồng khoản hoàng kim nhiều như vậy?

Và nếu Tây Môn Dạt thực sự có lòng thương em gái sao không chia từ mấy năm trước?

Nhưng của ai cũng mặc, Tây Môn Lan rất cần số vàng hợp pháp này. Chồng nàng cũng như người ngoài không thể đàm tiếu, dị nghị vì đã có phong thư làm bằng chứng. Anh cho em là chuyện thiên kinh địa nghĩa, dù ít khi xảy ra trường hợp mà số vàng lên đến cả ngàn lượng!

Bỗng nhiên Tây Môn Lan có cảm giác tri ân đối với Nhương Thư, kẻ đã giải thoát gia đình mình khỏi cảnh nghèo khó. Vì với số lương bổng nhỏ bé của quan Tổng trấn, chắc chắn lúc về hưu, không dành dụm nổi trăm lượng bạc chứ đừng nói bạc ngàn.

Bổng lộc của quan lại triều đình rất thấp, do vậy, việc tham ô, nhũng nhiễu rất phổ biến. Ai cũng muốn vơ vét một mớ để dưỡng già. Trong mười vị quan, may ra chỉ một là thanh liêm.

Tri phủ Hà Nam, anh nàng, đã viết rất rõ yêu cầu của bọn Nhương Thư, là được tạm trú ít hôm để cứu người thân đang bị giam cầm trong Điền gia trang. Dinh Tổng trấn thì rộng thênh thang, lại là cơ ngơi do triều đình cung cấp, Tây Môn Lan chẳng mất mát gì cả mà được ngàn lượng vàng, bảo sao nàng không cảm kích Nhương Thư?

Hơn nữa, Tổng trấn phu nhân chẳng ưa gì quan Tri phủ Sơn Đông lẫn thông gia của lão là Kỵ Ba Thần Quân! Hôm đám cưới con họ, nàng đã mất toi năm chục lượng bạc dù chẳng được ăn miếng nào. Nếu đến dự, nàng phải mừng trăm lượng, hết cả tiền chợ tháng ấy!

Ai cũng bảo “tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tựa thiên kim!” Nhưng thực ra, sự giàu sang đã tạo cho con người một ái lực! Người quân tử lãnh đạm với bọn phú quý song đàn bà lại chưa bao giờ được xem là quân tử. Vì thế, Tây Môn Lan chợt có ý định thân cận với Nhương Thư, nhất là khi chàng công tử giàu nứt đố đổ vách này lại hiền lành, nhân hậu chứ không kiêu ngạo như bọn trọc phú! Tây Môn Lan vui vẻ nói :

- Nay công tử đã là bái đệ của đại ca ta, thì hãy gọi ta là thất tỷ cho đúng lễ!

Nhương Thư vội vòng tay :

- Tiểu đệ xin tuân mệng thất tỷ!

Và chàng lấy ra một túi lụa nhỏ, kính cẩn nói :

- Đây là chút quà bái kiến của tiểu đệ, mong thất tỷ hạ cố thu nhận.

Tây Môn Lan hài lòng, bảo ả tỳ nữ đưa khách vào hậu viện tắm gội, nghỉ ngơi rồi chờ cơm trưa. Phần nàng mau mắn về khuê phòng giấu kỹ xấp ngân phiếu.

Khi đổ túi lụa ra xem thử, Tây Môn Lan chóng váng, tròn mắt nhìn hơn chục viên Lam Bảo Ngọc và Hồng Bảo Ngọc quý hơn vàng. Trị giá số châu báu vượt xa số vàng ngàn lượng. Nàng tin chắc rằng trong thành Tế Nam này không một nữ nhân nào có được loại ngọc xinh đẹp đến thế!

Lam Bảo Ngọc thì may ra con mụ Tri phủ phu nhân còn có được, là sản phẩm của Trung Hoa. Nhưng những viên Hồng Bảo Ngọc đỏ như máu bồ câu này chỉ có ở Miến Điện và Xiêm La!

Tây Môn Lan bồi hồi nghĩ đến lúc mình đeo châu báu xuất hiện trước mặt lũ mệnh phụ kênh kệu trong thành! Cảm giác chiến thắng quả là tuyệt diệu!

Ngay buổi chiều Nhương Thư và Hoàng Nghi Tuyệt mang mặt nạ, đội tuyết tìm đến Thiền Vân ni viện ở gần cửa Nam thành, nơi tu hành của Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm.

Ni viện nằm sâu trong khoảnh vườn đào u tịch, vắng vẻ, rất thích hợp với việc xa lánh bụi hồng trần.

Tuyết rơi mù mịt, hoa đào chưa nở, vậy mà quanh vườn thấp thoáng rất nhiều bóng khách nhàn du. Họ co ro trong áo choàng lông, đi qua đi lại cho đỡ lạnh, miệng lẩm bẩm liên hồi, chẳng phải là ngâm thơ vịnh tuyết mà là chửi cha mắng mẹ cái phiên gác gian khổ.

Trách nhiệm của một trăm tên bang chúng này là giữ kỹ vị ni cô pháp danh Vô Sắc cho đến lúc Điền trang chủ qua đời.

Khi Vô Sắc, tức Điền Ngọc Trâm về dự đám tang cha sẽ lọt vào tay Kỵ Ba Thần Quân. Lão chỉ cần nửa khắc để nhiếp hồn buộc Ngọc Trâm tự ý xin hoàn tục và trở lại thành con dâu của lão ta. Nhưng thế thì tại sao Thần quân không giúp cho Điền Đông Giám chết sớm hơn, rồi dùng bản lãnh thần thông vào ni viện mà khống chế Ngọc Trâm?

Thành Võ Chiến cũng muốn như vậy nhưng không dám vì nhiều lý do. Thứ nhất, Điền trang chủ quan hệ rất rộng rãi, không phải chỉ ở đất Sơn Đông mà cả Bắc Kinh và các phủ lân cận. Thứ hai, không có loại thủ pháp hay dược độc nào giết người mà không để lại dấu vết. Nếu Hổ Hồng Nhan đòi mổ xác khám nghiệm thì Thần quân sẽ nguy to. Do vậy lão quái đã phải dùng Nhiếp Hồn thuật biến Điền Đông Giám thành một kẻ chán ăn. Không ăn thì sẽ chết và chẳng ai nghi ngờ hay buộc tội Thần quân được cả.

Khi Điền trang chủ lâm bệnh, người trong họ đã mời các đại danh y đến chữa trị. Song nạn nhân vẫn lỳ lợm, không chịu nuốt bất cứ loại thực phẩm nào ngoại trừ nước lã. Người ta đành phải nấu sâm già cho lão uống cầm hơi. Sâm dù quý cách mấy cũng không thay được gạo, thịt, do đó, sớm muộn gì họ Điền cũng chết vì kiệt lực.

Còn việc đột nhập Thiền Vân ni viện thì Thần quân chịu thua. Ngôi chùa nữ này có đến ba trăm mụ ni cô, đầu láng bóng như nhau, nửa đêm biết ai với ai mà mò. Vào ban ngày thì dễ bị lộ và rất nguy hiểm, vì ni viện này được sự đỡ đầu của chính hoàng Thái hậu. Đây cũng là nơi mà vợ con các quan lại Tế Nam thường xuyên đến lễ Phật.

Nhắc lại, Nhương Thư và Hoàng Nghi Tuyệt quan sát hồi lâu, nhận ra Thiền Vân ni viện được canh phòng cẩn mật, thất vọng quay về dinh Tổng trấn.

Tối hôm ấy, Nhương Thư lộ vẻ buồn rầu, họ Hoàng liền nhắc nhở :

- Sao công tử không lấy túi gấm mà Ngọa Long Tú Sĩ đã trao lúc lên đường. Lão ta dặn rằng khi nào gặp khó khăn thì hãy mở cẩm nang ra.

Nhương Thư gượng cười :

- Tại hạ không quên, chỉ thẹn mình thiếu cơ trí, chưa bao giờ tự giải quyết được việc gì cả.

Hoàng Nghi Tuyệt vỗ vai chàng, cười khanh khách :

- Nhân vô thập toàn! Hà tất công tử phải ưu phiền vì khiếm khuyết nhỏ nhoi ấy? Vả lại, chẳng phải lòng nhân của công tử đã thu phục được trí tuệ của Lỗ tú sĩ đấy sao?

Nhương Thư hổ thẹn, mở bọc hành lý lấy túi gấm để xem diệu kế của Ngọa Long Tú Sĩ.

Chàng và Hoàng Nghi Tuyệt kề đầu đọc chung, lát sau nhìn nhau mỉm cười, giơ ngón cái khen ngợi tài thần cơ diệu đoán của Lỗ Đăng Hân. Lão ta đã đoán trước việc Thiền Vân ni viện bị phong tỏa và bày cho Nhương Thư kế sách xâm nhập đúng như câu “Ốc trung quyết sách, thắng ư thiên lý ngoại!” (ở nhà liệu việc mà thắng xa ngàn dặm)

Hai người liền khăn áo chỉnh tề lên khách sảnh mời Tổng trấn phu nhân đến thương lượng. Dĩ nhiên Tây Môn Lan vui vẻ đáp ứng, chẳng hề nghi ngại.

Hôm sau là rằm tháng chạp, Tổng trấn phu nhân lên kiệu đi đến Thiền Vân ni viện để lễ Phật. Là vợ của quan nhị phẩm, Tây Môn Lan được dùng kiệu phủ sa hay lụa màu xanh. Trời hạ thì sa, trời đông thì lụa dầy. Trong kiệu còn có lồng than bằng đồng để sưởi ấm.

Ngoài hai gã phu khiêng kiệu, Tây Môn Lan còn mang theo mười gã vệ binh đeo đao tiền hô hậu ủng rất oai phong. Nhà nàng nghèo nhưng danh giá nhất nhì Sơn Đông này.

Mới giữa giờ Thìn nên Tây Môn Lan là tín đồ đến sớm nhất, khiến bọn bang chúng Sơn Hải bang mai phục bên ngoài ni viện phải ngạc nhiên, song chẳng chút nghi ngờ. Đương nhiên chúng không dám chận đường để hỏi han.

Cửa chùa đã rộng mở và bên trong sân gạch phía trước có hơn chục nữ ni đang quét tuyết chuẩn bị đón khách thập phương.

Một ni sư tuổi trung niên đon đã chào hỏi :

- A di đà Phật! Sao hôm nay nữ thí chủ đến sớm hơn mọi rằm khác vậy?

Tây Môn Lan vén màn kiệu, vui vẻ đáp :- Đêm qua đệ tử có giấc mơ lạ nên đến sớm để thỉnh giáo Thần ni.

Vị ni cô kia cười bảo :

- Sư phụ đang đi quyền ở hậu tự, Tây Môn thí chủ cứ thẳng vào mà bái kiến.

Tây Môn Lan gật đầu, dặn bọn vệ binh ở lại sân trước rồi ra lệnh cho phu kiệu đưa mình đi tiếp. Qua khỏi Quan Âm bảo điện là đến vườn hoa nhỏ nằm giữa ba dãy Thiền đường. Sau lưng Thiền đường mới là tăng xá của các nữ ni.

Trụ trì ni tự này có pháp hiệu Thiền Vân khỏe mạnh, minh mẫn. Người ta đồn rằng Thần ni rất giỏi võ, song chưa ai thấy bà xuất thủ bao giờ.

Thần ni noi gương Thiếu Lâm tự, dạy khí công và võ nghệ cho các ni cô, song chỉ dạy quyền cước chứ không dạy kiếm thuật.

Thấy cỗ kiệu quen thuộc dừng cạnh sân gạch, Thần ni bỏ dở pho quyền, bước vào ngồi trong tòa tiểu đình bát giác gần đấy.

Tây Môn Lan đã xuống kiệu, tất tả đi đến tiểu đình, cung kính đảnh lễ trước thềm. Thần ni thấy mến vị phu nhân nghèo mà mộ đạo này nên hiền hòa bảo :

- Đã là chỗ quen biết, sao thí chủ lại phải đa lễ như vậy? Xin mời vào dùng với lão ni chén trà cho ấm.

Tây Môn Lan khép nép ngồi xuống chiếc đôn sứ cạnh bàn đá, nhấp hớp trà thơm nóng bỏng.

Thần ni nhìn khách chăm chú rồi nói :

- Phải chăng thí chủ có việc quan trọng muốn bàn với lão ni?

Tây Môn Lan ngượng ngập gật đầu :

- Bẩm Phương trượng! Hôm nay đệ tử đến đây vì việc của ni sư Vô Sắc. Đệ tử nghe nói Kỵ Ba Thần Quân đã ám hại Điền trang chủ và sẽ hạ thủ luôn Vô Sắc để đoạt gia sản.

Thiền Vân thần ni bình thản đáp :

- Vô Sắc đã là người nương thân cửa Phật, không màn đến của cải, còn sự an toàn của nó đã có bần ni lo liệu. Thí chủ bất tất phải quan tâm.

Tây Môn Lan nóng mặt cười nhạt :

- Phật tổ cũng dạy chúng sinh phải hiếu để, lẽ nào con thấy cha sắp chết mà không cứu?

Thần ni cau mày :

- Điền lão thí chủ lâm trọng bệnh, các danh y còn bó tay thì Vô Sắc làm gì được?

Tây Môn Lan nghiêm giọng :

- Điền trang chủ bị Thần quân dùng thuật Nhiếp Hồn ám hại mà bỏ ăn đến chết chứ chẳng bệnh hoạn gì cả. Đệ tử cam đoan cứu được Điền lão, chỉ cần sự hợp tác của Thần ni mà thôi.

Thiền Vân lưỡng lự :

- Thôi được, lão ni sẽ gọi Vô Sắc ra đây xem ý nó thế nào

Bà quay sang bảo nữ ni hầu trà :

- Tiểu Tĩnh! Con mau gọi Vô Sắc sư tỷ đến đây.

Lát sau, Tiểu Tĩnh đưa một ni cô có thân hình thon gầy, dung mạo xinh đẹp nhưng đầy nét bi ai, ra đến tiểu đình.

- Vì sao phu nhân lại biết rõ nội tình Sơn Hải bang mà đứng ra can thiệp?

Tây Môn Lan mỉm cười :

- Đệ tử có một gã nghĩa đệ từ lâu thầm thương trộm nhớ Hổ Hồng Nhan. Y muốn làm rể họ Điền nên ra sức lập công, cứu cho được cha vợ.

Vô Sắc chính thị con cọp cái xinh đẹp đất Tế Nam nên tính nóng như lửa vẫn còn. Nàng giận dữ nạt :

- Mụ chớ nói càn! ta không nhịn nữa đâu nhé.

Tây Môn Lan che miệng cười khanh khách :

- ối chà! Kẻ tu hành sao lại hung dữ đến thế? Sau này ta phải bảo nghĩa đệ dạy dỗ lại mới được.

Rồi nàng giơ tay vẫy hai gã phu kiệu, họ vội rảo bước đến ngay.

Thiền Vân thần ni dù có định lực thâm hậu cũng không chịu nổi cảnh này, liền gằn giọng :

- Thí chủ đừng ỷ mình là Tổng trấn phu nhân mà tự tung tự tác. Lão ni sẽ tấu lại với hoàng Thái hậu đấy.

Tây Môn Lan xua tay, ra hiệu cho bà im lặng. Thần ni ngơ ngác nhìn đệ tử yêu thét lên khi một gã lính khiêng kiệu lột nón ra :

- Tần tướng công!

Và nàng lảo đảo như sắp ngất xỉu. Thiền Vân thần ni vướng bàn đá nên không sao ra được để đỡ, nhưng gã họ Tần kia đã bay vút đến, ôm gọn thân hình ẻo lả của Vô Sắc và xoa bóp quanh gáy để cứu tỉnh.

Vô Sắc mở mắt ra, ôm chặc họ Tần mà khóc lóc kể lể :

- Tướng công ơi! Hai năm nay lòng thiếp chẳng lúc nào nguôi phiền muộn vì hối hận và nhung nhớ. Khi nghe tin chàng chết chỉ muốn tự sát cho xong.

Nhương Thư ngượng ngùng trước ánh mắt ngỡ ngàng của vị lão ni, liền bịt miệng Hổ Hồng Nhan và dịu dàng nói :

- Ta may mắn thoát chết, trở về đây rước nàng và cứu nhạc phụ. Ngôi chính thất vẫn mãi là của nàng.

Ngọc Trâm thẹn thùng nói :

- Thiếp mặt mũi nào mà tranh giành ngôi thứ với Thúy Sơn?

Té ra dù không ra khỏi ni viện nhưng Ngọc Trâm cũng am tường chuyện giang hồ, biết cả việc Thúy Sơn là gái giả trai. Có lẽ đám nhà bếp tình cờ đi chợ nên nghe ngóng được.

Ngọc Trâm không để ý đến nét mặt kỳ quái của Nhương Thư, quay sang giới thiệu tình quân với Thần ni :

- Sư phụ! Chàng chính là trượng phu của đồ nhi từ cõi chết trở về.

Thiền Vân thần ni ngán ngẩm, tiếc công dạy dỗ con cọp cái đa tình kia! Thân đang là ni cô mà thản nhiên ôm ấp nam nhân trước mặt trụ trì thì còn tu hành chi nữa.

Bà chưa kịp nổi giận thì Nhương Thư đã quỳ xuống đảnh lễ :

- Đệ tử Phật Quang tự, Ngũ Đài sơn, xin ra mắt Thần ni.

Thiền Vân chấn động hỏi lại :

- Thí chủ là đệ tử của vị thần tăng nào vậy?

Nhương Thư cung kính đáp :

- Bẩm Thần ni! Tiên sư là Phật Đăng Thượng Nhân, lúc sinh tiền vẫn thường nhắc đến Thần ni.

Thiền Vân hoan hỉ nói :

- Thiện tai! Thiện tai! Té ra thí chủ là truyền nhân của Phật Đăng sư huynh! Theo vai vế ngươi hãy gọi ta là sư thúc.

Vài khắc sau, khi khách thập phương đến đông thì kiệu của Tổng trấn phu nhân cũng rời ni viện. Bước chân hai gã kiệu phu vẫn bình thường khiến không ai có thể nghi ngờ rằng trong kiệu có đến hai người ngồi. Với công lực của Nhương Thư và Hoàng Nghi Tuyệt thì dẫu khiêng ngàn cân cũng vẫn nhẹ nhàng.

Chiều mười sáu, dinh Tổng trấn có thêm vài vị khách. Họ mặc y phục võ quan, chừng như là thủ hạ của Tổng trấn mang thư về thăm nhà.
Bốn người này chính là Ngọa Long Tú Sĩ, Dương Châu Thần Thâu, Đoan Mộc Anh và Triều Châu Thần Y.

Nhương Thư giới thiệu Điền Ngọc Trâm với những người mới đến, bắt Đoan Mộc Anh gọi nàng bằng đại thư. Anh nhi không chịu, trợn mắt nói :

- Tiểu muội đến trước phải làm chị, sao làm em được?

Nhương Thư liền nhỏ nhẹ giải thích rằng Ngọc Trâm là chị cả của bọn Mã Lan, tuổi tác hơn cả Anh nhi rắt nhiều.

Đoan Mộc Anh không tin, hờn dỗi nói :

- Đại ca lừa tiểu muội ư? Y thị không có lông thì làm sao lớn hơn được Anh nhi?

Cô gái rừng rú này mới học tiếng Bắc Kinh chẳng bao lâu nên dùng chữ mao thay cho chữ phát, khiến Tổng trấn phu nhân Tây Môn Lan phá lên cười nắc nẻ, còn đám nam nhân chỉ dám nhếch mép.

Hổ Hồng Nhan biết phận hàng thần, cố nén cơn giận dữ, cúi gầm mặt xuống đất trông rất đáng thương. Nhương Thư thấy gia sự rối ren, vừa buồn vừa xấu hổ cho cái tính đa mang của mình, liền đứng lên đi về phòng.

Anh nhi mang bản chất hoang sơ tinh tuyền, tuy ngoài miệng nhận vợ chồng nhưng trong lòng vẫn xem Nhương Thư như người cha. Nay thấy chàng buồn vì mình, Anh nhi sợ hãi, hối hận, rời ghế lao vút theo chặn đường, ôm chân Nhương Thư mà khóc :

- Anh nhi đã biết lỗi, đại ca hãy đánh đòn tiểu muội chứ đừng buồn rầu nữa! Từ nay Anh nhi chẳng bao giờ dám cãi lời đại ca, dù có phải gọi ả không lông kia là bà nội cũng chẳng sao!

Nàng dùng tiếng Hồ Nam, gợi cho Nhương Thư nhớ đến mẫu thân. Chàng bùi ngùi đỡ Đoan Mộc Anh lên vỗ về :

- Ta rất yêu thương Anh muội, đâu nỡ đánh đòn.

Anh nhi sung sướng cười khì, quay lại gọi Ngọc Trâm là đại thư, ngồi xuống bên cạnh, dáng điệu rất ân cần, trìu mến.

Nhương Thư hài lòng, về ghế cùng mọi người bàn bạc kế sách cứu Điền trang chủ và bọn Bất Trí thư sinh. Tổng số tù nhân lên đến tám người nên công việc không hề dễ dàng chút nào cả.

Ngọa Long Tú Sĩ yêu cầu Ngọc Trâm vẽ lại sơ đồ nhà cửa trong Điền gia trang. Ông xem kỹ, trầm ngâm suy nghĩ, vầng trán rộng và gương mặt sáng láng toát ra vẻ thông thái, cương nghị.

Nhương Thư ngắm lão lòng đầy cảm giác kính phục và yêu mến. Trí tiệu của Lỗ tú sĩ hữu dụng hơn hẳn bản lãnh võ công của chàng.

Lỗ Đăng Hân bỗng hỏi :

- Dinh Tri phủ nằm cách Điền gia trang bao xa?

Tây Môn Lan là vợ võ tướng, bản thân cũng biết chút đỉnh võ nghệ nên rất thích thú chuyện giang hồ. Nàng thực sự bị cuộc phiêu lưu của bọn Nhương Thư mê hoặc, chẳng còn nghĩ đến hậu quả. Tây Môn Lan hồ hởi ứng tiếng ngay :

- Dinh Tri phủ ở mé Tây thành, cách Điền gia trang chỉ độ hơn dặm. Phải chăng Lỗ túc hạ sợ lão Quách Tốn cho quân đến tiếp viện thông gia?

Lỗ Đăng Hân mỉm cười lắc đầu :

- Không phải sợ mà là mong cho họ đến thật đúng lúc. Tháng này có hai người mười tám và mười chín. Đúng là trời đã giúp ta.

Lão bèn trình bày kế sách khiến cả nhà phải phục lăn. Ngay nửa đêm, Dương Châu Thần Thâu lập tức lên đường. Đối với một tay đạo chích thượng thừa như Bạch Túc Nhiên thì việc đột nhập Điền gia trang là điều khả thi, nhưng gã không thể cứu người ra và cũng chẳng được giao nhiệm vụ ấy.

Trong mùa đông, chẳng phải ngày nào tuyết cũng rơi mù mịt, mà đôi khi trở trời, chỉ lất phất vài hạt, hoặc hoàn toàn không. Nhưng kẻ tiên đoán được thời điểm ấy thì phải có tài thông thiên triệt địa cỡ Gia Cát Lượng.

Lỗ Đăng Hân đã không làm hổ thẹn cái thanh danh Ngọa Long Tú Sĩ, sáng mười tám tuyết ngưng rơi cho đến tận nửa đêm mười chín vẫn chưa có.

Và đúng giữa canh ba, một loạt những công trình phía sau Điền gia trang đột nhiên phát hỏa, cả nhà bếp, nhà kho, nhà tù đều bốc cháy.

Ngọn lửa xuất phát từ nhà kho, nơi chứa ngũ cốc và một lượng dầu mỡ thắp đèn rất lớn.

Biết có kẻ phá hoại, Kỵ Ba Thần Quân ra lệnh chữa cháy và phòng vệ thật cẩn mật. Nơi đầu tiên lão quan tâm là tòa nhà gạch kiên có đang nhốt bọn Bất Trí thư sinh.

Lão kinh ngạc khi thấy cửa chính vẫn còn ổ khóa lủng lẳng và bọn canh gác cũng xác nhận tù nhân chưa hề thoát ra. Lửa bốc lên từ bên trong, sức cháy rất dữ dội vì có một lớp rơm dầy cho tù nằm.

Thành Võ Chiến ngơ ngẩn nhủ thầm :

- “Chẳng lẽ họ Cao quẫn trí nên tự thiêu cả bọn? Hay hung thủ không cùng phe với tù nhân?”

Lửa đã lan sang hai công trình bằng gỗ khác. Thần quân đành gạt bỏ nghi vấn lao về hướng ấy.

Tình thân gia mặn nồng nên Quách tri phủ cùng em trai đã thống lãnh quân sĩ đến Điền gia trang giúp đỡ. Chàng ngốc Quách Lang Sinh ế vợ đã lâu, nay lấy được tiên nữ nên hết lòng tri ân cha vợ, hăng hái đốc thúc quân lính chữa cháy.

Quân sĩ triều đình ngày xưa thường kiêm luôn việc cứu hỏa mỗi lúc doanh trại, công đường bị cháy. Do vậy, họ có đầy đủ dụng cụ, hành sự rất hiệu quả.

Đám cháy được dập tắt, Thần quân ngỏ lời cảm tạ cha con họ Quách. Ân nhân rút cả, Thành Võ Chiến sực nhớ đến nhà tù, liền sai thủ hạ tưới nguội căn nhà đã sập, bới ra tìm hiểu sự thực.

Khi phát hiện không có xác chết nào cả, Thần quân giật bắn mình, lao về nơi Điền Đông Giám đang dưỡng bệnh.

Biểu đệ của Võ Lâm Mạnh Thường Quân là Điền Đông Tạo, run rẩy nói :

- Bẩm Thành lão gia! Lúc nẫy có mấy gã quân triều đình vào đây mang theo một bộ y phục binh sĩ. Lạ thay, Điền biểu huynh mở mắt nhổm dậy, mặc vào và đi theo họ, y như không hề mắc bệnh vậy. Biểu huynh còn nhờ lão phu nhắn lại rằng: Thành lão gia khôn hồn thì hãy đi khỏi Điền gia trang, bằng không thì sẽ rơi đầu trước công đường đấy.

Kỵ Ba Thần Quân rụng rời chân tay, hiểu rằng chỗ đứng ở Tế Nam đang lung lay. Điền Đông Giám có hậu thuẫn của vài đại thần ở Bắc Kinh sẽ dễ dàng khép tội Sơn Hải bang. Thành Võ Chiến quyết tìm cho được họ Điền để cứu vãn tình hình.

Lão cho thủ hạ điều tra bốn cửa thành, được biết rằng có một cỗ xe và toán kỵ binh ra khỏi cửa Tây lúc cuối canh tư, ngay khi cửa thành vừa mở.

Dù đã trễ một canh giờ nhưng Thần quân vẫn quyết định truy đuổi. Lão mang theo mười gã đệ tử chân truyền, Đài Loan tứ ngư ông và năm mươi tay đao thiện chiến nhất. Xe chở bệnh nhân, là Điền Đông Giám, tất không thể chạy nhanh được, Thần quân tự tin sẽ bắt kịp.

Thành Võ Chiến không hề nghĩ đến việc đối phương dụ mình vào trận mai phục vì lão chẳng biết việc năm phái đã thoát vòng cương tỏa. Thiết Thủ Cái vẫn gửi thư điều đặn, khẳng định thế chủ động của Sơn Hải bang, chỉ cần các toán sát thủ ám hại được Minh chủ võ lâm Tần Nhật Phủ là xong.

Dọc đường, Kỵ Ba Thần Quân còn được bọn đệ tử Cái bang sốt sắng chỉ dẫn đường đào tẩu của cỗ xe song mã và đám kỵ binh. Từ lâu nay, Phân đà Sơn Đông đã nghe lệnh Thiết Thủ Cái tận tụy phục vụ Thần quân. Có điều, giờ đây tình thế đã đảo ngược khi Vô Ưu Cái hồi phục.

Đúng như tính toán của Ngọa Long Tú Sĩ, họ bị Thần quân bắt kịp dưới chân đèo Cù Vân. Tuy hơi chột dạ trước địa hình hiểm ác của ngọn đèo, song Thành Võ Chiến lại tự trấn an rằng Tần Nhật Phủ đơn thương độc mã, không được năm phái hỗ trợ, chẳng có người để mai phục.

Hơn nữa, trừ khi phục binh đông đến vài trăm và gồm toàn những tay kiên dũng thì mới đáng sợ, bằng như ô hợp thì lão và đám thủ hạ tinh nhuệ thừa sức đánh tan.

Đã có chủ ý, Thần quân vẫn tiếp tục đuổi theo, đưa đoàn nhân mã lên đèo. Lão đến đuợc đỉnh thì nhìn thấy cỗ xe song mã và mười gã kỵ binh kia dưới lưng chừng đèo, chỉ cách độ hơn dặm.

Họ Thành mừng rỡ ra roi phi xuống, nào ngờ, hàng cây cổ thụ bên đường lần lượt ngã xuống, dầu có phóng qua cây trước cũng vẫn vướng cây sau. Cùng lúc ấy, hàng trăm tảng đá to lớn từ sườn núi lăn xuống, gây ra những tiếng động khủng khiếp như địa chấn. Thần quân kinh hoàng hiểu rằng phe đối phương đông đến mấy trăm vì phải hai ba người mới xô nổi tảng đá to lớn như thế.

Người ngựa đang bị dồn cục trước những thân cây, đường đèo lại hẹp, không có chỗ cho ngựa xoay trở. Thế là thảm họa ập xuống đầu bọn hải tặc.

Khi viên đá cuối cùng rơi xuống vực thẳm, khói bụi lắng hết, Thần quân mới phát hiện ra chỉ còn mình và Đài Loan tứ ngư ông sống sót. Họ giỏi khinh công nên mới thoát chết trước trận lở núi này.

Song chưa hết, trên sườn núi vọng xuống tiếng cười ngạo nghễ, quen thuộc của Vô Ưu Cái và tiếng niệm Phật trầm hùng của Khánh Hỉ đại sư. Kỵ Ba Thần Quân biết mình đã trúng kế, giận dữ gầm vang :

- Hầu Mộ Thiên! Ngươi tưởng có thể hại đưọc bổn Thần quân ư? Đừng hòng!

Dứt lời, lão cùng Đài Loan tứ ngư ông xông ngược về phía đỉnh đèo, cố mở đường máu thoát thân. Cả năm người đều mặc bảo y da cá nên không sợ gươm đao.

Nhưng toán cao thủ trấn giữ đỉnh đèo đã đón tiếp Thần quân bằng những viên hỏa đạn. Tay trái bị cụt không ảnh hưởng nhiều đến công lực và bản lãnh của họ Thành. Lão múa tít bảo đao che thân, đánh bạt những viên bi vàng óng khiến chúng phát hỏa, lửa bay loạn xạ song không thể dính vào người Thần quân.

Tuy nhiên trong khung cảnh ồn ào, náo loạn ấy, Thành Võ Chiến chẳng nhận ra một tiếng cạch khô khan phía sau lưng, tức là trước mặt Đài Loan tứ ngư ông.

Khi bốn lão đồng thanh rú lên :

- Bang chủ nhảy mau!

Thì cũng là lúc trái Bạt Sơn Thần Lựu cuối cùng phát nổ. Kỵ Ba Thần Quân đã kịp đề khí tung mình về phía trước, nhưng hơi muộn nên máu tươi hộc ra thành vòi, da thịt ở mông và hai chân nát bấy.

Đã thế, Thần lựu lại thổi thân hình Thành Võ Chiến, cộng với đà nhảy, đưa lão văng xa đến năm trượng, vượt qua đầu phòng tuyến đỉnh đèo. Lão cố nén đau dồn tàn lực mà đào tẩu.

Có ba bóng người đã đuổi theo, quyết không lưu lại tai họa cho võ lâm. Đó là Nhương Thư, Hoàng Nghi Tuyệt và Đoan Mộc Anh. Giờ đây mọi người mới biết cô gái sơn dã kia đã có tốc độ của loài báo.

Chạy được vài dặm, Thần quân biết mình khó thoát vì hai chân đau đớn, máu tuôn xối xả, liền dừng bước để đổi mạng với đối phương.

Bọn Nhương Thư chia thế tam giác vây lão cướp biển già vào giữa, lão ta ngạc nhiên khi không thấy Tần Nhật Phủ. Lão yên tâm đôi chút, vung đao tấn công con bé có nước da đen đúa, nhưng hai gã nam nhân kia đã xông vào.

Vô Ưu Cái không lầm khi nhận ra xét rằng Kỵ Ba Thần Quân lợi hại hơn Âm Sơn lão tổ. Ngoài việc mang bảo giáp, đao pháp của lão đã đến mức thượng thừa, so với Đao Đế chưa chắc đã thua.

Một mình chống ba, thân lại thọ trọng thương, thế mà Thành Võ Chiến vẫn ngoan cường tả xung hữu đột, hung hãn như hổ cùng đường.

Đánh lâu sợ rằng Đoan Mộc Anh sơ xuất, Nhương Thư liền nhân lúc lão quay lưng đón chiêu đao của Hoàng Nghi Tuyệt, xạ liền một đạo chỉ phong dũng mãnh vào hậu chẩm đối phương.

Do không biết chàng trai lạ mặt kia là Tần Nhật Phủ nên Thần quân hoàn toàn chẳng nghĩ đến việc kẻ địch có thể chạm đến mình từ khoảng cách hơn trượng.

Chỉ kình không xuyên thủng nổi xương đầu cứng rắn nhưng cũng làm cho họ Thành choáng váng, đau đớn, mắt mờ đi. Hoàng Nghi Tuyệt không hề bỏ lỡ cơ hội, chặt phăng thủ cấp kẻ thù, khiến Kỵ Ba Thần Quân chết mà không hiểu tại sao.

Đài Loan tứ ngư ông cũng bị các Chưởng môn và lực lượng đông đảo phe chính phái hạ sát. Chiến thắng trọn vẹn này khiến quần hùng phấn khởi, reo hò vang dội.

Vô Ưu Cái cười khanh khách, vỗ vai Ngọa Long Tú Sĩ mà khen ngợi :

- Công đầu thuộc về ngươi đấy. Cái kế nhỏ kia quả là tuyệt diệu, thu hoạch đến bất ngờ.

Mọi người cũng xúm vào tán dương khiến Lỗ Đăng Hân cao hứng phi thường. Lão vòng tay nói vài câu khiêm tốn rồi thì thầm vào tai Vô Ưu Cái, Hầu Mộ Thiên gật đầu, cao giọng ra lệnh :

- Yếu quyết của binh pháp là hư thực khó lường. Do vậy, chúng ta sẽ dọn dẹp chiến trường thật sạch, không được để lại bất cứ dấu vết nào.

Nam sáu trăm người cùng hành động nên công việc hoàn thành rất chóng vánh. Xác người ngựa bị ném cả xuống vực thẳm cạnh đèo, máu trên đường cũng được xúc đi.

Không một khách lữ hành nào được chứng kiến trận chiến, vì trước đó, xa xa đã cắm biển gỗ mang dòng chữ : “Đèo có hổ dữ, cấm đi qua!”

Thế là bách tính phải rẽ qua đường khác.

Đoàn người về đến Lạc Dương thì đã là ngày mùng bốn tết Nguyên Đán, và nhận được tin quan Tri phủ Sơn Đông Quách Tốn bị triều đình thuyên chuyển về Phúc Kiến.

Sau đó, Sơn Hải bang tan rã vì không thấy Kỵ Ba Thần Quân cùng toán viễn chinh trở lại, và người đỡ đầu là Quách tri phủ bị đổi đi. Cơ ngơi Điền gia trang hiện đang được chú họ Hổ Hồng Nhan là Điền Đông Tạo quản lý. Số tù binh trúng Nhiếp Hồn thuật lập tức được Phân đà Cái bang Tế Nam đưa về Lạc Dương để điều trị.

Dù Nhương Thư hết lòng tôn kính, võ lâm Mạnh Thường Quân vẫn vô cùng hổ thẹn, cương quyết xuất gia tại chùa Thiếu Lâm, giao hết cơ nghiệp cho rể và con gái.

Khánh Hỉ đại sư vì nể mặt Nhương Thư mà nhận Điền Đông Giám làm đệ tử, trở thành cao tăng đời thứ hai chứ không đến nỗi đứng hạng bét cùng với đám chú tiểu mới nhập môn.

Việc bứng Quách Tốn đi khỏi Sơn Đông chính là một bước trong kế hoạch của Ngọa Long Tú Sĩ, đề phòng trường hợp Kỵ Ba Thần Quân không đuổi theo hoặc không rơi vào bẫy mai phục ở đèo Cù Vân.

Chim câu đã mang thư của Nhương Thư, tức Tần Nhật Phủ đến Bắc Kinh, nhờ quan Tả Đô ngự sử họ Lâm ở Đông Xưởng, đút lót bộ Lại, hoán chuyển Tri phủ hai địa phương Sơn Đông và Phúc Kiến.

Thời gian thấm thoát qua mau, chẳng mấy chốc đã đến rằm tháng hai, Tổng đàn võ lâm ở chân núi Thiếu Thất, thuộc rặng Tung sơn đã được xây xong trước đây nửa tháng.

Công trình này tuy đơn giản nhưng rất đồ sộ và kiên cố, toát ra vẻ uy nghiêm lẫm liệt, xứng đáng là cơ quan quyền lực cao cả nhất võ lâm.

Dù khuôn viên mở rộng gấp đôi lúc trước nhưng những cây tùng già nua vẫn được giữ lại để che chở cho thảm cỏ xanh mượt mà. Chúng không hề che lấp tòa võ lâm đại sảnh ba tầng sừng sững, xây theo hình tháp trên nhỏ dưới to.

Tầng trệt rộng mênh mông có thể chứa cả ngàn người, bốn vách trổ cửa rất lớn, khi mở toang gần như không hề ngăn cách với sân gạch ở ba cạnh Nam, Tây, Đông, tăng khả năng hội họp lên gấp vài lần.

Hai tầng trên nhỏ hơn nhiều, là chỗ cư trú của Minh chủ và gia quyến. Nhiệm kỳ tính theo tuổi thọ hoặc sức khỏe của Minh chủ nên có thể Nhương Thư sẽ ở đây ba bốn chục năm hay hơn nữa.

Không phải chỉ đại sảnh là được lát nền, ốp tường bằng đá cẩm thạch Đại Lý mà tất cả những công trình khác cũng vậy.

Hai trăm cao thủ các phái làm nhiệm vụ ở Tổng đàn sẽ được bố trí trong những dãy nhà khang trang, sạch sẽ, được xây bằng cùng một loại vật liệu với đại sảnh.

Dĩ nhiên không thể thiếu vườn hoa với đầy đủ giả sơn, thủy tạ, suối khe, hoa cỏ. Tóm lại, gần nửa vạn hào kiệt giang hồ mặc sức suýt xoa, trầm trồ tán dương thánh địa của võ lâm.

Tiếng reo hò như sấm động khi mọi người được biết Tần Nhật Phủ là Tần Nhương Thư và hôm nay chính là ngày đại hỉ của chàng.

Ngộ biến tùng quyền, Vô Ưu Cái chỉ dọc tên cô dâu chứ không ai dám ló mặt ra. Một ả thì trọc đầu, ba ả mang bầu, ả chết, ả thất tung, chẳng lẽ đưa ra con mọi đen Đoan Mộc Anh ra chọc cười thiên hạ? Người giang hồ rất phóng khoáng nên chấp nhận tuốt, nâng chén chúc mừng lia lịa, ai nấy say mèm.

Hội đồng võ lâm cũng có thông báo qua tình hình, giúp mọi người hiểu rõ cục diện, cảnh giác đề phòng sự tái xuất của Báo Ứng hội, Tứ Phạn Thiên cung và Âm Sơn giáo. Hoàng Nghi Tuyệt được chọn làm Võ Lâm Chưởng kỳ sứ, có thể thay mặt Nhương Thư giải quyết mọi việc tranh chấp trên giang hồ. Ngọa Long Tú Sĩ, Bất Trí thư sinh và Triều Châu Thần Y được phong làm Võ Lâm Khách Khanh, cố vấn cho Minh chủ.

Thiết Kình Ngư, Dạ Quân Tử làm Chấp Pháp sứ giả, còn Tô Châu ngũ tặc làm Cận vệ, mỗi đội bốc chục người.

Mục Tử Lương, con trai Tỏa Hầu thì phụ trách hỏa xưởng chuyên chế tạo vũ khí. Gã rất hài lòng vì chính Tạ thần y cũng chỉ đảm nhiệm nghiên cứu thuốc trị thương và thuốc giải độc.

Kẻ có công lao với võ lâm đều được tưởng thưởng xứng đáng, quần hùng vui vẻ ra về, vững tin sự trường tồn của chính khí võ lâm. Đương nhiên họ hết lòng ca tụng Minh chủ Tần Nhương Thư, kẻ đã nhiều lần chết đi sống lại để tiêu diệt tà ma.

Chương 23: Long đàm tầm nghĩa phụ - Cựu địa ngộ thê nhi

Nhưng sóng gió giang hồ nào chịu sớm lặng yên! Gần giữa tháng ba, Vô Ưu Cái đột ngột đến Tổng đàn võ lâm cùng Nhương Thư, Nghi Tuyệt và đám nam nhân bàn bạc rất lâu, bọn đàn bà không đưọc tham dự.

Nửa đêm, Nhương Thư lên lầu bảo Ngọc Trâm thu xếp hành lý cho mình. Chàng phải đi ngay đến Tây Sơn vì Ải Thần Quân gặp kẻ thù cũ là Hằng Sơn song lão. Thần quân biết mình không thể địch lại nên đã nhờ đệ tử Cái bang gởi thư cầu cứu Nhương Thư!

Việc nghĩa chẳng thể đừng nên các nàng không dám cản trở, chỉ dặn dò chàng bảo trọng. Ai cũng bùi ngùi chỉ mình Đoan Mộc Anh khô lệ, chẳng nói năng gì.

Vô Ưu Cái và Tạ thần y đã khởi hànhh hồi chiều nên Nhương Thư một mình ra đi. Gần sáng, chàng mang mặt nạ rồi mới lên đường. Trong dung mạo một hán tử trung niên mặt mũi tầm thường, chàng chẳng sợ ai nhận ra mình.

Tháng ba là lúc xuân về đến vùng Hoa Bắc. Dọc đường, hoa dại lác đác nở, rừng cây đâm chồi nẩy lộc vì trút bỏ được lớp áo tuyết lạnh lùng.

Cảnh vật mùa xuân tươi thắm không làm ánh mắt Nhương Thư bớt nặng trĩu âu lo. Thực ra, Ải Thần Quân đã bị Hằng Sơn song lão bắt giữ ở trên núi Càn Sơn, căn cứ của Tứ Phạn Thiên cung.

Tại sao Song lão lại từ vùng cực Bắc Sơn Tây đến Thái Nguyên bắt Ải Thần Quân rồi đưa về tận Càn Sơn? Phải chăng họ đã được Âu Dương Lăng mang vàng đến dâng tặng, mời hai vị thần núi Bắc Nhạc về hỗ trợ?

Khó mà hiểu được, vì trong bức thư gởi đến Tổng đàn Cái bang chỉ viết mơ hồ : “Ải Thần Quân Tần Nhật Phủ hiện bị giam ở Càn Sơn, ai muốn gặp xin cứ đến!”

Cuối thư thự danh là : “Hai người già đất Hỗn Nguyên.”

Hỗn Nguyên chính là nơi ngọn Hằng Sơn tọa lạc, nên Vô Ưu Cái và Ngọa Long Tú Sĩ đã đoán ra Hằng Sơn song lão! Hai vị thần núi này tuổi độ tám chục, ba mươi mấy năm trước từng bị Ải Thần Quân đả thương. Nay có lẽ họ luyện thành thần công tuyệt thế gì đó nên mới bắt sống được Tần lão. Vả lại, Ải Thần Quân đã san sẻ cho Nhương Thư mười năm tu vi nên yếu đi.

Lời lẽ mơ hồ là để tránh trách nhiệm sau này, nhưng vật chứng thì rất thực. Đấy là bộ dao mổ mà Thần quân mang từ Ba Tư về.

Lỗ tú sĩ khẳng định việc này có liên quan đến Âu Dương Lăng, vì ngoài gã và đám đệ tử Tứ Phạn Thiên cung, không ai có thể vượt cánh rừng Mông Hãn Hoa, mang Thần quân đến Càn Sơn.

Và ngược lại, người duy nhất khả dĩ cứu được Thần quân là Tần Nhương Thư. Cái bẫy này dành riêng cho chính chàng!

Tuy biết thế nhưng Nhương Thư vẫn dấn thân vào hiểm địa, bằng mọi giá phải cứu cho được cha nuôi.!

Trước khi đến Thái Thất Sơn báo tin, Vô Ưu Cái đã sớm điều cao thủ ở phái Hoa Sơn và Cái bang tập trung ở bờ Nam Hoàng Hà. Họ sẽ dùng thuyền con vượt sang bờ Bắc, hỗ trợ Nhương Thư. Nhưng khổ thay, họ không thể theo chàng vào tận Càn Sơn, chỉ ở bìa rừng, chờ chàng mang Ải Thần Quân ra, chặn đánh truy binh thế thôi!

Chiều mười sáu, Nhương Thư có mặt ở bờ sông, Hầu bang chủ và Ngọc Tâm Tử đã hiện diện.

Họ Hầu nghiêm nghị dặn dò Nhương Thư lần cuối, trước khi chàng lên thuyền vượt sông :

- Tần hiền đệ! Ải Thần Quân tuổi đã gần trăm, nếu có chết thì cũng chẳng oan ức gì nữa! Nay ngươi đang nắm vận mệnh võ lâm, không được cưỡng cầu mà tính mạng lâm nguy, phụ lòng tin của mọi người.

Nhương Thư vâng dạ, hứa sẽ bảo trọng, song lòng chàng nghĩ sao thì chẳng ai hiểu được.

Xẩm tối, gần trăm chiếc thuyền con cỡi luồng sóng dữ sông Hoàng Hà mà sang bờ Bắc. Nước chảy xiết nên họ phải chèo cật lực, thả chéo từ một vị trí xa hơn dặm, chứ chẳng thể nào cắt ngang mặt sông mà thẳng tiến. Cuối canh hai, đoàn thuyền cặp bờ Bắc. Ba trăm cao thủ nằm lại mặt đê, chỉ mình Nhương Thư đột nhập Càn Sơn.

Nhờ nhãn lực phi thường, Nhương Thư chẳng cần đèn đuốc, nương ánh trăng băng rừng mà vào.

Đầu xuân, Mông Hãn Hoa nở rộ, hương thơm nhàn nhạt quyện lẫn sương đêm nên nồng nàn hơn ban ngày. Thật khó mà biết được tại sao loài hoa quái quỷ này lại duy nhất sinh sôi ở Càn Sơn?

Gần cuối canh ba, Nhương Thư đến được bìa rừng phía trong, ngồi trên chạng ba cây quan sát cảnh điêu tàn đổ nát của Tứ Phạn Thiên cung.

Không một công trình nào được xây dựng lại vì Càn Sơn chẳng còn là sào huyệt an toàn nữa.

Cỏ cây vô tri không có tội nên vườn hoa phía sau thạch cung dường như vẫn nguyên vẹn. Và giờ đây, trên bãi cỏ là một chiếc lồng gỗ kiên cố.

Đối phương chủ tâm dụ Nhương Thư vào bẫy nên không giấu diếm tù nhân mà tung ra như miếng mồi hấp dẫn.

Vườn hoa sáng rực bởi mấy chục cây đuốc lớn, soi rõ thân hình nhỏ bé, đáng thương của Ải Thần Quân trong cũi gỗ. Các ngọn đuốc đều có những mảnh đồng lá bóng loáng che phía sau để ánh sáng tập trung vào khu vực nhốt tù, và ngược lại, vòng ngoài vườn hoa khá tối tăm.

Trăng rất sáng nhưng không giúp Nhương Thư nhìn rõ toán mai phục trong những lùm cây, bụi hoa.

Nhương Thư đã được mấy lão hồ ly dặn dò kỹ lưỡng nên không loạn động, nhảy xuống đất cẩn trọng tiến về vườn hoa.

Chàng vượt qua tòa thạch cung đổ nát, êm ái như mèo đi một vòng để thám thính. Lạ thay, quanh hoa viên chẳng hề có một mống phục binh nào cả?

Như vậy, có lẽ là phe đối phương ẩn trong khu vườn cách nơi đây vài chục trượng? Nếu thế thì chàng đủ thời gian phá cũi gỗ, cõng nghĩa phụ đào tẩu, trước khi kẻ thù kịp kéo đến!

Bất Trí thư sinh từng tiên liệu trường hợp này và cảnh báo rằng khi ấy cái cạm bẫy sẽ nằm ngay nơi nhốt tù. Chỉ cần chục cân hỏa dược là Nhương Thư và cha nuôi sẽ cùng tan xác.

Nhương Thư căng mắt quan sát, nhận ra thảm cỏ chung quanh cũi gỗ hoàn toàn nguyên vẹn, không hề có dấu đào bới để chôn thuốc nổ. Củi gỗ có bốn chân cao hơn mặt đất ba xích, và phía dưới cũi là cỏ xuân mơn mởn, cùng màu với toàn khu vực.

Vậy là không có hỏa dược, Nhương Thư nằm im trong bụi hoa suy nghĩ, quyết định liều một chuyến. Tiếng rên khe khẽ của người trong cũi khiến chàng đứt từng khúc ruột, không còn nhẫn nại được nữa.

Nhương Thư chồm dậy, lao vút như tên bắn đến bên lồng gỗ, vung kiếm chặt phăng ổ khóa sắt, mở cửa kéo thân hình nhỏ bé của Ải Thần Quân ra.

Tiếng thép chặt thép vang lên khô khan, khá rõ ràng trong đêm vắng và dĩ nhiên đối phương luôn giám sát chặt chẽ khu vực nhốt tù. Tiếng báo động, quát tháo vang lại từ bìa rừng chung quanh không làm chàng lo sợ vì tự tin sẽ kịp thoát đi.

Song chính lúc này cái bẫy chết người mới hoạt động, Ải Thần Quân đột nhiên nhe răng cười ác độc, đồng thời giáng một quyền sấm sét vào ngực Nhương Thư. Thân hình chàng họ Tần văng ngược ra sau hơn trượng, lăn lông lốc trên thảm cỏ.

Ải Thần Quân ngửa cổ cười dài khoái trá, để lộ hàm răng khấp khểnh vàng ố, khác hẳn với hàm răng đẹp của Tần Nhật Phủ.

Và quái dị thay, thân hình lão ta dần dần duỗi ra, cao hơn trước hai gang tay, khiến bộ y phục lem luốc kia trở nên ngắn cũn cỡn. Công phu xúc cốt của người này quả đã đạt đến mức siêu phàm.

Lão ta đắc ý đi về phía thân hình bất động của Nhương Thư, thưởng lãm thành quả của mình. Nạn nhân có sống sót thì cũng trọng thương bởi cú đấm bất ngờ và vô cùng mãnh liệt vào ngực trái.

Song việc đời lại như phong vân, bất trắc chẳng thể nào lường trước được, nên đôi khi thợ săn trở thành kẻ bị săn. Nhương Thư đang nằm úp mặt xuống cỏ, bỗng ngẩng lên và hất tay hữu xạ một đạo chỉ kình vào bụng dưới kẻ thù. Trong khoảng cách nửa trượng, không ai có thể tránh được Lục Mạch thần chỉ cả!

Lão già lạ mặt kia rú lên thảm khốc, ôm bụng lảo đảo vì huyệt Khí Hải bị xuyên thủng. Ngoài cảm giác đau đớn của da thịt, phủ tạng, còn có cả sự kinh hoàng của một võ sĩ bị phế võ công.

Trong khí công, cơ thể con người có đến ba nơi mang tên Đan điền, ứng với Tam Tài: Thượng Đan điền nằm trong đầu, tụ điểm là huyệt Ấn Đường, ở giữa hai chân mày, là nơi chứa thần, thuộc về thiên của Tam Tài. Trung Đan điền nằm ở vùng bụng trên, tụ điểm là huyệt Trung Uyển, nằm trên rốn hai lóng tay, tàng trữ hậu thiên khí do hô hấp và địa khí (do ăn uống). Nó ứng với nhân của Tam Tài.

Tối quan trọng là Hạ Đan điền, nằm trong cùng bụng dưới rốn, tụ điểm là huyệt Khí Hải. Đây là nơi tàng chứa chân khí của người luyện nội công, sức lực từ đấy đi ra tứ chi và toàn cơ thể.

Nay lão già lạ mặt kia bị thăng Khí Hải, tức thị công lao luyện tập mấy chục năm hoàn toàn mất hết, nhưng không chết.

Tiếng rú thê lương của lão già khiến đồng đảng thất kinh, có giọng già nua hớt hải kêu lên :

- Nhị đệ làm sao thế?

Nhưng Nhương Thư đã đứng lên, chụp lấy nạn nhân, kê kiếm vào cổ lão ta và dõng dạc quát :

- Hằng Sơn đại lão! Mau đưa nghĩa phụ ta ra đổi lấy lão chết tiệt này!

Phe đối phương đã đến nơi, vây quanh Nhương Thư, tổng số đông đến gần trăm, đứng đầu chính thị Âu Dương Lăng là một lão nhân cao gầy, mặc đạo bào vàng.

Gương mặt đầy sẹo của Âu Dương Lăng lộ rõ vẻ thất vọng và căm hờn. Gã đã bị Nhương Thư chặt rụng ba ngón tay và đâm nát mặt ở bờ sông Hoàng Hà.

Âu Dương Lăng không sao tin nổi việc Nhương Thư có thể thoát chết dưới quyền của lão nhị Sầm Thành Dũ. Gã tức tối hỏi :

- Vì sao ngươi phát hiện được mưu kế này? Và phải chăng ngươi đã lót thép vào ngực?

Nhương Thư bình thản đáp :

- Nghĩa phụ ta suốt đời không ăn tỏi, còn lão quỷ họ Sầm này lại nồng nặc mùi ấy khiến ta cảnh giác, dồn chôn khí vào ngực. Khi lão xuất thủ, ta thuận đà nhảy đi nên chỉ bị thương nhẹ!

Nhương Thư không nói hết sự thực, vì đúng là chàng có mặc bảo y! Đoan Mộc Anh đã lột tấm Giao Bì Giáp của Kỵ Ba Thần Quân tặng cho chàng! Nếu không có nó, Nhương Thư đã bị thương nặng hơn nhiều.

Chàng không quen nói dối nhưng cũng biết im lặng để đỡ bị thiệt thòi trong chốn giang hồ, kẻ thật thà khó mà tồn tại được! May thay, cuộc chiến ở đèo Cù Vân được giữ kín, làm cho thiên hạ tưởng rằng Kỵ Ba Thần Quân sợ Nhương Thư nên rút về Đông Hải. Nếu biết Thành lão quỷ đã chết, chắc Âu Dương Lăng cũng tiên liệu được việc Nhương Thư có bảo y.

Bỗng lão nhị, con tin trong tay Nhương Thư thều thào lên tiếng :

- Đại ca! Tiểu đệ bị phế võ công chẳng muốn sống nữa! Đại ca cứ giết tên tiểu quỷ này và Ải Thần Quân để báo thù cho tiểu đệ!

Nhương Thư giật mình, không ngờ lão nhị lại kiên cường đến thế, khiến chàng mất đi cơ hội cứu cha nuôi. Chàng càng lo lắng hơn khi thấy Hằng Sơn đại lão Sầm Cơ Giảo đưa tay áo lau nước mắt rồi gằn giọng :

- Hay lắm! Chúng ta đều đã quá già, chết cũng chẳng sao! Ta thề sẽ phân thây gã tiểu tử chó chết kia, nấu cỗ cúng vong hồn hiền đệ!

Nhương Thư vội nói :

- Gia nghĩa phụ không có tội tình gì, Sầm lão cứ thả ông ấy ra. Ta hứa sẽ quay lại ngay để tôn giá rửa hận. Tần mỗ đương kim Minh chủ võ lâm, lời nói nặng hơn cửu đỉnh, quyết chẳng thất tín!

Sầm Cơ Giảo lưỡng lự hỏi :

- Ngươi có dám đem thanh danh của sư phụ là lão trọc Phật Đăng ra bảo chứng hay không?

Nhương Thư khẳng khái đáp :

- Có! Tại hạ xin thề trước vong linh của người!

Âu Dương Lăng vội can ngăn :

- Sầm tiền bối! Lỡ y không giữ lời, mang Ải Thần Quân chuồn thẳng thì sao?

Sầm lão đại cười nhạt :

- Lúc ấy là cả thiên hạ sẽ biết việc này và y sẽ chết trong nhục nhã.

Lão nói không sai vì giới võ lâm rất xem trọng lời hứa. Chẳng thà đang đánh mà phá vây đào tẩu, chứ đã hứa quay lại thì không thể sai lời.

Lát sau, Ải Thần Quân được mang ra. Thấy lão mê man, bất tỉnh, mặt mày, y phục lem luốc, Nhương Thư đau lòng khôn xiết, trầm giọng gỏi :

- Phải chăng tôn giá đã hạ độc thủ gia phụ?

Sầm lão đại cười nhạt :

- Lão họ Tần chỉ bị điểm huyệt và cho uống chút Mông Hãn Dược, không tin thì ngươi cứ kiểm tra thì sẽ rõ!

Từng nghe nói Hằng Sơn song lão tính tình cổ quái, ác độc, nhưng luôn giữ chữ tín, Nhương Thư yên tâm trao Sầm Thành Dũ cho hai gã đệ tử Tứ Phạn Thiên cung, đổi lấy Ải Thần Quân. Chàng kiểm tra kinh mạch cha nuôi, không thấy bế tắc, chân nguyên vẫn tụ ở Đan điền, hiểu rằng đối phương đã thành thực.

Nhương Thư vái Sầm lão đại :

- Tại hạ xin được đưa gia nghĩa phụ ra bìa rừng trao cho người khác rồi quay lại ngay! Cảm tạ tôn giá đã tin tưởng!

Nói xong, chàng bồng Ải Thần Quân lao vút về hướng Nam, ở đây, Sầm Cơ Giải thở dài, chua chát nói với Âu Dương Lăng :

- Ngươi là một thằng ngu nên mới đánh giá thấp tên tiểu tử này. Bản lãnh của gã còn cao hơn Ải Thần Quân một bậc!

Sầm lão nhị đã được băng bó, uống thuốc xong, trợn mắt bảo :

- Chẳng lẽ đại ca không tự tin giết được gã?

Lão đại cười nhạt :

- Hiền đệ yên tâm! Trừ phi gã mọc cánh mới thoát được trận này!

Nhương Thư thì sao? Chàng đi ra bờ sông bằng đường mòn, không phải băng rừng như lúc vào, nên tốc độ rất nhanh, chỉ vài khắc đã đến bìa rừng.

Bọn Vô Ưu Cái hoan hỉ phi thường, xúm lại hỏi han Nhương Thư :

- Làm sao ngươi cứu được Tần lão gia một cách dễ dàng như thế?

Nhương Thư trao Thần quân cho Triều Châu Thần Y chăm sóc rồi điềm đạm kể lại mọi việc. Ai nấy xám mặt vì lo lắng, nhưng không thể xúi chàng thất tín được. Chàng liền an ủi họ :

- Tại hạ thừa sức phá vây đào tẩu, chư vị chớ nên quá bi quan như vậy.

Vô Ưu Cái mỉm cười thê lương :

- Hiền đệ phải cẩn trọng đấy! Nếu không chắc giữ chân được ngươi, Sầm lão đại đâu bao giờ chấp nhận thả Ải Thần Quân. Nhưng thôi! Ngươi cứ đi đi!

Nhương Thư vái chào chung rồi quay bước, hiên ngang quay lại tử địa, trong ánh mắt thương cảm của mấy trăm người. Họ đau lòng và bi phẫn vì không thể giúp được chàng.

Nhương Thư vào đến chỗ hẹn thì trời cũng mờ sáng. Chàng cau mày nhận thấy nhân số đối phương đã đông gấp đôi lúc trước, có thêm hàng trăm gã sát thủ áo xanh nữa. Bọn này có lẽ là đệ tử của Báo Ứng hội lúc nãy đã ẩn trong rừng để cảnh giới.

Nhương Thư an nhiên thụ mệnh, bước đến trước mặt Sầm lão đại, ôm kiếm chào :

- Tại hạ y ước quay lại để tôn giá báo thù, nhưng xin nói trước rằng tại hạ sẽ phá vây đào tẩu đấy! Chư vị không cản nổi thì chẳng phải lỗi của Tần mỗ!

Sầm Cơ Giảo rút kiếm lạnh lùng đáp :

- Để xem ngươi lọt lưới bằng cách nào?

Lão vung kiếm tấn công ngay, không hề ngại mang tiếng già hiếp trẻ.

Trong nghề đánh kiếm, Nhương Thư chẳng ngán ai, ung dung xuất chiêu “Minh Đăng Thất Hiện”, vẽ nên bảy kiếm ảnh hình ngọn lửa.

Kiếm chạm kiếm, Nhương Thư rúng động vì phát hiện chân khí của mình bị đối phương hút mất một ít. Nghĩa là chỉ sau vài chục chiêu chàng sẽ kiệt lực.

Công phu bàng môn tả đạo này đã từng xuất hiện, song dưới hình thức dùng lòng bàn tay chạm da thịt nạn nhân mà đoạt chân lực. Nay Hằng Sơn đại lão đạt đến mức cách vật hấp chân, qua kiếm thu nội lực, thì quả là đáng kinh ngạc.

Nhương Thư đã được Phật Đăng Thượng Nhân giảng giải qua sự lợi hại của Hấp Tinh tà pháp, liền dồn hết công lực sang tả thủ, còn trường kiếm được điều khiển bằng sức mạnh của cơ bắp cánh tay phải.

Cũng giống như lần đấu với Quảng Đông Thần Đao Cốc Hậu Nhan ở Chính Khí trang, việc khổ luyện ngoại công của Nhương Thư đã có tác dụng. Tuy không được dồn chân khí nhưng cánh tay cuồn cuộc gân cốt của chàng cũng đủ sức thi triển chiêu kiếm thần diệu cầm cự với Sầm Cơ Giảo!

Một mặt, Nhương Thư giở pho Cửu Huyền chân pháp di chuyển quanh đối phương và tả thủ thoang thoảng xạ ra những đoạn chỉ xé phong.

Đấu pháp này đã phát huy tác dụng, vô hiệu hóa được tà pháp của Sầm lão đại, khiến lão vô cùng tức tối. Nếu Sầm lão nhị không bị phế võ nghệ thì Nhương Thư đã chẳng thành công. Ải Thần Quân cũng hành động như Nhương Thư, song lưỡng đầu thọ địch nên thất bại.

Sầm Cơ Giảo điên tiết tấn công như vũ bảo, quyết bắt đối phương chạm kiếm hầu đánh văng vũ khí. Nhưng Nhương Thư có trình độ kiếm thuật siêu phàm, chiêu thức biến hóa tuyệt luân. Hư thực khó lường, lăm le uy hiếp những tử huyệt, cộng thêm những đạo chỉ kình hiểm ác sẵn sàng đưa đối thủ vào chỗ chết.

Hằng Sơn đại lão đã thi thố hết sở học mà không làm gì được gã trẻ tuổi công phu ngoại lai. Lão đột ngột vung tả thủ vỗ một đạo chưởng phong sấm sét vào ngực Nhương Thư. Thì ra Âu Dương Lăng đã đem Thần Quang chưởng pháp làm mồi nhử Hằng Sơn song lão về giúp mình!

May thay, Nhương Thư đã quá quen với những động tác ấy, vừa thấy đối phương xòe bàn tay trái, khoe nửa vòng là chàng lập tức xoay dọc người nên phát chưởng chỉ trúng phớt ngực phải. Giao Bì Giáp cùng khả năng chịu đòn phi thường của tấm thân sắt thép đã vô hiệu hóa gần hết tác hại của đạo kình. Thân hình bị đẩy lệch đi, song không ảnh hưởng đến việc chàng xạ một đạo chỉ phong vào sườn trái họ Sầm.

Trong võ học, thế công càng mạnh thì càng lộ sơ hở, nhất là lúc đòn đánh chạm mục tiêu mà kết quả không đạt như mong muốn, và kẻ thù còn đủ sức để phản kích.

Năm xưa, Nhương Thư đâm thủng ngực trái Lã Tập Hiền, song tim lão nằm bên phải nên chàng thọ hại. Giờ đây cũng thế, phát chưởng cách không kia chẳng đả thương hoặc đẩy văng được Nhương Thư, thì với tư thế vương thẳng tả thủ, để lộ sườn trái, Sầm Cơ Giảo đã rơi vào hiểm cảnh.

Đạo tung xung chỉ tức khắc khoan thủng da thịt, làm tổn thương phủ tạng của nạn nhân. Sầm lão đại đau đớn rú lên, tung mình nhảy lùi ra xa.

Nhương Thư chưa kịp quay gót đào vong thì Âu Dương Lăng và bọn sát thủ dưới quyền đã ập đến. Đáng sợ nhất là tám đạo chưởng kình của Âu Dương Lăng và ba lão Chân khanh.
Dù rất muốn lao vào đổi mạng với kẻ đã sát hại cô vợ yêu dấu Bạch Thúy Sơn của mình, song Nhương Thư vì những người đang sống mà nuốt hận, cố trầm tĩnh chờ cơ hội tốt chớ chẳng dám khinh xuất.

Nhương Thư đề khí bốc cao hai trượng rưỡi, nhanh tay móc túi lụa đựng trăm viên Lân Hỏa Thần Đạn, xoay một vòng, rải đều xuống hàng ngũ dầy đặc của bọn sát thủ áo xanh.

Sự hào phóng này đã đem lại kết quả mỹ mãn, tiếng gào thét của sáu bảy chục kẻ xấu số vang lên, dọa khiếp bầy chim rừng đang ríu rít chào đón bình minh. Lửa lân hỏa cháy rất mạnh, không thể tắt dù nạn nhân có lăn tròn trên mặt đất, đương nhiên nó làm cho y phục bốc cháy ngùn ngụt.

Nhưng trước khi những viên Lân Hỏa Thần Đạn phát nổ lóc bóc, Nhương Thư đã múa tít trường kiếm che thân, sa xuống đầu một lão Chân khanh.

Chàng không chọn Âu Dương Lăng vì phát hiện công lực gã đã gia tăng thêm một bậc, cao hơn lần chạm trán trước. Được gần gũi những kẻ tài trí, khôn ngoan như Vô Ưu Cái, Bất Trí thư sinh, Ngọa Long Tú Sĩ, đầu óc Nhương Thư cũng mở mang thêm, hiểu rõ lẽ tiến thoái, quyết định rất sáng suốt.

Lão Chân khanh xấu số kia đứng hơi xa Âu Dương Lăng và hai lão còn lại, xem ra khá đơn độc. Lão vội cử song thủ vỗ liền bốn đạo chưởng kình vào màn kiếm quang đang bay đến, song không đủ sức cản được chiêu “Thiên Hỏa Giáng Ma”.

Có Giao Bì Giáp hộ thân, Nhương Thư an toàn vượt qua lưới chưởng, chặt đứt hai tay và đâm thủng ngực kẻ thù.

Tất nhiên, Âu Dương Lăng và hai lão Chân khanh kia không đứng im, họ nhất tề ập tới bủa chưởng vào lưng họ Tần. Song Cửu Huyền thần bộ đã giúp Nhương Thư sớm rời vị trí, lẩn ra phía sau lưng nạn nhân của mình, và xông vào hàng ngũ rối loạn của bọn sát thủ Tứ Phạn Thiên cung.

Những thân hình bốc cháy lăn lộn trên mặt đất luôn miệng rên la khiến bọn còn lành lặn phải nhụt chí, càng dễ chết dưới tay một kiếm thủ thượng thừa như Nhương Thư.

Âu Dương Lăng vội quát tháo thủ hạ và đuổi theo Nhương Thư. Nếu để chàng thoát chết lần này thì gã sẽ không còn đất sống. Trong cương vị Minh chủ võ lâm, Nhương Thư thừa lực lượng khiến gã phải trốn chui trốn nhủi suốt đời. Chính vì lý do ấy mà Âu Dương Lăng đã phải mang vàng bạc và tuyệt học Thần Quang dụ dỗ Hằng Sơn song lão hạ sơn.

Để khích lệ tinh thần thủ hạ, Âu Dương Lăng cao giọng :

- Ai đâm trúng Tần tiểu tử một kiếm sẽ được thưởng năm trăm lượng vàng.

Nếu không tham thì đã chẳng làm sát thủ, do vậy, môn đồ Báo Ứng hội và Tứ Phạn Thiên cung được hơi vàng tiếp thêm dũng khí, hăm hở lăn xả vào mỏ vàng là Nhương Thư, quên cả việc tử sinh. Gia dĩ, bản chất của bọn này đã sẵn hung hăng, liều lĩnh và can trường, từng làm nổi danh hai tổ chức khủng bố.

Địa Đường đao pháp của Sát Thủ hội không phát huy được nhiều vì mặt đất đầy dẫy những thi thể bị thương vì lân hỏa. Thân trên Nhương Thư lại do bảo y che chở, chàng điềm tĩnh phối hợp kiếm khí, đối phó với lũ côn đồ điên loạn và khát máu kia. Mỗi đường kiếm, mỗi đạo chỉ phong của chàng đều có kết quả khả quan, đả thương thêm vài chục gã thanh y.

Song dẫu sao Nhương Thư cũng đã bị cầm chân để Âu Dương Lăng và hai lão Chân khanh hạ thủ. Ba người này liên tiếp đẩy những đạo chưởng Thần Quang mãnh liệt, và vài phát đã trúng mục tiêu khiến chàng phải hộc máu! Họ rất xảo quyệt, luôn thay đổi vị trí để tránh những đòn chết người của Nhương Thư.

Đến rạng sáng, lực lượng đối phương bị thương vong hơn nửa, chỉ còn độ bảy tám chục, nhưng ngược lại, Nhương Thư cũng đã kiệt sức, rơi vào cảnh mãnh hổ nan địch quần hồ!

Biết thế đã cùng, Nhương Thư thầm gọi tên Bạch Thúy Sơn rồi quyết đổi mạng với Âu Dương Lăng. Chàng giết xong kẻ thù thì cũng khó sống sót, có thể thực hiện lời hứa đồng hành!

Trong phút giây tối hậu, hình bóng người thân thoáng hiện lên nhưng không thay đổi được tình thế. Giờ đây, chàng có muốn đào tẩu để toàn sinh thì cũng chẳng thể được!

Song bỗng nhiên, xa xa vọng lại tiếng rú thánh thót, quen thuộc của Đoan Mộc Anh. Không hiểu vì sao cô gái rừng lại có mặt và vào được chốn này? Thêm một tay kiếm lợi hại như Anh nhi là hy vọng sống sót vẫn còn. Nhương Thư phấn khởi đảo bộ tránh chiêu chưởng của Âu Dương Lăng rồi xông vào hai gã áo xanh mé hữu.

Khi bản năng sinh tồn trỗi dậy, sinh lực con người cũng tăng lên, đường kiếm của Nhương Thư dũng mãnh đánh bạt hai thanh đao, đâm thủng yết hầu kẻ địch. Chàng tiếp tục xấn tới, đánh thốc về hướng Nam, nơi mà Đoan Mộc Anh đang lao đến.

Song Anh nhi không đến một mình mà mang theo hàng vạn con ong độc, khách hàng của loài Mông Hãn Dược. Trong khu vườn quanh Càn Sơn, thú lớn không sống nổi, chỉ có loài côn trùng là tồn tại được. Mông Hãn Hoa nở gần như quanh năm nên số lượng đàn ong phát triển khá đông, tuy không độc bằng ong vàng ở Cưu Sơn nhưng cũng đủ khiến bọn Âu Dương Lăng phải bối rối.

Đoan Mộc Anh lướt đi như gió, miệng phát ra những âm thanh sè sè kỳ lạ, đưa đàn ong đến đấu trường. Nàng hung hãn như hổ cái, xông vào tấn công một tên áo xanh ở vòng ngoài, Thiên Cương bảo kiếm lập tức đánh bạt vũ khí rồi đâm thủng bụng gã.

Tuy là nữ nhi những mang bản chất hoang dã nên lối đánh của Anh nhi cực kỳ cương mãnh và liều lĩnh, khí phách dọa khiếp kẻ thù.

Lúc này, hàng vạn con ong đã hỏi tham da thịt của đám đông, kể cả Đoan Mộc Anh và Nhương Thư. Đôi vợ chồng trẻ này không sợ độc, trong lúc đối phương tối tăm mặt mũi.

Cục diện đã đảo ngược, Nhương Thư hiểu rằng đây là cơ hội hiếm có để giết Âu Dương Lăng. Gã đang cuống cuồng giơ đôi bàn tay thiếu mấy lóng, dệt lưới chưởng để chống cự với lũ ong, hai lão Chân khanh kia cũng vậy.

Nhương Thư liền thi triển Cửu Huyền thần bộ đến mức chót, lướt nhanh qua những gã áo xanh vô hại, đang cố phủi ong khỏi mặt, xông về phía Âu Dương Lăng.

Gã nhận ra tử thần hơi muộn màng, chỉ còn cách cử chưởng đối phó bằng chín đạo chưởng phong bài sơn đảo hải. Với công lực hơn hoa giáp, gã tự tin có thể chặn bước một kẻ đã hao tổn chân nguyên.

Chưởng kình chạm lưới kiếm ở khoảng cách một trượng, có vẻ như khá an toàn. Song đột nhiên thân hình Nhương Thư ngã vật ngửa, y như người trượt vỏ chuối vậy. Và chàng lướt dài phía dưới những đạo chưởng phong, trong chớp mắt đã ở dưới chân đối thủ.

Âu Dương Lăng kinh hoàng đề khí bốc lên không trung để tránh cái chiêu thức kỳ quái kia. Nhưng bảo kiếm đã rời tay Nhương Thư, bay vút theo, cắm xiên từ bụng dưới, trở ra bả vai của gã.

Chiêu này không có trong Phật Đăng kiếm pháp hay Huyền Không kiếm phổ mà do Nhương Thư nghĩ ra khi nhìn thấy Địa Đường đao pháp. Chàng hơi ngốc sự đời nhưng trong nghề võ thì mẫn tiệp phi thường.

Âu Dương Lăng rú lên ghê rợn, rơi phịch xuống mặt cỏ nhàu nát. Nhương Thư chồm lên rút kiếm ra, cẩn thận chặt đầu gã, xách chạy về phía Đoan Mộc Anh. Chàng hớn hở cao giọng :

- Anh muội đi thôi! Ta đã giết được Âu Dương Lăng rồi!

Anh nhi nhe hàm răng trắng nhọn vui vẻ nói :

- Tiểu muội giết chưa đã tay, đại ca chờ thêm vài khắc nữa!

Nàng là người duy nhất chưa chịu gọi Nhương Thư là tướng công, và cũng chưa trao thân cho chàng! Nhương Thư và Đoan Mộc Anh từng ngủ chung, song Anh nhi chỉ huyên thuyên trò chuyện nói cười, rồi ôm chàng mà ngủ tỉnh bơ. Dường như Nhương Thư cũng hài lòng với việc ấy, không hề đòi hỏi ái ân!

Nhắc lại, dù Đoan Mộc Anh chưa thỏa mãn lòng hiếu sát, song phe đối phương thấy thủ cấp Âu Dương Lăng thì đều nản chí bỏ của chạy lấy người, chẳng còn một mống! Hằng Sơn song lão cũng thế!

Nhương Thư không cho Anh nhi đuổi theo, kéo nàng vào lòng, hôn lên má và khen ngợi :

- Hảo hiền muội! Không có ngươi thì ta đã chết ở chốn này rồi!

Anh nhi cười hồn nhiên :

- Tiểu muội rình nghe cuộc bàn luận nên biết rõ mọi việc. Do lạc đường mà tiểu muội đến trễ, bị Hầu lão ca ngăn cản nhưng cứ xông vào đại, nào ngờ chẳng bị mê man bởi Mông Hãn Hoa. Thấy trong rừng có nhiều tổ ong, tiểu muội liền kéo chúng theo!

Hai người nắm tay nhau chạy về hướng bờ sông, tiếng cười trong trẻo của Anh nhi đã sớm đến tai bọn Vô Ưu Cái. Họ mừng rỡ tụ tập chào đón kẻ trở về từ cõi chết.

Trước khi đi Càn Sơn, Nhương Thư đã trao lệnh kỳ và kiếm ấn cho Hoàng Nghi Tuyệt, nhờ gã tạm đảm đương đại nhiệm trong trường hợp chàng táng mạng. Nay không những sống sót, Nhương Thư còn giết được Âu Dương Lăng, niềm vui được nhân đôi!

Về đến Tổng đàn võ lâm, Nhương Thư bị bốn ả cằn nhằn trách móc đủ điều, nhưng Đoan Mộc Anh lại được ngợi khen quá cở!

Thủ cấp của Âu Dương Lăng được ướp thuốc cẩn thận, chờ khi xác định rõ việc sống chết của Thúy Sơn mới đặt lên bàn tế vong! Do lời khẳng định của hai vị đại quân sư là Bất Trí thư sinh và Ngọa Long Tú Sĩ nên cả nhà đều tin tưởng rằng Thúy Sơn còn sống. Nhương Thư thì nghi ngờ nhưng chẳng dám nói ra.

Sự vụ ở Tổng đàn võ lâm rất bề bộn, đơn kiện cáo từ khắp nơi gởi về, cả thiếp mời sinh nhật, đám cưới cũng chẳng ít. Người của Tổng đàn tất bật ngược xuôi để giải quyết những tranh chấp giữa các bang hội.

Lúc này mới thấy hết được tài thao lược của Ngọa Long Tú Sĩ và Bất Trí thư sinh. Họ luôn tìm ra cách thu xếp ổn thỏa mối bất hòa, chỉ một phong thư với những lời lẽ sáng suốt, đầy đủ ân, uy, là hai phe bãi chiến.

Chưởng kỳ sứ Hoàng Nghi Tuyệt cùng bọn Thiết Kình Ngư đảm đương toàn bộ gánh nặng, không để Nhương Thư phải nhọc nhằn vì bất cứ việc gì. Chàng đã bôn ba, gian khổ quá nhiều, giờ xứng đáng được nghỉ ngơi.

Tất nhiên, mọi sự đều được tường trình qua Minh chủ võ lâm để được duyệt và ấn ký. Nhương Thư thấy cái gì cũng hoàn hảo, không chê vào đâu được, liền cười bảo :

- Xem ra, với tài ba của chư vị, dẫu không có ta thì võ lâm cũng vẫn thanh bình!

Bất Trí thư sinh xua tay, nghiêm giọng :

- Hiền đệ sai rồi! Dù ngươi không thường xuất hiện nhưng thần oai bao trùm vũ nội khiến tà ma khiếp vía, hào kiệt tứ phương nể phục, nên công việc mới trôi chảy như vậy. Thiếu ngươi, phong ba sẽ nổi lên ngay.

Ải Thần Quân đã hoàn toàn bình phục, đưa cả Nan Tiên Cơ về Tổng đàn võ lâm sống với Nhương Thư. Vợ chồng họ dù bất lão nhưng việc chửa đẻ chắc chắc khó xong nên muốn được ẳm bồng những hài nhi sắp chui ra khỏi bụng ba ả họ Điền.

Thần quân giơ ngón cái cười khanh khách :

- Thư nhi! Giờ đây ngươi còn oai phong hơn cả Phật Đăng Thượng Nhân rồi đấy!

Nhương Thư ngượng ngùng mỉm cười, đáy mắt phảng phất nỗi buồn sâu kín. Chàng thương nhớ Thúy Sơn vô vàn.

Gần cuối tháng tư, ba chi em họ Điền lần lượt hạ sinh hai nam, một nữ. Bạch Cúc, Uyển Xuân vui vẻ, còn Mã Lan có ý buồn vì đẻ con gái.

Nhương Thư hiểu ý, dỗ dành người vợ hiền lành, thùy mị :

- Con gái chúng ta sau này sẽ giống nàng, vừa xinh đẹp, vừa nhân hậu. Lũ nam tử nghịch ngợm, phá phách, có gì đáng yêu đâu?

Mã Lan dương đôi mắt nhung huyền, ướt mượt, sung sướng hỏi lại :

- Tướng công nói thực lòng chứ?

Nhương Thư gật đầu hạ giọng :

- Nàng không thấy ta xem Anh muội như em gái đấy sao?

Mã Lan che miệng cười :

- Nay bọn thiếp đều bận bịu con thơ, đã đến lúc Anh muội hầu hạ chàng rồi đấy!

Nhương Thư vui vẻ lắc đầu :

- Ta đã có quá nhiều vợ, thích em gái hơn!

Đầu tháng bảy, cuộc truy tìm Bạch Thúy Sơn trên phạm vi cả nước vẫn không có kết quả. Vậy là chỉ còn hơn tháng nữa tang lễ của Minh chủ đại phu nhân sẽ được cử hành. Một năm là thời hạn đủ để xác định việc sống chết của Thúy Sơn.Tối mùng hai, Nhương Thư cùng bọn Nghi Tuyệt, Tào Ưng thù tạc. Lòng sầu muộn nên chàng uống nhiều hơn thường lệ. Men rượu chẳng giúp làm vơi nỗi nhớ nhung, lại còn khơi dòng ký ức, khiến bao nhiêu kỷ niệm về hai người vợ bạc mệnh xâu xé tâm hồn chàng! Cái chết minh bạch của Bạch Ngọc Tiên Tử không làm chàng thống khổ bằng sự mơ hồ trong sinh tử của Thúy Sơn.

Bọn Hoàng, Tào gọi chàng là Tần minh chủ, sao nghe xa lạ và cay đắng. Cảnh vinh thân phì gia này chàng nào có thể yên tâm hưởng thụ khi vong hồn Thúy Sơn cứ vất vưởng ngoài cửa hoàng tuyền mà chờ đợi. Hoặc vì không được chôn cất tử tế mà nàng không siêu thoát nổi!

Hình bóng căn mộc xá ở ngoại thành Khai Phong, chốn tràn ngập ái ân chợt hiện lên khiến lòng Nhương Thư đau nhói và choáng váng! Nỗi khát khao được quay lại nơi ấy đã xâm chiếm tâm hồn chàng, xua đuổi tất cả những ý niệm khác.

Nhương Thư tư lự bảo :

- Hoàng huynh! Tào huynh! Mờ sáng, tại hạ sẽ lên đường đi Khai Phong vì việc riêng! Mong nhị vị giữ kín lộ trình và trấn an giùm đám nữ nhân!

Nghi Tuyệt nhìn chàng bằng ánh mắt ấm áp, gật đầu hứa :

- Minh chủ cứ yên tâm khởi hành, nhưng trong mười ngày xin báo tin về để mọi người yên tâm!

Thiết Kinh Ngư Tào Ưng nốc cạn chén rượu rồi lên tiếng :

- Tại hạ sẽ tháp tùng cùng Minh chủ! Ưng tôi cũng muốn thắp vài nén hương cho người bạn cũ họ Bạch!

Nhương Thư gượng cười :

- Té ra Tào huynh cũng đoán ra tâm sự của ta ư?

Tào Ưng cười buồn :

- Lòng dạ của Minh chủ thế nào chẳng lẽ Tào Mỗ lại không biết?

Đêm ấy, Nhương Thư vẫn giấu kín nỗi buồn, làm nhiệm vụ với người đang sống. Hổ Hồng Nhan không hề nhận ra, đắm đuối chìm vào khoái lạc rồi ngủ vùi.

Tóc nàng chỉ mới mọc dù được hơn gang, luôn phải mang tóc giả, ngay cả khi gần gũi trượng phu. Nàng đã van lụy Ải Thần Quân ban cho thứ thuốc kích thích tóc mau dài. Tuy Thúy Sơn là gái giả trai, nhưng việc nàng say đắm gã mà bỏ Nhương Thư cũng là lỗi lầm chẳng nhỏ.

Từ ngày nàng quay về, Ngọc Trâm luôn khép nép, nhũn nhặn với ba cô em gái, chỉ sợ họ đem chuyện xưa ra chế giễu. May thay, ngay cả cô ả khó chịu nhất là Bạch Cúc cũng vì tình chị em mà tha thứ hết.

Cuối canh tư, Nhương Thư lặng lẽ xách tay nải nhỏ và bảo kiếm rời phòng. Thiết Kình Ngư đã chờ sẵn ở cổng Tổng đàn với hai con tuấn mã. Hoàng Nghi Tuyệt cũng có mặt, rót cho hai kẻ đăng trình chén rượu tống biệt ấm tình bằng hữu.

Nhương Thư và Tào Ưng dắt ngựa hơn dặm mới dám thượng mã. Họ phi nước đại, lướt trong màn sương khuya, tiếng vó câu khua vang có hương vị hào sảng của kiếp sống giang hồ, khiến nỗi sầu trong lòng người lữ thứ dịu đi.

Bảy ngày sau, hai người đến thành Khai Phong, vào khách điếm nghỉ trọ. Dùng cơm trưa xong, họ đi đến cánh rừng phía Đông Cô Ðộc bảo, tìm lại căn mộc xá của Tích Bảo chân nhân.

Nhương Thư gởi ngựa nơi nhà lão tiều phu ở bìa rừng, theo lối cũ rảo bước. Gọi lối cũ là về phương diện tâm lý, thực ra chẳng hề có đường mòn, đường lớn gì cả. Nhương Thư nhắm hướng đi theo ký ức, được vài dặm bỗng phát hiện phía trước có tiếng cành lá khua động và tiếng chân người nặng trĩu.

Thân đương đại nhiệm, lại nhiều lần chết hụt nên giờ đây Nhương Thư rất thận trọng. Chàng và Tào Ưng rón rén nương theo gốc cây, bụi rậm đi về hướng ấy.

Chàng tròn mắt kinh ngạc khi nhận ra lão tiều phu rách rưới, lưng cõng bó củi lớn kia là Hồng Diện Tôn Giả Hoàng Duy Do. Gương mặt hốc hác, ánh mắt lạc thần, cũng như dáng điệu mệt mỏi của lão đã khiến Nhương Thư cảnh giác, không dám chạy đến mừng.

Tôn Giả bước đi nặng nề, chứng tỏ võ công đã mất hết và hình dung tiều tụy kia chứng tỏ lão đang bị bạc đãi. Nhương Thư đau lòng khôn xiết, cố nhẫn nại bám theo để tìm hiểu sự thể. Kẻ đã khống chế được một bậc kỳ nhân trong Vũ Nội tứ thần phải có bản lĩnh lợi hại phi thường, chàng chẳng thể khinh xuất được.

Tào Ưng thì thầm :

- Tần minh chủ! Dường như Hoàng lão gia bị trúng tà pháp thì phải!

Hoàng lão không hề phát hiện việc mình bị theo dõi, oằn lưng cõng củi chậm bước, hai khắc sau về đến tòa mộc xá, nhà của Tích Bảo chân nhân.

Hai người phục lại bên ngoài, bàng hoàng nghe tiếng khóc oe oe của một hài nhi. Nhương Thư từng nghe ba đứa con của mình khóc nên đoán rằng tiểu hài này mới sinh. Chàng bồi hồi tự hỏi : “Phải chăng Thúy Sơn còn sống và đã khai hoa nở nhụy?” Chàng chỉ muốn xông thẳng vào mộc xá để rõ thực hư, nhưng từ trong ấy đã có người bước ra.

Đấy là một đạo nhân áo xám, tuổi độ lục tuần, râu tóc hoa râm, mặt chữ điền rắn rỏi, dễ coi.

Trên ngực lão có đeo một viên pha lê màu đỏ tía, lớn bằng quả vải, không nhẵn nhụi mà nhiều mặt cắt. Tương tự tinh thể kim cương, lấp lánh phản chiếu ánh dương quang.

Trên lãnh thổ Trung Hoa hoàn toàn chẳng có mỏ kim cương nào cả, chính người Tây Dương đã đem thứ đá quý ấy đến bán cho hoàng hậu, phi tần và bọn mệnh phụ đất Bác Kinh.

Song với Nhương Thư thì viên pha lê kia có ý nghĩa khác. Chàng đã được Ải Thần Quân truyền thụ hết pho Di Hồn đại pháp nên biết nó là dụng cụ để thi triển thuật thôi miên. Chàng cũng có một viên như thế!

Thiết Kình Ngư hồi hộp nói nhỏ :

- Lão này chính là Tích Bảo chân nhân Tư Mã Hầu, bảy năm trước ta từng gặp ở Tế Nam! Lão vốn không phải kẻ ác, sao lại khống chế, đày đọa Hoàng lão gia nhỉ?

Nhương Thư trầm ngâm đáp :

- Một kẻ tham tài bảo thì không bao giờ là kẻ tốt được! Chẳng qua trước đây lão khéo che giấu bản chất thực đấy thôi. Ta đoán rằng cả Thúy Sơn cũng bị lão ta uy hiếp!

Tào Ưng ngơ ngác :

- Nhưng nữ nhân trong mộc xá là một người đàn bà có con cơ mà?

Nhương Thư rầu rĩ gật đầu :

- Sơn muội đã cấn thai trước khi ngộ nạn!

Tào Ưng cân nhắc :

- Vậy là có thể chính Tích Bảo chân nhân đã cứu mạng đại phu nhân, song vì lý do bí ẩn nào đó nên đã không buông tha, giam giữ mãi đến bây giờ?

Lúc này Tích Bảo chân nhân đã rút kiếm ra khỏi vỏ, dựng đứng trước mặt, ngắm nghía với ánh mắt say sưa. Thân kiếm bóng loáng như gương kia bỗng nhiên tỏa ánh xanh mờ một cách thần kỳ. Chỉ có loại thần kiếm thời Xuân Thu Chiến quốc mới phát quang khi được dồn chân khí!

Vậy là thanh kiếm ngắn này chính thị là Mạc Gia thần kiếm mà Báo Ứng hội chủ từng muốn chiếm đoạt.

Tích Bảo chân nhân bắt đầu luyện kiếm, thi triển một loại kiếm pháp cực kỳ ảo diệu và lạ mắt, hào quang của thân kiếm mỗi lúc một thêm rực rỡ, bay loạn như rồng xanh, khí thế oai vũ phi phàm. Nhương Thư thầm chột dạ vì nhận ra rằng những chiêu kiếm kỳ bí kia thật khó giải phá, vì kiếm của chàng sẽ bị chặt gẫy trước khi chạm cơ thể đối phương.

Tào Ưng cũng thức ngộ được sự lợi hại của pho kiếm, liền ái ngại hỏi :

- Liệu hai ta hợp sức có thắng nổi không?

Nhương Thư gật đầu :

- Được! Nhưng trước tiên phải đưa hai mẹ con Thúy Sơn thoát khỏi vòng vây nguy hiểm. Hoàng tôn giả đã lại đi hái củi, không đáng lo! Sau đó, chúng ta liên thủ hành động, Tào Ưng huynh hãy thi triển Cửu Huyền bộ pháp, bám chặt lưng Tư Mã Hầu mà quấy rối, tạo cơ hội cho ta hạ thủ!

Thiết Kình Ngư đã được chàng dạy cho pho thân pháp ảo diệu kia, nay có dịp áp dụng, lòng rất phấn khởi.

Hai người êm ái chuồn ra phía sau mộc xá, đột nhập vào. Nhương Thư từng ở đây khá lâu nên rành rõ địa hình. Chàng cẩn thận quan sát, nước mắt trào tuôn, nhịp tim loạn xạ khi nhận ra người đàn bà gầy yếu, xanh xao đang ngồi cho con bú kia chính là Bạch Thúy Sơn!

Không để cho tiếng kêu kinh ngạc vang lên, đánh động Tích Bảo chân nhân, Nhương Thư lướt đến, búng một đạo chỉ phong khóa á huyệt của Thúy Sơn, bồng xốc cả hai mẹ con lên mà chạy ngược ra phía sau mộc xá.

Lúc đầu, Thúy Sơn còn bỡ ngỡ, nửa mừng, nửa sợ vì gương mặt thực của trượng phu. Nhưng khi nhìn thấy Thiết Kình Ngư và nụ cười rạng rỡ, nàng hiểu rằng đây là sự thực.

Nhương Thư ôm vợ con đến một vùng cây cối rậm rạp, kín đáo, cách mộc xá vài chục trượng mới dừng bước, giải huyệt cho Thúy Sơn.

Tiếng nấc nghẹn ngào bật ra :

- Tướng công! Thiếp mỏi mòn trông đợi chàng từng khắc, tưởng chẳng bao giờ được gặp lại nhau.

Nhương Thư nuốt lệ hỏi :

- Tích Bảo chân nhân có đáng chết hay không?

Thúy Sơn vừa nức nở vừa gật liên hồi :

- Tư Mã Hầu là người ác độc và tàn nhẫn, tướng công hãy mau giết đi, tuyệt đối không được nương tay!

Hình dung tiều tụy và ánh mắt sợ hãi kia đã biểu hiện được những đắng cay, thống khổ mà nàng phải chịu đựng. Nhương Thư nghe lòng bốc lửa, hôn lên trán Thúy Sơn rồi dặn dò :

- Nàng cứ ẩn náu chỗ này! Ta và Tào huynh giết lão quỷ ấy xong sẽ trở lại ngay!

Tào Ưng cũng nói :

- Sơn muội cứ yên tâm, ta thề sẽ băm nhỏ lão khốn kiếp ấy ra!

Trong lúc xúc động, gã chẳng khách sáo nữa, xưng hô thân thiết như ngày xưa.

Hai kiếm thủ lướt như bay vể sân trước mộc xá, Tích Bảo chân nhân vẫn còn say mê luyện kiếm, không hề phát hiện ra khách lạ.

Nhương Thư lạnh lùng hắng giọng, khiến lão giật mình dừng tay, có lẽ Chân nhân biết chàng nên đảo tròng mắt gian xảo, tươi cười :

- Bần đạo vui mừng được tiếp kiến Tần minh chủ!

Tào Ưng nóng nảy chửi ngay :

- Đừng xảo quyệt uổng công, bọn ta đã biết rõ cả rồi! Lão hãy dọn mình chờ chết!

Chân nhân sực nhớ ra rằng nãy giờ không nghe tiếng tiểu hài ọ ẹ, tức thị mẹ con Thúy Sơn đã được giải thoát. Lão tức tối gằn giọng :

- Ngươi tưởng ta sợ chăng?

Nhương Thư phẫn nộ đến mức không thèm lên tiếng, rút kiếm xông vào ngay. Chàng không nên thi triển phép Ngự kiếm vì thanh Mạc Gia sắc bén vô song, nhưng chàng lại làm thế khiến lão Tích Bảo chân nhân mừng rỡ vô cùng. Lão tin rằng mình sẽ đắc thủ ngay chiêu đầu, liền múa tít bảo kiếm lao đến đổi đòn. Pho kiếm pháp của Tư Mã Hầu khác lạ ở chỗ có rất nhiều thế chém, tuy trái với tinh thần kiếm đạo, song lại phát huy được hết uy lực của Mạc Gia thần kiếm. Mục tiêu của lão là hủy vũ khí của đối phương trước, hạ sát sau!

Chính Thiết Kình Ngư cũng ngỡ ngàng lo sợ cho Nhương Thư, tưởng chàng vì quá nóng giận nên quên mất sự lợi hại của thần binh.

Nhưng cả hai đều lầm, nỗi căm hờn càng khiến Nhương Thư tỉnh táo suy tính, tìm cách giết kẻ thù nhanh nhất. Việc chàng đánh chiêu “Huyền Chi Hựu Huyền” bằng phép Ngự kiếm là giả trá, thân kiếm chỉ được phổ ba thành chân khí. Và khi kiếm sắp chạm kiếm, thân hình Nhương Thư đột ngột bốc thẳng lên cao. Tất nhiên Tích Bảo chân nhân hụt mất mục tiêu, thuận đà vẫn lướt đi, thành ra Nhương Thư lại ở phía sau lưng lão.

Chàng không bỏ lỡ cơ hội, lộn ngược đầu, xỉa tả thủ xạ liền sáu đạo chỉ kình mãnh liệt. Là người bách chiến, luôn phải đối đầu với những đại cao thủ, kinh nghiệm lâm trận của Nhương Thư rất dầy dạn. Chàng lo ngại Tích Bảo chân nhân mặc giáp nên bỏ thân trên mà tấn công hạ bàn. Do vậy, mông và đùi sau của Tư Mã Hầu trúng đòn, cơ bắp bị tổn thương, không còn có thể đào tẩu được nữa! Lão đau đớn thét lên, vừa sợ hãi vừa bàng hoàng vì bản lãnh kỳ tuyệt của Nhương Thư. Lão không ngờ rằng mình lại thọ thương ngay trong chiêu đầu tiên!

Tích Bảo chân nhân đào trộm một ngôi mộ cổ, tìm thấy Mạc Gia thần kiếm và kiếm phổ, tưởng mình có thể đứng đầu thiên hạ nhưng lão lại quên rằng mình hoàn toàn thiếu kinh nghiệm giao đấu và điều kiện ấy quan trọng chẳng kém gì võ nghệ.

Giờ đây, có muốn đào vong cũng chẳng xong, lão cắn răng chống cự sự giáp công của hai địch thủ. Vả lại, tài sản bao năm tích cóp ở cả chốn này, dưới nền mộc xá, và khổ thay, lão đã từng khoe với Thúy Sơn.

Nhưng càng đánh, Tư Mã Hầu càng tuyệt vọng bởi thân pháp chập chờn và nhanh như thiểm diện của đối phương.

Hai đùi đau buốt, Tích Bảo chân nhân mất hẳn sự linh hoạt, không xoay trở kịp nên trúng vài kiếm của Nhương Thư. Song, quả thực là lão có mặc bảo y bên trong đạo bào nên chẳng chết được.

Nhương Thư mừng vì mình đã hành động đúng, liền tập trung tấn công mặt và bụng dưới kẻ thù. Từng phải đối phó với Hằng Sơn đại lão Sầm Cơ Giảo, Nhương Thư đã quen lối đánh Điểm Tinh, dùng toàn những thế đâm, vũ khí không chạm nhau mà vẫn uy hiếp được kẻ thù. Chỉ có người sở đắc kiếm đạo thượng thừa mới làm được như chàng.

Nhương Thư quắc đôi thần nhãn, chiếu xuyên màn kiếm ảnh, thọc những đường gươm thiểm điện làm cho Tư Mã Hầu kinh tâm táng đởm.

Chân đau, lại phải phân tâm đối phó với Thiết Kình Ngư ở phía sau nên dù có bảo kiếm, bảo y mà lão vẫn phải chịu thế hạ phong.

Điều quái lạ của trận đấu này là không hề có tiếng thép chạm nhau, chỉ có tiếng kiếm kình xé gió, tiếng chỉ phong rít ghê người.

Vết thương nơi hai đùi sau càng đau nhức và tuôn máu không ngớt làm cho giảm sức lực của Tích Bảo chân nhân. Tất nhiên, bộ pháp của lão cũng chậm dần, mặt và bụng trúng ba chỉ của Nhương Thư, bộ dạng vô cùng thảm não.

Nghĩ đến việc lão là ân nhân cứu mạng Thúy Sơn, Nhương Thư bất nhẫn không muốn giết và lên tiếng :

- Lão hãy buông kiếm đầu hàng, ta sẽ tha mạng cho!

Tích Bảo chân nhân đang trong tuyệt vọng nên rất bất ngờ trước tấm lòng từ bi của đối phương. Nỗi vui mừng đã khiến lão phân tâm mà tuyệt mạng.

Thì ra Tào Ưng không hài lòng với quyết định nhân từ của Nhương Thư nên đã hạ độc thủ. Gã ôm kiếm lăn tròn, cuốn đến chân Tư Mã Hầu. Lão ta kinh hoàng vung kiếm chém mạnh, chặt gẫy vũ khí của họ Tào. Thanh Mạc Gia thần kiếm thuận đà hung hãn xả xuống người Thiết Kình Ngư. Song Nhương Thư đã không để lão giết chết người thân của mình, kịp ập vào thọc kiếm tiện đứt cánh tay hữu Tích Bảo chân nhân, cứu mạng Tào Ưng.

Thiết Kình Ngư chẳng hề ngần ngại, nghiến răng đâm thủng bàng quang lão ác đạo bằng thanh kiếm gẫy chỉ còn một nửa.

Gần cuối trung tuần tháng bảy, có hai cỗ xe song mã dừng trước Tổng đàn võ lâm.

Tiếng reo hò vang lên náo nhiệt khi hai mẹ con Thúy Sơn được Hoàng tôn giả đỡ xuống xe. Cỗ song mã thứ hai chất đầy ngọc ngà châu báu và cổ vật. Tào Ưng đã vét sạch gia sản của Tích Bảo chân nhân!

Lệ đoàn viên nhỏ như mưa, tiếng khóc lẫn tiếng cười, niềm vui lớn đến nỗi chẳng bút nào tả xiết.

Kẻ xấu hổ thẹn thùng là Điền Ngọc Trâm. Người được an ủi là Điền Mã Lan vì con của Thúy Sơn cũng là gái.

Trong tiệc mừng chiều hôm ấy, cả nhà lắng nghe Thúy Sơn kể lể sự tình. Thì ra nàng may mắn rơi xuống một chiếc thuyền lớn chở lông cừu, đang xuôi giòng Hoàng Hà.

Vào thời nhà Minh, sông Hoàng Hà đã đổi dòng chảy xuống phía Nam bán đảo Sơn Đông, ra biển bằng cửa của sông Hoài, trên đất Giang Tô. Bởi vậy, thổ sản vùng Tây bắc Trung Hoa thường được đưa ra miệt duyên hải phía Đông bằng đường sông Vị Thủy, rồi Hoàng Hà.

Lông cừu của thảo nguyên Tây bắc cũng là nguyên liệu quan trọng cho các xưởng dệt len ở Giang Nam. Những bao bố lông cừu nhẹ nhưng cồng kềnh, nên chủ thuyền phải chất cả lên trên thì mới chở được nhiều. Trời cao có mắt nên đã xui khiến Thúy Sơn đáp đúng vào chỗ êm ái, rồi mới văng xuống nước.

Dù vậy, nàng cũng khó thoát chết bởi sóng dữ nếu thuyền con của Tích Bảo chân nhân không neo ngay sát bờ sông. Lão nghiên cứu cổ thư, biết vách đoạn bờ sông này đã từng là nơi chôn cất một nhà đại phú gốc Thổ, theo lối Nham Mộ Thuyền Quan Táng.

Phong tục mai táng độc đáo này được người dân Thổ thực hiện từ hàng ngàn năm nay. ở những khu vực như Tam Hiệp Trường Giang, Ba Đông, khu vực sông Bảo Tịch Thủy, sông Lộ Khê, sông Vũ Thủy, hai bên bờ sông vách cao dốc đứng có hàng loạt động nham thạch, trong động đặt những quan tài gỗ hình chiếc thuyền. Người Thổ đã đục đẽo vách vực sông thành hang rồi đưa linh cữu vào.

Tay nhà giàu kia lập nghiệp tại Khai Phong nên khi chết đã được con cháu chôn ở vách sông Hoàng Hà. Vì ngôi mộ này mà Tích Bảo chân nhân đã dựng nhà trong cánh rừng trên bờ sông để tiện việc tìm kiếm. Nghĩa là Tư Mã Hầu chẳng hề hay biết chuyện mộc xá có người đến ở cũng như sự truy tìm Mạc Gia thần kiếm của Báo Ứng hội.

Lão ta đã kịp vớt Thúy Sơn lên thuyền, chữa trị nội thương cho nàng. Nhưng khổ thay, một kẻ suốt đời không màng nữ sắc lại vấp ngã trước dung nhan của người đàn bà bụng mang dạ chửa.

Tư Mã Hầu không hề để lộ dã tâm, đêm Thúy Sơn về mộc xá chăm sóc. Song lại ngấm ngầm phong tỏa chân khí. Lão đã đến đại hội võ lâm tìm Hồng Diện Tôn Giả, báo tin Thúy Sơn còn sống. Trên đường đi Khai Phong, Tư Mã Hầu ám toán Hoàng lão rồi dùng Nhiếp Hồn thuật khống chế.

Tích Bảo chân nhân dùng sinh mạng của Tôn giả để uy hiếp Thúy Sơn, bắt nàng phải lấy mình.

Đoán rằng sớm muộn gì Nhương Thư cũng quay lại mộc xá để tưởng niệm, Thúy Sơn liền dùng kế hoãn binh, hẹn rằng sau khi sanh nửa năm, con thơ dứt sữa sẽ thành thân. Quả nhiên, Nhương Thư đã đến kịp thời, trước khi Tư Mã Hầu dọn đi nơi khác.

Chương 24: Tuyết thượng uyên ương thiên lý hiệp - Tây Hạ hồng nhan đãi cố nhân

Xuân về, Tổng đàn võ lâm rộn rã tiếng cười và tiếng khóc oe oe của năm tiểu hài. Từ Thanh Huệ, vợ Hoàng Tuyệt Nghi đã hạ sinh một nam hài hồi giữa tháng bảy.

Sau Tết Nguyên Đán, sự vụ Tổng đàn càng bội phần đa đoan, nhân thủ phân chia tứ tán đi công cán các địa phương. Hồng Diện Tôn Giả và vợ chồng Ải Thần Quân thì xuống Phúc Kiến du ngoạn núi Võ Di sơn, chỉ còn Nhương Thư và hai lão khách khanh ở lại

Trưa mười chín tháng giêng, Vô Ưu Cái và Tri phủ Hà Nam đột ngột xuất hiện, sắc mặt trầm trọng. Tây Môn tri phủ mặc triều phục nghiêm chỉnh, chứng tỏ lão đến đây vì việc công chứ chẳng phải thăm suông!

Hai chục gã vệ binh được lệnh ở ngoài sân, chỉ mình Tri phủ vào sảnh. Lão ngượng ngùng nói :

- Phiền chư vị quỳ xuống để tiếp thánh chỉ!

Tây Môn Đạt mở thánh chỉ, trang trọng đọc :

“Thánh Hóa Đệ Thập Tứ Niên, Nguyên Nguyệt, Nguyên Nhật, Phụng thiên thừa vận Hoàng Đế chiếu viết: lão Thái hậu ngọc thể bất an, thường bị đau đớn bởi chứng thấp khớp, trẫm nghe nói Đại tù trưởng Ba Lạc Sinh Hòa, Tây Hạ có một nhánh Thiên Niên Tam Thất khả dĩ trị dứt ác bệnh cho Thái hậu. Tiết độ sứ Tây Hạ là Quan Hải Hiền Khanh đã tấu rằng Ba Lạc Sinh Hòa sẵn lòng dâng tặng, nhưng phải có người dũng lược đến nhận mang về Bắc Kinh! Trẫm nghĩ rằng không ai đủ tài đảm đương trọng trách này hơn Trung Nguyên võ lâm Minh chủ, vậy Tần hiền khanh hãy mau lên đường đến Tây Hạ. Mong hiền khanh chớ phụ long kỳ vọng của trẫm. Khâm thử!”

Nghe xong thánh chỉ, Ngọa Long Tú Sĩ và Bất Trí thư sinh bấm tay xem quẻ dịch.

Chỉ cần nhìn sắc diện tái xanh và ánh mắt kinh hoàng của họ là đủ biết tượng quẻ xấu đến mức nào!

Nhương Thư kính cẩn mời Tây Môn tri phủ và Vô Ưu Cái an tọa! Hầu bang chủ rầu rĩ nói ngay :

- Đây là cái bẫy của Nghiên Tái Thuần! Trong thánh chỉ không nêu kỳ hạn, Tần hiền đệ khoan hãy khởi hành, chờ có tin từ Bắc Kinh xem sao! Lão phu đã lệnh cho Phân đà Bắc Kinh dọ hỏi quan Tả Đô ngự sử họ Lâm!

Bất Trí thư sinh thiểu não rung giọng :

- Dẫu biết rõ nội tình cũng cô ích! Tượng quẻ vô cùng hắc ám, Thiên la địa võng giăng đầy, không có phương vị nào là sinh môn cả! Dù chúng ta kéo hết quân số tồng đàn đi theo Tần hiền đệ thì cũng chẳng một ai sống sót trở về!

Cử tọa chấn động nhìn nhau may mà đám nữ nhân nghỉ trưa, chỉ mình Đoan Mộc Anh có mặt! Anh nhi thì không biết sợ là gì và cũng không tin bói toán!

Tây Môn tri phủ cũng thở dài :

- Nội dung thánh chỉ đã khiến lão phu nghi ngại bởi thánh thượng không hề phong cho Tần minh chủ chức danh Khâm sứ, không quân bảo vệ! Nghĩa là dầu cho Nhương Thư có chết trên đất Tây Hạ thì Ba Lạc Sinh Hòa cũng chẳng hề mang tội!

Gương mặt thô lậu, mộc mạc của Bất Trí thư sinh nặng trĩu nỗi lo âu và hổ thẹn, vầng trán rộng nhăn tít lại tựa luống cây. Bỗng lão lẩm bẩm :

- Chỉ còn cách đấy thôi!

Rồi lão bảo Đoan Mộc Anh :

- Phiền thất phu nhân ra ngoài cho lão hỏi vài câu!

Anh nhi cau mày :

- Ở đây toàn người nhà, lão muốn hổi gì thì cứ nói phứt ra, sao lại phải đi chỗ khác?

Sau khi Thúy Sơn trở về, thứ tự thê thiếp của Nhương Thư được xác định lại. Đại phu nhân là Bạch Ngọc Tiên Tử, kế đó là Thúy Sơn, Ngọc Trâm, Mã Lan, Bạch Cúc, Uyển Xuân rồi Đoan Mộc Anh vậy, Anh nhi được gọi là thất phu nhân.

Cao Trường Toản ấp úng, ngượng ngùng hỏi đại :

- Lão phu muốn biết phu nhân đã có kinh nguyệt chưa và... đã lần nào gần gủi Minh chủ?

Tri phủ Hà Nam trợn mắt kinh ngạc vì chẳng ai hỏi một người đàn bà có chồng câu ấy! Còn Đoan Mộc Anh thì phá lên cười nắc nẻ :

- Lão nói chi mà khó hiểu? Kinh nguyệt là cái quái gì mà ta phải có? Còn việc gần gủi đại ca thì tất nhiên rồi, phu thê chúng ta thường ôm nhau ngủ rất ngon! Và thỉnh thoảng ta còn cởi...!

Nhương Thư thất kinh hồn vía, đưa tay bịt miệng Anh nhi, mặt đỏ như gấc, nói với Cao lão :

- Anh muội vẫn còn là đồng nữ!

Cả bàn tủm tỉm cười, và Vô Ưu Cái khen ngợi :

- Thư đệ thực đáng khâm phục!

Bất Trí thư sinh thở phào, bấm tay tín toán rồi nghiêm giọng :

- Đầu giờ ngọ sang một Tần hiền đệ cứ việc lên đường! Lão phu đã có cách biến hung thành cát!

Ai nấy đều mừng, chỉ riêng Ngọa Long Tú Sĩ biến sắc.

Sau bữa cơm trưa, Tây Môn tri phủ lật đật cáo từ để về Lạc Dương. Tong lúc Vô Ưu Cái uống trà, hàn huyên với Nhương Thư, Lỗ tú sĩ rủ Cao thư sinh về tiểu viện của mình.

Tú Sĩ thở dài :

- Cao hiền đệ định lập Ngọc Nữ Hộ Mệnh Pháp Đàn, đem mười năm tuổi thọ để giải kiếp nạn cho Nhương Thư đấy ư?

Lỗ Đăng Hân hơn Cao Trường Toản năm tuổi, có thể xem mình là bậc huynh trưởng!

Cao lão rầu rĩ đáp :

- Tiểu đệ đã đào tạo nên tên nghiệt súc Tái Thuần, gây họa cho võ lâm thì phải chịu trách nhiệm! Nay không ai đủ bản lãnh đi theo hỗ trợ cho Nhương Thư, tiểu đệ đành phải mượn sức quỷ thần vậy! Đời là bể khổ, Toản này chết sớm mười năm cũng chẳng sao!

Lỗ Đăng Hân mỉm cười :

- Trong thiên hạ đương thời, chỉ có Bất Trí thư sinh xứng là tri âm của Ngọa Long Tú Sĩ! Người chết sớm thì lão phu sẽ buồn lắm, vì thế, chúng ta sẽ cùng chủ tế, chia nhau số năm tuổi thọ!

Cao Lão vô cùng cảm động, song lại phân vân :

- Lỗ hiền huynh tuổi thọ đã cao, không nên làm như vậy!

Lỗ tú sĩ cười xòa :

- Hiền đệ chớ lo, lão phu thọ mệnh chín mươi năm, bỏ ra năm chẳng thấm tháp gì!

Cao Trường Toản chỉnh sắc đứng lên vái thật sâu :

- Tấm long nhân hậu của Lỗ hiền huynh tiểu đệ chẳng biết lấy gì mà báo đáp?

Lỗ Đằng Hân tủm tỉm đáp :

- Ta còn nợ ngươi hai bàn tay và chiếc lưỡi mà!

Tối đến, hai lão bàn bạc với Nhương Thư về việc lập đàn bảo mệnh. Song không nói ra việc họ bị tổn thọ!

Nhương Thư không tin những nghi thức thần bí của đạo giáo nhưng chẳng dám phản bác, phụ lòng quan hoài của hai vị quân sư!

Sáng hôm sau, Ngọa Long Tú Sĩ và Bất Trí thư sinh bắt tay vào việc chế tạo cờ quạt, vẻ bùa chú. Một mộc đàn cao nửa trượng cũng được dựng ở vườn hoa phía sau võ lâm đại sảnh.

Điền Ngọc Trâm thì tất bật vào huyện thành Đăng Phong mua sắm giấy tiền vàng bạc, nhang đèn, gà vịt, dê, cừu để tế lễ.

Nhương Thư thoáng nghe lòng hổ thẹn với vong linh của ân sư, thở dài bảo Vô Ưu Cái :

- Hầu lão ca! Tiểu đệ được ân sư hết dạ tài bồi, dậy dỗ mà nay phải nhờ đến quỷ thần hộ vệ thì còn mặt mũi nào xưng danh là học trò của Phật Đăng Thượng Nhân nữa?

Vô Ưu Cái cười vuồi, nghiêm nghị đáp :

- Năm xưa, sư phụ ngươi không hề có đối thủ nên chẳng cần gây sát nghiệp cũng trừng trị được tà ma. May hiền đệ tuổi trẻ lại toàn gặp phải ma vương quỷ dữ nên phải giết người để toàn sinh, gieo nhiều nhân xấu. Lão phu nghe Lỗ tú sĩ bảo rằng Nghiên Tái Thuần đã dùng đến phép Chiêu Vong Báo Ứng Lục Đinh, qui tụ oan hồn uổng tử những người đã chết dưới tay ngươi để bày ma trận. Do vậy, hai lão đạo sĩ thiên sư kia mới phải mượn con bé Đoan Mộc Anh mà giải phá!

Lão dừng lời, nhấp hớp trà rồi nheo mắt nói tiếp :

- Ngươi là sư sãi cửa chùa tất không tin việc quỷ thần. Vậy thì cứ điềm nhiên xem như pháp đàn kia hoàn toàn vô dụng! Hà tất hiền đệ phải chấp nhất việc có, không, chẳng có, chẳng không làm gì?

Nhương Thư tỉnh ngộ vái Vô Ưu Cái :

- Hầu lão ca quả là bậc Chân nhân sáng suốt! Tiểu đệ đã nghe lòng thanh thản, chẳng còn vướng bận gì cả!

Chiều buông, một toán đạo sĩ đông độ gần bốn chục người đã có mặt ở Tổng đàn võ lâm, tham gia việc tế lễ.

Những đạo nhân này là người của Chân Võ đạo quán trên núi Ngọc Nữ Phong gần đấy!

Người Trung Hoa rầt chuộng hai từ Ngọc Nữ khi đặt tên núi, do vậy, có ít nhất ba đỉnh mang tên Ngọc Nữ phong.

Trong đỉnh của Hoa Sơn là một, núi Võ Đang ở Hồ Bắc là hai, và rặng Tung Sơn có nàng Ngọc Nữ thứ ba! Phải chăng hình dáng những ngọn núi này giống với bộ phận gợi cảm, mỹ miều nào trên cơ thể con gái?Hay vì chúng quá diễm lệ nên được ví với nữ nhân?

Chân Võ đạo quán, trên Ngọc Nữ Phong của dãy Tung Sơn, vốn là cơ sở thứ hai của phái Võ Đang. Có những giai đoạn lịch sử, phái này đã đặt cứ địa ở đây để tiện việc giáng ma, hoặc tranh giành ảnh hưởng với chùa Thiếu Lâm. Nhưng hiện giờ đến Chân Võ chỉ là một đạo quán bình thường, do sư đệ của Chưởng môn là Thông Hạc chân nhân là Quán chủ!

Cuối canh một thì đồ tế đã sẵn sàng, cuộc cúng tế bắt đầu. Mặt đàn gỗ khá rộng vuôn vức mỗi bể trượng rưỡi, chung quanh cắm la liệt cờ, phướn bằng vải hay giấy, vẽ đầy những nét ngoằn ngèo bí ẩn, bằng máu gà trống.

Trên chiếc hương án lớn, mượn của Chân Võ đạo quán, có tranh tượng Tam Thanh và càc vị thần đạo giáo như như Cửu Thiên Huyền Nữ, Lê Sơn Thánh Mẫu, Thái Bạch Kim Tinh....

Chư thần của đạo giáo xuất hiện khá nhiều trong hai tác phẩm Phong Thần và Tây Du Ký. Vài trăm năm sau, người Trung Hoa vẫn giữ gìn những nghi thức trai tiên của đạo giáo trong việc cầu an, ma chay, nhưng có thêm một bàn thờ Phật kế bên, treo tượng Quan Âm Bồ Tát hoặc Phật Di Đà, lễ vật là đồ chay! Khả năng dung hòa của họ quả đáng kinh ngạc!

Ngoài rượu thịt, vật hiến tế quan trọng nhất của Ngọc Nữ hộ mệnh pháp đàn chính là đồng nữ, vì Anh nhi còn trinh tiết và cũng chưa có hiện tượng kinh nguyệt!

Pháp đàn quay mặt về hướng nam, hai pháp sư thì ngược lại. Đoàn Mộc Anh thả tóc, mặc áo dài trắng, quỳ trước hương án, ngoan ngoãn cúi lạy mỗi lần được lệnh.

Đôi mắt đen tròn của Anh nhi láo liên, ranh mãnh, miệng thoáng điểm nụ cười thích thú. Với nàng đây là một trò chơi lạ lẫm và khôi hài.Ngọa Long Tú Sĩ và Bất Trí thư sinh nghiêm trang trong tấm đạo bào trắng, ngực thêu hình bát quái, đầu đội đạo quan đứng song song với nhau!..

Hai người đọc nhanh những đoạn kinh trúc trắc, khó hiểu, song thủ lien tục bắt ấn quyết, hoặc múa kiếm gỗ đào, đốt những đạo bùa bằng giấy màu vàng.

Dưới chân pháp đàn, mấy chục đạo sĩ Võ Đang ê a tụng Kinh Huỳnh Đình, âm điệu bổng trẫm du dương, hòa theo tiếng đàn, sáo, sênh, phách dặt dìu.

Giữa canh ba thì cuộc tế lễ mới kết thúc nhưng pháp đàn sẽ được duy trì nhang khói cho đến lúc Nhương Thư và Đoan Mộc Anh quay trở lại.

Bất Trí thư sinh nghiêm nghị bảo Nhương Thư :

- Giờ đây thất phu nhân đã được Cửu Thiên Huyền Nữ cho quỷ thần hộ vệ, ma quái oan hồn phải lánh xa. Đồng thời, nàng ta có thể linh cảm được những tai họa sắp xẩy đến, do vậy, Tần minh chủ hãy tin tưởng những gì thất phu nhân nói ra!

Nhương Thư thấy cô vợ trẻ con của mình vẫn thao láo đôi mắt tinh quái, chẳng có biểu hiện gì khác lạ, lòng bán tín bán nghi, gật đầu đáp :

- Tại hạ xin tuân mệnh tiên sinh!

Bỗng Đoan Mộc Anh cười khúc khích hỏi :

- Này Cao đạo sĩ! Nếu dọc đường đột nhiên ta bị “trọng thương” thì sao?

Bất Trí thư sinh ngơ ngác :

- Sao lại thọ thương được khi đã có bách thần hộ vệ?

Anh nhi nhăn mặt :

- Sao lão ngu quá vậy! Thọ thương tức là... ấy mà!

Vừa nói, nàng vừa chỉ vào cái gò nhỏ hoang sơ, rậm rạp của mình. Bất Trí thư sinh thẹn đỏ mặt còn bọn đàn bà ôm bụng cười ngất.

Ngọa Long Tú Sĩ tủm tỉm đỡ lời đồng nghiệp :

- Dẫu có việc ấy cũng chẳng sao, lão phu sẽ chỉ cho Minh chủ cách đối phó!

Lão nhếch mép cười rồi bảo Nhương Thư :

- Đêm nay Minh chủ có thể cận kề các phu nhân, không cần kiêng kỵ!

- Các nàng thẹn thùng nhưng lòng rất biết ơn lão già tế nhị kia! Dĩ nhiên không tính đến Đoan Mộc Anh. Bốn hài nhi đã có nhũ mẫu chăm lo, để năm nàng lần lượt vào phòng Nhương Thư từ tạ!

Ai cũng bảo trên đời sướng nhất là vua, vì ngoài quyền lực, thiên tử còn có hang trăm phi tần, cung nữ, tha hồ hưởng lạc. Nhưng tất cả treo rau ngon ở cửa hoan phòng, để mời gọi xe dê, đều không có tình yêu. Họ chỉ mong một vài đêm mưa móc sẽ cho ra Hoàng nam, hưởng phần vinh hiển.

Vì vậy, có thể nói rằng Nhương Thư sướng hơn vua. Chàng có sáu người vợ xinh đẹp, tính cách khác nhau song đều một lòng yêu thương chồng. Họ không cần vinh hoa phú quí, chỉ cần được cùng chàng sống đến bạc đầu!

Tục đa thê của xã hội phong kiến Trung Hoa đã khiến các nàng có hạnh phúc trong cảnh chồng chung! Tuy đáy lòng cũng có chút ghen hờn, song không vì thế mà gia sự rối ren! Hơn nữa, tranh giành làm gì khi Nhương Thư luôn là một chinh nhân, suốt đời xông pha hiểm địa, sinh tử khó lường! Các nàng lo sợ nhưng tự hào được làm vợ một bậc anh hùng cái thế, khí độ nhân từ, được cả võ lâm tôn sùng!

Đất Tây Hạ nằm phía Tây bắc Trung Hoa, rộng mênh mông, gần tỉnh Minh Hạ và một phần Tuy Viễn bây giờ. Phía bắc Tây Hạ là sa mạc Đại Qua Bích, ba phía Tây, Nam, Đông giáp Cam Túc và Thiểm Tây.

Đây là lãnh thổ của dân tộc Hồi, và người Hồi Đảng Hạ là đông đảo, hùng mạnh nhất. Nhà Minh đã lập bộ máy cai trị Tây Hạ, đứng đầu là quan Tiết độ sứ. Nhưng triều đình không thu được một xu thuế nào của người Hồi, là còn phải chẩn tế mỗi khi Tây Hạ bị hạn hán. Chính sách khoan dung này nhằm mục đích giữ cho người Hồi không nổi loạn, tách khỏi Trung Hoa như dưới thời nhà Tống!

Cuối tháng giêng, Nhương Thư và Đoan Mộc Anh đến Trường An nghỉ ngơi hai ngày rồi sang bờ Bắc song Vị Thủy, đi dọc Vị Thủy, đi dọc song Kinh Hà để đến Ngân Xuyên, thủ phủ của vùng Tây Hạ!

Kinh Hà là phụ lưu lớn nhất của song Vị Thủy, phát nguyên từ rặng Lục Bàn sơn. Toàn bộ chiều dài và lưu vực của Kinh Hà đều nằm trong vùng cao nguyên Hoàng Thổ nên nước sông đục ngầu chẳng kém Hoàng Hà!

Địa hình Hoàng Thổ gồ ghề, hiểm trở thế nào thì chư vị độc giả cũng đã rõ. Dù đã sang tháng hai này tuyết vẫn rơi lất phất, làm cho đường đi nhầy nhụa một lớp bùn dẻo đặc quánh, hai con tuấn mã bước đi khó khăn, cước trình rất chậm chạp và gian khổ, biến việc cỡi ngựa thành một cực hình nhất là đối với nữ kỵ sĩ.

Trong võ lâm, việc mang gươm dong ruổi đường thiên lý hành hiệp vốn không phải của đàn bà con gái! Làn da mông, da đùi mịn màng, mỏng manh của họ chẳng thể nào chịu đựng nổi những cuộc cỡi ngựa đường dài! Nhất là khi tháng nào họ cũng có những ngày khó ở! Tóm lại, các ả nữ hiệp dù giỏi võ đến đâu cũng chỉ nổi tiếng trong phạm vi một địa phương thôi!

Đoan Mộc Anh thì khác, làn da đen bánh mật của nàng quen phơi dưới nắng mưa, chẳng mảnh vải che thân, nên quen dãi dầu sương gió, khả năng chịu đựng cọ xát rất tốt còn sức khỏe thì thật phi thường, chẳng thua một con báo cái!

Vẻ hoang sơ, ảm đạm của vùng cao nguyên Hoàng Thổ không hề làm Đoan Mộc Anh bớt đi sự thích thú của người khách lạ, và nỗi hân hoan được đồng hành với Nhương Thư! Nàng luôn miệng nói cười, ríu rít như chim sơn ca khiến đường dài bớt tịnh mịch.

Đây là lối đi ngắn nhất để đến Tây Hạ, song cực kỳ khó khăn nên ít người dám sử dụng. Do vậy, dọc đường dân cư thưa thớt, vài chục dặm mới có một xóm nhỏ.

Bách tính của vùng cao nguyên không dựng nhà trên mặt đất như ở Trung Nguyên mà lại khoét những vách đất vàng, đào hang mà cư ngụ. Có lẽ họ muốn tránh những cơn giông cát bụi khủng khiếp, năm nào cũng có vài lần. Lúc ấy, bụi vàng mù mịt không gian, che khuất cả vầng dương, chui vào mũi miệng con người. Tất nhiên bão sẽ thổi ập nhũng căn nhà gỗ lá đơn sơ. Xem ra, ở trong hang kín đáo và an toàn hơn. Địa mạo vùng Hoàng Thổ bị nước mưa xới mòn, chia ngang xẻ dọc như lòng sông cạn nên vách đất chẳng hề thiếu.

Không người thì không lương thực, vợ chồng Nhương Thư phải săn thú mà lót dạ. Điệu này càng khiến Anh nhi cao hứng, nàng là một thợ săn thiện nghệ.

Có nhiều đêm, hai người phải ngủ dưới một hào sâu kín gió, cạnh đống than hồng âm chỉ cháy. Đoàn Mộc Anh sung sướng nép thân hình nhỏ bé mảnh mai vào người Nhương Thư để tìm hơn ấm. Nàng tinh nghịch sờ mó, vuốt ve chàng nhưng chỉ lát sau đã ngủ rất ngon. Nhương Thư hài lòng với mối quan hệ vợ chồng thanh bạch này, cố giữ gìn dù biết rằng một ngày nào đó sẽ mất đi. Đoan Mộc Anh sẽ trưởng thành, chàng có thêm vợ song lại chẳng còn em gái!

Cuối tháng hai Nhương Thư và Anh nhi mới đến vùng thượng nguồn sông Kinh Hà, vượt sườn cực Tây Lục Bàn sơn bằng đèo Vân Hải. Đèo này nối liền địa phận Thiểm Tây và Tây Hạ.

Núi đồi trên cao nguyên Hoàng Thổ thường ít cây cối, chỉ toàn đá và đất, riêng Lục Bàn sơn lại um tùm, rậm rạp những loài cây vùng ôn đới, chủ yếu là loài lá kim. Chính những khu rừng bạt ngàn này đã tích trữ mưa, băng tuyết để cung cấp cho sông Kinh Hà.

ở vùng hạ Tây bắc, mùa đông kéo dài đến tận tháng tư nên tuyết rơi mù mịt, tiết trời cực kỳ lạnh giá, băng phủ kín tàn cây và đường mòn qua núi.

Đèo dốc đứng, trơn trượt, không thường được sử dụng nên bị hư hại nặng nề, nền đường lở từng mảnh lớn. Biết tuấn mã chẳng thể nào lên đèo được, hai kỵ sĩ tháo yên cương giấu trên ngọn cây rồi thả chúng vào rừng. Có thể hai con ngựa không sống sót nổi dưới nanh vuốt của bầy thú dữ, song chẳng còn cách nào khác!

Nhương Thư và Đoan Mộc Anh đeo bọc hành lý, rảo bước vượt đèo, lên đến đỉnh thì trời đã hoàng hôn. Trên vị trí cao vút này, gió đông rít vù vù, mang theo hàng vạn bống tuyết như muốn chôn vùi hai lữ khách.

Dù được che chở bởi áo mũ lông cừu thượng hạng song Đoàn Mộc Anh cũng rét run cầm cập, bảo Nhương Thư :

- Đại ca! Tiểu muội chịu hết nổi rồi! Công tử tìm hang hốc mà nghỉ chân sáng mai đi tiếp!
Nhương Thư vuốt tuyết trên mặt, đảo mắt nhìn vách núi mé hữu, chẳng thấy chỗ nào trú chân được liền cúi xuống :

- Anh muội hãy lên lưng để ta cõng đi thêm một đoạn, may ra tìm được chỗ qua đêm!

Anh nhi ngoan ngoãn nhảy phóc lên lưng, vỗ vai chàng rồi thét :

- Nào tiến lên tuấn mã!

Ngương Thư phì cười :

- Nàng dám xem ta là ngựa ư?

Tuy nói vậy nhưng lòng chàng rất vui trước những trò trẻ con của Anh nhi. Tuổi thơ của Nhương Thư đầy ắp gian khổ, sau đó là cuộc sống trang nghiêm nơi cửa Phật, chỉ chuyên tâm kinh kệ và luyện võ!

Nhương Thư cộng lực phi phàm, nhãn lực tinh tường, tiến bước rất nhanh. Chàng nhận ra ngay bóng dáng của một ngối miếu ở dưới lưng chừng đèo bên kia, mừng rỡ chỉ cho Đoan Mộc Anh :

- Anh muội! Dưới kia có một ngôi miếu.

Đoan Mộc Anh ngóc đầu lên nhìn, bỗng rùng mình run giọng :

- Đại ca! Dường như tiểu muội thấy rất nhiều bóng ma đang bay lượn trên nóc miếu ấy. Chúng ta đừng đến đấy!

Nhương Thư căng mắt quan sát mà chẳng thấy gì cả. Song nhớ lời Bất Trí thư sinh nên dừng bước, không đi về hướng ấy nữa. Chàng phân vân ngẩng đầu nhìn dáo dác, phát hiện vách núi đứng cạnh mình có một động khẩu nhỏ. Chàng mừng rỡ thả Đoan Mộc Anh xuống, tung mình lên xem thử. Độ cao hai trượng ruỡi chẳng thể làm khó được chàng. Nhương Thư lom khom chui vào vì nóc hang khá thấp, bật hỏa tập xem xét. Hang sâu hai trượng, nền đá khô ráo, không hề có rắn rít, quả là nơi nghỉ ngơi lý tưởng.

Chàng hân hoan thò đầu ra gọi :

- Anh muội lên đây!

Đoan Mộc Anh nhún chân bốc cao được chàng túm lấy kéo vào trong. Nàng thấp hơn Nhương Thư cả gang tay nên có thể đứng thẳng lưng mà không sợ u đầu!

Hang đá này như một chiếc bình kín đáy, miệng hẹp nên gió đông không vào được sâu, chỉ rải tuyết phía ngoài. Hai người hoan hỉ dủng bữa chiều bằng lương khô, bốt tuyết thay nước uống. Và trải áo lông nằm nghỉ. Tấm làm chiếu, tấm làm chăn xem ra cũng ấp áp.

Đoan Mộc Anh ôm chặt thân hình ấm nóng của Nhương Thư, ngáp ngắn ngáp dài lát sau thiếp đi vì mệt nhọc. Hơn tháng trời bôn ba gian khổ, ngay Nhương Thư còn uể oải chứ đừng nói chi nàng! Và cuối cùng chàng cũng ngủ vùi!

Quá nửa đêm, cái lạnh của mùa đông Tây bắc đến cực điểm khiến cơ thể nhỏ của Anh nhi run lên bần bật, làm Nhương Thư tỉnh giấc. Chàng vội vận công cho người nóng rực lên, sưởi ấm cho nàng. Dĩ nhiên chàng không thể ngủ được, nằm thao thức nghĩ suy, thầm hối hận đã đem cô bé tội nghiệp này theo! Chàng nghe tim nhói đau, khi đặt giả thiết rằng pháp đàn của Bất Trí thư sinh và Ngọa Long Tú Sĩ chẳng hề linh ứng, hiệu nghiệm. Lúc ấy, Anh nhi sẽ phải chết một cách vô ích! Nếu đi một mình, chàng tự tin có thể thoát thân dù đối phương đông đến hàng ngàn, nhưng khi vướng bận Đoan Mộc Anh, cả hai sẽ bỏ mạng!

Nhương Thư thằm trách mình đã không đủ tự tin, suốt đời chỉ hành động theo sự xấp xếp của người khác, giờ đây di hại đến Anh nhi!

Đoan Mộc Anh đang ngủ say trong vòng tay chàng bỗng ú ớ rồi bật dậy. Nhương Thư kéo nàng nằm lại miệng vỗ về :

- Anh muội đừng sợ, đại ca ở đây mà!

Đoan Mộc Anh ngoan ngoãn nghe lời song không ngủ và hỏi chàng :

- Đại ca có tin vào tác dụng của cái pháp đàn quỷ quái kia không?

Nhương Thư bật cười :

- Chẳng phải lúc chiều người đã nhìn thấy ma đấy sao?

Đoan Mộc Anh lắc đầu :

- Không chắc lắm! Giờ nghĩ lại, tiểu muội cho rằng mình đã hoa mắt, hoặc bị lời nói của Cao lão ám ảnh nên tưởng tượng!

Nàng hạ giọng buồn rầu :

- Lúc nãy, tiểu muội nặm mộng thấy phụ thân. Ông nói rằng “ta đến đón con đấy” vậy là tiểu muội sắp chết rồi!

Kể xong, nàng bật khóc rấm rức, Nhương Thư chưa kịp an ủi thì từ hướng bắc vọng lại một tiếng nổ kinh hồn. Hai người vội chạy ra cửa hang thò đầu nhìn. Tòa cổ miếu ở lưng chừng đèo đang bốc cháy ngùn ngụt, dù tuyết rơi như mưa!

Nhương Thư hiểu ngay rằng ngôi miếu đã bị gài hỏa dược và ai vô tình mở cửa, hoặc vào miếu sẽ bị tan thây!

Nghiên Tái Thuần đề phòng chàng đi đường này nên đã đặt bẫy. Vậy là linh cảm của Đoan Mộc Anh hoàn toàn chính xác!

Chàng quay lại bảo :

- Anh muội còn nghi ngờ phép mầu của đạo gia nữa không?

Anh nhi cười khúc khích :

- Chính đại ca cũng đâu có tin!

Sau hôm nay, hai người xuống đèo, thận trọng quan sát ngôi cổ miếu đã cháy rụi, lửa tắt vì tuyết phủ. Đùi sau một con báo gấm nằm lại cách nên đất không xa, chứng tỏ chính nó đã mò vào miếu trốn tuyết, chết thay cho họ.

Nhương Thư nhiều lần đàm đạo với Mục Tử Lượng, biết rằng cơ quan kích nổ gài ngang cửa. Con vật xấu số chạm cánh cửa miếu nên tan xác.

Hai người nhìn nhau le lưỡi, tiếp tục cuộc hành trình. Anh nhi thản nhiên vác đùi báo theo để làm lương thực.

Ba ngày sau họ đến một con sông hẹp nhưng bờ cao hàng chục trượng, nước chảy như thác lũ, muốn qua phải sử dụng cầu treo.

Chiêc cầu này dài độ sáu trượng, được căng bằng hai sợi xích sắt cọng lớn cỡ ngón tay cái. Sàn cầu là những tấm ván có đoạn mất vài miếng vì mục nát. Gió bấc thổi ào ào, làm chiếc cầu đong đưa trông rất đáng sợ.

Đoan Mộc Anh run rẩy thì thầm :

- Đại ca! Tiểu muội lại nhìn thấy hàng trăm bóng ma lởn vởn trên cầu! Có lẽ đây là bẫy, chúng ta chẳng nên qua!

Nhương Thư nhớ đến vụ nổ nơi cổ miếu, ngao ngán thở dài, trầm ngâm một lúc rồi nói :

- Chúng ta quay lại tìm lối khác vậy!

Chàng kéo Anh nhi đi ngược lại, được vài chục trượng thì lủi vào rừng, tìm cây có chạng ba lớn nhảy lên. Đoan Mộc Anh ngơ ngác hỏi :

- Mới là giữa trưa, sao đại ca không tranh thủ tìm lối đi an toàn, lại nghỉ ngơi làm gì?

Nhương Thư mỉm cười :

- Đây chính là đoạn sông hẹp nhất, chẳng còn chỗ nào qua được! Hầu lão ca đã dặn dò ta rất kỹ rồi, chờ đêm xuống chúng ta sẽ qua cầu! Mắt ta nhìn xuyên bống tối, trong khi đối phương không có khả năng ấy để phát hiện và hạ thủ!

Đoan Mộc Anh lo ngại :

- Lỡ chúng gài hỏa dược thì sao?

Nhương thư giải thích :

- Cầu bị gió lắc lư mạnh mà không phát nổ, chứng tỏ phải có người ở đầu cầu bên kia điều khiển! Nhưng họ không thấy chúng ta thì kích hỏa làm gì?

Đoan Mộc Anh cười khì :

- Ai bảo đại ca là ngốc? Chẳng qua đại ca không thèm mưu mẹo đấy thôi!

Nhương Thư ngượng ngùng tát nhẹ vào gò má đen đúa nhưng mịn màng của Anh nhi :

- Ngươi cũng biết nịnh nữa sao?

Chàng đặt cô vợ trẻ con của mình vào lòng, bảo nàng hãy ngủ đi. Đoan Mộc Anh đã sút vài cân, mệt mỏi đến mức lúc nào cũng muốn ngủ vùi!

Nhương Thư ngồi dựa thân cây, giữ chặt Anh nhi, bâng khâng ngắm những bóng tuyết trắng tinh đang bám trên cành lá. Tiếng thở đều đều của Anh nhi khiến chàng cảm thương và lo sợ. Đoan Mộc Anh còn cương cường hơn cả Thúy Sơn, tất không chịu đào vong một mình mà ở lại cùng chết với chàng!

Nhương Thư thở dài nuối tiếc hai tấm bảo y. Hoàng Nghi Tuyệt và Thiết Kình Ngư đi giải quyết tranh chấp ở Huy Châu nên chàng đã bắt họ mặc giáp. Nhương Thư còn trao cả Mạc Da thần kiếm nhưng Tào Ưng không nhận. Gã bảo rằng chỉ mình chàng xứng đáng sử dụng thanh thần kiếm thượng cổ ấy!

Giá như chàng và Anh nhi được hộ thân bằng hai chiếc áo giáp quí báu, đã tịch thu của Kỵ Ba Thần Quân, Tích Bảo chân nhân, thì họ thừa sức bảo toàn sinh mạng!

Chàng là người cửa Phật, tin vào nhân quả nghiệp báo chứ không tin sức mạnh quỷ thần. Lần thoát chết nơi cổ miếu vừa rồi chưa đủ để chàng thay đổi định kiến của mình!

Rồi Nhương Thư cũng thiếp đi, đến chiều được Anh nhi đánh thức để dùng bữa, món thịt nướng chấm muối chẳng làm nụ cười trên môi cô gái rừng bớt tươi. Đoan Mộc Anh ân cần đút từng miếng thịt nhỏ vào miệng Nhương Thư, ánh mắt đầy vẻ âu yếm, thương yêu.

Trời đã tối hẳn, tuyết nặng hạt hơn, mắt thường chẳng thể thấy người trong khoảng cách non trượng, nhưng Nhương Thư thì khác! Nhãn lực Đoan Mộc Anh cũng khá xong thua xa trượng phu.

Nhương Thư cõng nàng trên lưng, quay lại chiếc cầu treo. Tiếng xích sắt kẽo kẹt kinh người, chứng tỏ cầu bị gió lắc dữ dội, song chàng lại cảm thấy rất an toàn vì tin chắc đối phương không thể thấy được mình trong cảnh tối tăm mù mịt này!

Tay phải cầm bảo kiếm tuốt trần, tay trái vịn chắc dây chảo thành cầu, Nhương Thư căng mắt nhìn cho rõ những tấm ván dưới chân rồi lần bước.

Chương 25: Tuyết thượng uyên ương thiên lý hiệp - Tây Hạ hồng nhan đãi cố nhân

Đến giữa cầu, một thanh ván mục bỗng gãy rời khiến hai người thụt xuống, xong Nhương Thư đã níu chặt dây chão nên trụ lại được. Cánh tay trái của chàng mạnh đến trăm cân thừa sức nặng của hai người!

Khi chàng đặt chân lên bờ đất bên kia cầu, thả Đoan Mộc Anh xuống thì mới bị đối phương phát hiện. Đấy là do Anh nhi vô ý thở phào, trút bỏ nỗi sợ hãi, hồi hộp nãy giờ!

Hai đống tuyết lù lù gần đấy chính là hai gã đàn ông đang ngủ gà ngủ gật trong lớp chăn lông dấy sụ. Họ thét lên báo động va dung vũ khí tấn công.

Nhương Thư thấy rất rõ nên khi chúng vừa đứng lên la hét là chàng hạ thủ ngay. Thanh Mạc Da thần kiếm lóe ánh xanh mờ và đâm thủng ngực hai gã mai phục.

Lúc đầu, vì áy náy trước cái chết của Tích Bảo chân nhân nên Nhương Thư không dụng đến chiếm lợi phẩm. Nhưng mọi người đã hết lời năn nỉ chàng hãy thu nhận bảo kiếm Mạc Da. Chàng lưỡng lự không nghe, cho đến khi Thúy Sơn khóc lóc, thì thầm :

- Tuy Tư Mã Hầu có ơn cứu mạng thiếp, ngược lại, lão ta đã bắt thiếp phải chịu muôn vàn khổ nhục! Dù thân này chưa bị cưỡng đoạt, nhưng đã ô uế bởi ánh mắt và bàn tay dâm đãng của lão ta! Ngày nào lão cũng sở soạng thiếp vài lần và xông vào nhà tắm. Do vậy, thiếp không dám tắm nhiều, cho con tiểu lên y phục mình để thân thể hôi hám, khiến lão gớm ghiếc mà tha cho. Nếu không vì Hoàng sư phụ và hài nhi thì thiếp đã cắn lưỡi tự sát từ lâu rồi!

Nhương Thư nghe xong rùng mình, toát mồ hôi lại trước nỗi đắng cay, cơ cực mà nàng phải chịu đựng! Và chàng thức ngộ rằng Tư Mã Hầu chết là phải đạo!

Nhương Thư phải mất vài tháng để làm quen với Mạc Da thần kiếm, nó ngắn hơn loại kiếm chàng thường dùng cả gang tay!

Giờ đây, chàng đã làm chủ được thần binh, tâm và kiếm hòa làm một, bản lãnh lợi hại hơn xưa mấy bậc!

Đám phục binh trong cánh rừng đầu cầu phía Bắc đã ùa ra, đông độ nửa trăm, tay kiếm tay đuốc cố chặn hai con mồi lại.

Ánh đuốc chập chờn bởi gió Đông soi rõ gương mặt kinh hoàng của những kẻ thọ thương dưới tay Nhương Thư và Đoan Mộc Anh. Nạn nhân rên la, gào thét bằng tiếng Hán, chứng tỏ họ không phải người Đẳng Hạ.

Thanh Mạc Da thần kiếm tỏa ánh xanh rực rỡ, loang loáng bay lượn, chặt gẫy vũ khí va xương cốt bọn mai phục dễ dàng như chặt mía.

Đoan Mộc Anh sát cánh Nhương Thư, chém giết với phong thái của loài mãnh thú. Không phải nàng có cái tâm ác độc và vì cuộc sinh tồn chốn rừng sầu luôn ác liệt và tàn nhẫn đã tạo nên tính cách ấy! Với Anh nhi, lũ người kia chính là hổ báo, nàng phải giết họ để được sống còn.

Tâm pháp nội công do Cẩm Phàm kiếm khách truyền thụ cho Đoan Mộc Anh chẳng có gì xuất sắc, song cơ thể nàng lại tiềm tàng một sức mạnh phi thương, không hiểu từ đâu mà có! Anh nhi múa thanh bảo kiếm Thiên Cương nặng nề kia rất nhẹ nhàng, đòn chém mãnh liệt tựa chẻ núi làm chùn tay những gã đàn ông vạm vỡ.

Nàng lại có lối đánh khá kỳ lạ là rùn thấp người, lao bổ vào tấn công từ ngực đến gối đối phương, nghĩa là đoạn giữa thân. Điều này có lẽ xuất phát từ thối quen di chuyển bằng tứ chi, khi còn sống chung với bầy vượn.

Từ ngày được Nhương Thư dạy cho Cửu Huyền thân pháp, khinh công Anh nhi ảo diệu và nhanh hơn trước, tất nhiên bản lãnh cũng tăng tiến theo. Giờ đây, nàng chỉ đảo thân hình vài cái là đã tiếp cận mục tiêu mà hạ thủ, song nạn nhân của nàng chỉ bằng nửa số Nhương Thư, Đoan Mộc Anh luôn chú ý ở gần chàng trong bàn kính một trượng, bảo vệ phía sau lưng, Nhương Thư yên tâm mở đường máu, chém một hơn mười tám cánh tay cầm đao kiếm, đưa Đoan Mộc Anh thoát khỏi vòng vây.

Với thần kiếm sắc bén tuyệt luân Nhương Thư đã có thể noi gương sư phụ, đả thương người chứ không giết chóc. Chàng rất hài lòng về việc này.

Chạy một đoạn, thấy bên đường có cây cổ thụ cành lá um tùm, Nhương Thư đình bộ, kéo Anh nhi nhảy lên. Khi đã ngồi vững trên chạng ba rộng rãi, chàng hỏi :

- Anh muội có bị tổn thương chỗ nào không?

Đoan Mộc Anh đắc ý cười khúc khích :

- Tiểu muội chẳng hề hấn gì cả!

Đêm nay, trời lạnh chẳng thua đêm trên đỉnh đèo Vân Hải. Nhương Thư phanh rộng hai vạt áo lông, trùm kín thân thể Anh nhi. Mặc dù nàng cũng có áo ấm. Cô gái nằm thu lu trong lòng chàng và ngọ ngoạy mãi. Cảm giác phân kích của cuộc chiến khốc liệt lúc nãy đã làm nàng khó ngủ!

Lát sau có tiếng chân của toán phục binh đi ngay phía dưới. Ai đó lầm bẳm chửi thề :

- Con bà nó! Công lao mai phục, chịu đựng sương tuyết mười ngày nay giờ đã thành mây khói, lại còn thiệt mất hơn hai chục anh em. Ngàn lượng vàng này Phi Long bang chúng ta nuốt không trôi rồi!

Nhờ câu nói ấy mà Nhương Thư biết lai lịch toán phục binh. Phi Long bang hùng cứ vùng ranh giới Tây Hạ, Cam Túc nhân thủ khá đông đảo. Vậy là Nghiên Tái Thuần đã mướn họ giết chàng với giá ngàn lượng hoàng kim.

Từ Trường An đi Ngân Xuyên còn một lối nữa, đó là theo sông Vị đến Lan Châu rồi dọc Hoàng Hà. Có lẽ con đường ấy cũng đã bị mai phục bằng một lực lượng khác.

Vô Ưu Cái đã khuyên sử dụng con đường vất vả này để tránh phục binh. Chính lão đã vẽ bản đồ, chỉ dẫn cho Nhương Thư, Nào ngờ, Nghiên Tái Thuần đã tiên liệu trước.

Chờ phe địch đi xa, Đoan Mộc Anh lên tiếng :

- Đại ca! Bọn chúng đã chờ ở đây mười ngày tất phải dựng nhà, hoặc có nơi trú ẩn tốt trong khu rừng đầu cầu. Chúng ta hãy quay lại đấy tìm thử xem sao. Tiểu muội thèm được nằm bên lửa ấm thay vì co ro trong lòng đại ca mãi!

Nghe có lý, Nhương Thư tán thành, cùng Anh nhi nhảy xuống đất, chạy ngược lại trận địa lúc nãy. Chàng chặt một cây đuốc đang nằm lăn lóc trên mặt tuyết, đốt lên soi đường. Quả nhiên, trong rừng có vài công trình bằng gỗ.

Không thể gọi là nhà vì chúng chỉ là những thân tùng được xếp ngang dọc, quây lấy một khoảnh đất, ngoài phủ cành lá. Nóc cũng được cấu tạo bằng một cách như thế nhưng những thân gỗ được xếp khít hơn.

Tuyết đã phủ đầy, biến những chiếc chuồng gỗ này thành những nắm mồ trắng toát, có cửa quay về hướng Nam để tránh ngọn gió Bắc khắc nghiệt.

Nhương Thư chọn căn nhà còn bếp than hồng âm ỉ và đống củi khô, Ánh lửa bừng lên soi sáng không gian và đem lại hơi ấm cho hai kẻ lạc lõng giữa đêm đông!

Đoan Mộc Anh thích thú cười khanh khách, ngồi sát bếp lửa mà sưởi.

Lát sau, nàng đứng lên cởi áo lông để thay y phục bên trong. Tuy trời rất lạnh, mồ hôi không đổ, nhưng sau vài ngày quần áo cũng có mùi khó ngửi.

Trước mắt Nhương Thư, Anh nhi chẳng chút ngại ngùng, phô bày trọn vẹn tấm thân thon nhỏ nhưng săn chắc, khỏe mạnh, dưới ánh lửa bập bùng, trông nàng quyến rũ lạ lùng!

Nhương Thư cũng đã cởi áo mũ, treo ở vách gần đấy, ngồi bỏ thêm củi vào đống lửa. Nóc công trình này khá cao nên không sợ cháy!

Nhưng Anh nhi đã lấy y phục sạch mang đến, bắt chàng phải thay :

- Đại ca cũng hôi hám lắm đấy!

Đã lâu không có được chỗ nghỉ ngơi ấm áp thế này, hai người ngủ một mạch đến trưa hôm sau mới lên đường.

Lại thêm hơn nữa tháng trèo non lội suối nữa, vợ chồng Nhượng Thư đã đến được thành Ngân Xuyên, trên bờ tây sông Hoàng Hà.

Sau khi tắm gội thỏa thuê trong bồn nước nóng của Tây bắc Đệ nhất lữ điếm, hai người chén sạch mâm cơm thượng hạng. Nhương Thư dặn dò Anh nhi :

- Anh muội cứ ở lại lữ điếm nghỉ cho khỏe, ta đến dinh quan Tiết độ sứ xem thế nào?

Đoan Mộc Anh đã uống vài chén rượu nên mắt trĩu xuống, chằng đòi theo làm gì! Nhương Thư y phục chỉnh tề, mang thánh chỉ và công văn của Tri phủ Hà Nam rời lữ điếm.

Chàng đã hỏi thăm bọn tiểu nhị nên biết rằng dinh thự của họ Quan cách đấy không xa, chỉ chừng hơn dặm.

Mới giữa giờ Thìn mà không gian xám xịt tựa chiều buông. Tuyết bay nặng hạt, phủ thêm lớp giá băng lên nhà cửa và mặt đường lầy lội. Bánh xe, vó ngựa cũng như chân người đã không để tuyết giữ được mầu sắc trinh nguyên, tinh khiết.

Nhương Thư kéo cao cổ áo lông, rảo bước về hướng Tây. Người qua lại trong thành gồm nhiều sắc dân, song đa số là người Hồi. Họ vừa đi vừa chuyện trò, không ngờ chàng trai áo cừu trắng kia lại hiểu được vài câu.

Thở xưa, Nhương Thư đã từng lê lết ăn xin suốt mấy năm trời, ở chung với gã hành khất gốc Hồi, nên biết chút ít. Nghề ăn mày bắt buộc chàng phải biết nhiều thứ ngôn ngữ, biết cách phân biệt gốc gác những người mình xin bố thí. Khi chìa nón với một người Tứ Xuyên thì không thể nói tiếng Giang Tô được. Khách sẽ vui vẻ bố thí khi tưởng kẻ nghèo khó kia là đồng hương.

Và hôm nay, vốn liếng tiếng Hồi ngày thơ ấu đã giúp Nhương Thư nghe được một tin lạ. Đó là việc Công chúa Đẳng Hạ Ba Lặc Kỳ Dung mở lôi đài chiêu phu, vài ngày nữa khai mạc. Và họ dự đoán kẻ chiến thắng chính là đứa con nuôi người hán xấu xí của Đại Từ Trưởng Ba Lạc Sinh Hòa.

Nhương Thư mỉm cười hổ thẹn, nhớ lại cái đêm ở Diên An, chàng đã ôm trọn thân hình lõa lồ, khiêu gợi của người đàn bà Đẳng Hạ ấy! Một chút xót xa thoáng gợn trong lòng Nhương Thư, khi nghỉ đến việc Kỳ Dung phải làm vợ một gã nửa người nửa ngợm như Nghiên Tái Thuần. Không những xấu xí, họ Nghiên còn gian xảo và đê tiện phi thường!

Chàng cũng hơi nuối tiếc vì biết mình không làm gì được Tái Thuần. Gã đã là nghĩa tử của Ba Lạc Sinh Hòa, chàng đành phải bó tay, chẳng dán động đến! Nhưng nếu gã vác mặt vào Trung Nguyên thì hãy coi chừng!

Dinh thự của quan Tiết độ sứ Tây Hạ nằm ơ mé hữu con đường trục lớn Đông Tây của thành Ngân Xuyên. Đây là chỗ ở và cũng là công đường, trụ sở làm việc.

Nhương Thư bước qua cánh cổng rộng, vào sân gạch trong thì bị hai gã mặc binh phục nhà Minh chạy ra gạn hỏi. Chàng nghiêm nghị đáp :

- Tại hạ phụng thánh chỉ đến bái kiến Tiết độ sứ đại nhân, phiền nhị vị dẫn lối cho!

Để chứng minh, chàng rút cuồn thánh chỉ bằng lụa vàng chìa ra! Màu vàng rực là đặc quyền thiêng liêng của thiên tử, bá quan và bá tính không được sử dụng. Do vậy, khi đọc sử võ lâm, thấy viết rằng ai đó mặc võ phục vàng thì có nghĩa là một mầu vàng pha trộn, hoặc đậm như vàng đất, hoặc thật nhạt như phơn phớt nắng.

Hai gã vệ binh vội cung kính vòng tay cúi đầu. Một gã nói :

- Mời Khâm sứ đi theo tiểu nhân!

Gã không đưa Nhương Thư vào thẳng cổng đường mà đi vào lối nhỏ mé hữu, đến vườn hoa phía sau. Giữa vườn là một tòa nhà đơn độc, tường gạch quét vôi hồng, mái ngối lưu ly xanh.

Căn tiểu xá này vuông vức mỗi bề trượng rưỡi, chung quanh có lan can gỗ vây lấy thềm gạch. Cửa chính quay hướng nam, trên bậu cửa là bằng gỗ để ba chữ Khán Thư Trai, nghĩa là thư phòng.

Nền tiểu xá cao hơn mặt cỏ hoa viên, có ba bậc tam cấp để lên. Trong lúc gã vệ binh mở cửa, Nhương Thư cầm chiếc chổi nhỏ treo trên cột, phủi tuyết ở mũ, áo choàng và củng da.

Cửa chính có cánh bằng gỗ, nhưng cửa sổ hai bên đều lợp kính pha lê trong suốt, giá đắt như vàng vì mua của người Tây Dương, Từ vùng duyên hải phía Đông mà vận chuyển lên đến tận chốn này thì giá cả sẽ tăng lên nhiều lần, dù bằng đường sông đi chăng nữa! Xem ra, lão Tiết độ sứ họ Quan này quả là kẻ lắm tiền!

Trời đông u ám nên ánh sáng từ hai khung cửa kính kia chẳng được tích sự, khiến ngài Tiết độ sứ phải tốn thêm tiền dầu cho ngọn tọa đăng lớn trên án thư. Có thế thì ngài mới thấy đường đọc sách.

Gã vệ binh bật hỏa tập châm đèn, mời khách ngồi xuống chiếc đôn sứ trước án thư rồi đi thỉnh thượng cấp.

Nhương Thư tò mò nhìn quanh, nhận ra cơ ngơi này mời được xây dựng, mùi vôi và gỗ còn phảng phất trong không khí. Kệ gỗ ở vách tường sau lưng án thư chẳng có nhiều sách, chỉ độ vài chục qưyển.

Vô Ưu Cái đã cảnh báo rằng nguy hiểm luôn chực chờ, ngay cả trong dinh Tiết độ sứ! Vàng có thể mua được lòng người, và lão già Quan Hải kia chưa chắc là kẻ thanh bạch!

Nhương Thư vuốt ve bảo kiếm lạnh ngắt, tự tin rằng thanh Mạc Da thần kiếm này chàng không sợ bất cứ ai!

Nửa khắc sau, Tiết độ sứ đại nhân đã xuất hiện, chỉ một mình chứ không có hầu cận. Lão ta tuổi độ sáu mươi, mặt xương xẩu, lưỡng quyền cao nhọn, trán thấp, mắt không được to! Gương mặt và ánh mắt của lão toát ra một vẻ gì đó khiến Nhương Thư không thiện cảm.

Quan Hải cười ha hả, để lộ bộ răng thưa rụng mất một chiếc nơi cửa hàm trên :

- Lão phu là Quan Hải, dám hỏi quí tính đại danh của công tử?

Nhương Thư đứng lên, lột mũ lông để xuống án thư, vòng tay đáp :

- Tại hạ Tần Nhương Thư, phụng chỉ đến Tây Hạ mang Thiên Niêm Tam Thất về Bắc Kinh. Mời Quan đại nhân xem quan thánh chỉ và công văn của Hà Nam!
Quan Hải gật đầu nhận lấy với rồi bước đến ngồi xuống chiếc ghế dựa phía sau án thư. Lão vui vẻ nói :

- Thỉnh Tần đại hiệp an tọa!

Nhương Thư lại ngồi xuống đôn sứ, tay hữu đặt hờ trên chuôi kiếm. Chỉ cần lão cẩu quan này biểu hiện ác tâm là chàng khống chế ngay!

Nhưng Quan Hải thản nhiên đọc hai văn kiện, và chung quanh vắng lạng như tờ, không một tiếng bước chân mai phục!

Đọc xong, lão ngẩng lên mỉm cười :

- Cảm tạ đại hiệp đã đến đây! Lão phu đang cần vốn để dưỡng già!

Nhương Thư kinh hãi, chưa kịp phản ứng thì khoảng sàn dưới chân đôn sứ đột ngột mở toang, khiến chàng rơi xuống lòng đất, thì ra chiếc đôn dược đặt trên miệng một chiếc hầm sâu, đóng mở bằng nút cơ quan phía sau án thư.

Khán Thư Trai mới được xây cất chính là để phục vụ cho âm mưu ám hại chàng! Biết rõ bản lãnh võ công của Nhương Thư nên đối phương đã đào một giếng tròn đường kính gần nửa trượng, vách xây gạch tô rửa thật láng. Dẫu cho Nhương Thư có dang rộng hai tay, hai chân cũng không chạm vách. Nó lại sâu đến bốn trượng, một độ cao mà không ai tung mình vươn đến nổi. Đáy giếng cắm đầy chông sắt, mũi nhọn hoắt, sẵn sàng đâm nát bàn chân, hoặc cơ thể của nạn nhân.

Nhưng có một điều mà Nghiên Tái Thuần đã không tiên liệu là việc Nhương Thư mang theo Mạc Da thần kiếm.

Việc sát hại Tích Bảo chân nhân đã được giấu kín, vì quan hệ đến danh tiết của Thúy Sơn. Chẳng vinh dự gì để khai ra việc nàng bị Tư Mã Hầu uy hiếp và sờ soạng thân thể. Còn như không nói rõ mối nhục thì làm sao giải thích được cái chết của kẻ đã cứu mạng Thúy Sơn!

Giờ đây, thanh Thần Kiếm Xuân Thu đã phát huy tác dụng! Vừa rơi xuống độ hơn trượng, Nhương Thư đã kịp rút bảo kiếm vận toàn lực đâm vào vách gạch. Chẳng hổ danh thần vật, kiếm báu lập tức xuyên thủng lớp gạch nung, cắm ngập cán!

Nhương Thư bám chuôi kiếm trụ lại, treo lơ lửng trên vách giếng. Chàng lập tức đổi hơi, dùng lực đạo ngàn cân của hai cánh tay ấn vào điểm tựa ấy, bay vút lên mặt đất, đáp xuống án thư trong nỗi kinh hoàng của lão khốn kiếp họ Quan.

Chưa kịp hiểu điều gì xảy ra thì Quan Hải đã bị Nhương Thư điểm huyệt bằng ba đạo Lục Mạch thần chỉ, người cứng đơ như tượng gỗ. Chàng nhảy xuống đất, đặt họ Quan nằm ngửa trên sành gạch, lạnh lùng nói :

- Lão xuất thân võ tướng chắc cũng từng nghe qua thủ đoạn tra đấn Đoạn Cốt Tàn Cân chứ? Tần mỗ sẽ cho lão nếm thử!

Quan Hải bị điểm cả Á huyệt nên không nói được, chỉ biểu hiện sự khiếp sợ bằng ánh mắt và gương mặt nhăn nhó. Nhương Thư nói xong là thực hiện ngay, bẻ trật toàn bộ những khớp xương tứ chi của họ Quan. Trật một khớp còn đau thấy ông bà ông vải, huống hồ cổ chân, cổ tay, đầu gối, khủy tay và vai đều lệch vị trí! Cơn đau đớn khủng khiếp đã chụp lấy Quan Hải, khiến mắt lão trợn ngược, thân hình quằn quại, miệng ú ớ rên la, mồ hôi toát như tắm.

Nhương Thư làm theo lời dạy bảo của Vô Ưu Cái, song tấm lòng nhân hậu lại sớm bất nhẫn, nên chàng không kéo dài cuộc hành hạ, thấy lão vãi đái là giải tỏa ngay!

Trong lúc chờ họ Quan thấm thía nỗi sợ hãi, Nhương Thư giật rèm cửa nối lại, cột một đầu vào gốc cột nhà, trở xuống giếng thu hồi bảo kiếm!

Quan Hải chẳng muốn ai chứng kiến tội ác của mình nên đã đóng chặt của, lệnh cho bọn vệ binh không được đến tiểu xá, bởi vậy, chẳng ma nào biết việc đang xảy ra mà cứu vãn!

Nhương Thư tra kiếm vào vỏ, ngồi xuống giải á huyệt cho họ Quan, Quan Hải run giọng thều thào :

- Lảo phu đã biết tội, xin thành thật khai báo tất cả âm mưu của Nghiên Tái Thuần. Mong đại hiệp tha mạng cho!

Hai chữ “thành thực” dường như không thích hợp vời dung mạo xảo quyệt của họ Quan, khiến Nhương Thư chột dạ. Lão ta nắm trong tay năm vạn tinh binh, nếu trở mặt là chàng khó sống!

Nhương Thư biết mình cơ trí kém cỏi, chẳng thể phân biệt giả chân, lòng rất bối rối. Sực nhớ đến Di Hồn đại pháp, Nhương Thư mừng rỡ thi triển ngay!

Chàng tháo viên pha lê hồng nhiều mặt trên cổ xuống, đong đưa trước mắt họ Quan, ru lão vào trạng thái mơ hồ rồi bắt đầu tra hỏi.

Hơn khắc sau, bọn vệ binh gác cổng dinh lấy làm lạ khi thấy ngài Tiết độ sứ cung kính tiễn gã họ Tần ra đến tận cổng, lưng khom cơ hồ sát đất, miệng xưng ty chức rối rít. Quan Hải vồn rất cao ngạo, dù đối với Khâm sai cũng chưa bao giờ hạ mình đến thế!

Họ không biết rằng giờ đây, linh hồn ngài Tiết độ sứ đã thuộc về Nhương Thư! Họ Tần về đến lữ điếm thì Đoan Mộc Anh đã thức giấc, đang nóng ruột trông chờ, Nghe chàng kể lại, Anh nhi phụng phịu nói :

- Từ nay tiểu muội sẽ không rời đại ca nửa bước!

Sáng hôm sau, Tiết độ sứ Quan Hải đích thân thống lãnh trăm quân kỵ, mang xe song mã đến lữ điếm đón vợ chồng Nhương Thư.

Đoàn người ngựa rầm rộ rời thành Ngân Xuyên, mất hai ngày đường mới đến được vùng đồi Lỗ Nhĩ Khắc, đại bản doanh của tù trưởng Ba Lạc Sinh Hòa.

Bộ tộc Ba Lạc bị Hán hóa khá đậm, biểu hiện ở cách đây dựng nhà cửa. Tuy nhiên, cũng nhờ tiếp thu nền văn minh Trung Hoa nên Đại tù trưởng Sinh Hòa văn võ toàn thí, lục thao tam lược đầy một bụng, thế lực rất hùng mạnh.

Cơ ngơi của lão cũng được cất theo lối kiến trúc tam hợp thiện, chỉ khác ở chỗ là có thêm một đại lâu hai tầng đồ sộ, giữa sân gạch rộng. Về đại thể thỉ tòa đại lầu này tuyền một màu trắng toát, nóc tròn như những nền thờ Hồi Giáo.

Cổng ra vào mở theo hướng chính Nam và phía trước là một khoảnh đất bằng phẳng, rộng đến vài mẩu. Có lẽ quảng trường ấy là nơi tụ tập dũng sĩ của toàn bộ tộc.

Giờ đây, trên quảng trường đã được dựng lên một lôi đài bằng gỗ, cao non trượng, và mai là ngày khai mạc hội tỷ võ chiêu phu. Lúc này chưa có khán giả, chỉ nhộn nhịp tiếng cười, tiếng búa của đám thợ mộc.

Nghe báo có quan Tiết độ sứ giá lâm, Ba Lạc Sinh Hòa cho người mời vào đại lầu chứ không ra đón. Lão có thể cao ngạo vì nắm thực quyền ở đất Tây Hạ này. Sinh Hòa mà khởi binh đòi độc lập thì các bộ tộc Đảng Hạ khác sẽ hưởng ứng ngay!

Trăm quân ở lại bên ngoài, chỉ mình Quan Hải và vợ chồng Nhương Thư vào. Ba Lạc Sinh Hòa đã chờ sẵn ở đầu chiếc bàn lớn trong tầng dưới đại lầu. Đây là nơi lão tiếp khách và tiệc tùng.

Chủ khách chào nhau. Trong lúc lão Tiết độ sứ giới thiệu danh tính và trình bày mục đích, Nhương Thư âm thầm quan sát. Sinh Hòa giỏi chữ Hán nhưng ông ta ăn mặc theo lối Đẳng Hạ chính thống, đầu nhẵn bóng, chỉ còn vài ba món tóc chung quanh, bện lại và buông rũ xuống. Ba Lạc Sinh Hòa tuổi độ hơn sáu mươi, da ngăm đen nhưng ngũ quan cân đối, mắt sáng, cằm bạnh, đầy vẻ cương nghị anh hùng. Nghe họ Quan nói xong, Sinh Hòa nhìn Nhương Thư, gật gù bão :

- Té ra ngươi là kẻ đã giết chết rể của ta! Ngươi dám vác mặt đến đây thì quả là dũng cảm đấy!

Nhương Thư điềm đạm vòng tay đáp :

- Tại hạ đã được lệnh ái là Công chúa Ba Lạc Kỳ Dung miễn tội, xin tôn giá cũng lượng thứ cho!

Ba Lạc Sinh Hòa cười nhạt :

- Lão phu nghe nói ngươi đã trở thành Minh chủ võ lâm, việc ấy đúng hay sai?

Nhương Thư gật đầu xác nhận :

- Thưa phải!
Sinh Hòa bỗng quắc mắt :

- Nếu ngươi muốn lão phu bỏ qua mối thù giết rể thì dập đầu lạy ba lạy!

Lão tưởng chàng sẽ nổi giận hoặc phân vân, bối rối. Nào ngờ Nhương Thư dịu giọng nói ngay :

- Tôn giá là bậc trưởng thượng, đã rộng lượng nhận ba lạy để xá hận thù, tại hạ xin tuân lệnh!

Chàng lập tức quì một chân chống một tay, đập đầu theo lối kỳ bái của người võ lâm! Đoan Mộc Anh thấy chàng lạy cũng lạy theo, mặt ngơ ngáo khiến Ba Lạc Sinh Hòa phải mỉm cười!

Lão vui vẻ mời ba ngưởi an tọa.

Rồi nói tiếp :

- Về vấn đề Thiên Niên Tam Thất thì lão phu chỉ chịu dâng tặng cho Minh Đế với điều kiện là Tần công tử phải thượng đài, đả bại Nghiên Tái Thuần, trở thành trượng phu của Kỳ Dung!

Nhương Thư đang rầu rĩ, chưa biết tính sao thì Đoan Mộc Anh vọt miệng hỏi :

- Này lão bá! Chẳng hay con gái ông đẹp hay xấu mà lại đòi gả cho Tần đại ca? Chàng hiện đã có đến có đến sáu vợ rồi đấy!

Sinh Hòa phì cười :

- Chắc chắn là đẹp hơn ngươi!

Lão quay lại bảo gã vệ sĩ lực lưỡng đang đứng hầu sau ghế :

- Ngươi vào mời Công chúa lên đây!

Sinh Hòa không được phong vương nhưng vẫn gọi con gái là Công chúa, chứng tỏ lão chẳng sợ gì triều đình Trung Hoa!

Lát sau, Kỳ Dung ra đến, mắt sáng rực nỗi hân hoan vì gặp lại Nhương Thư. Nàng bảo :

- Ta không ngờ có ngày công tử lại đến chốn thô hậu, hoang sơ này!

Nhương Thư ngượng ngùng vòng tay đáp lễ, giới thiệu Anh nhi với nàng. Đoan Mộc Anh hớn hở nói ngay :

- Này Công chúa! Nàng mà trở thành vợ của Tần đại ca thì phải gọi ta là chị đấy!

Kỳ Dung ngơ ngác nhìn cha, Sinh Hòa giải thích :

- Tần công tử đến xin Thiên Niên Tam Thất về dâng Minh đế. Ta bắt y phải đồng ý làm rể bộ tộc Ba Lặc thì mới chấp thuân!

Kỳ Dung mỉm cười :

- Tần công tử tính sao? Vì chàng mà góa bụa đã mấy Đông, sao bậc anh hùng không rủ lòng thương?

Nàng dừng một lúc rồi nói tiếp :

- Thực ra, từ ngày gặp gỡ ở Diên An đến này, lòng ta luôn nhớ nhung công tử!

Ánh mắt nàng thể hiện sự chân thành của trái tim chứ chẳng phải lời đầu chót lưỡi!

Nhương Thư bâng khuâng suy nghĩ, nhận ra mình cũng có cảm tình với người đàn bà thông minh, kiên quyết này. Hơn nữa, nếu lấy Kỳ Dung, chàng sẽ giữ được Tây Hạ cho Trung Hoa!

Văn hóa Hoa Hạ là tinh túy của ba nguồn tư tưởng chính: Phật, Lão, Khổng. Xu hướng tam giáo đồng lưu rất phổ biến nên một kẻ tu hành cửa Phật cũng không hiểu học thuyết Lão Trang và Khổng Mạnh. Nhương Thư là bậc anh hùng cái thế tất không thể thiếu lòng yêu nước, nay gặp dịp đáp đền ơn tấc đất ngọn rau, chàng hân hoan thực hiện ngay.

Nhương Thư nghiêm nghị đáp :

- Đại tù trưởng và Công chúa đã hạ cố, tại hạ xin tuân mệnh, sáng mai gắng sức đả bại Nghiêm Tái Thuần.

Kỳ Dung vui ra mặt, nhìn chàng say đắm, nhưng Ba Lặc Sinh Hòa lại chẳng an tâm :

- Tần hiền diệt! Nghiên Tái Thuần thông minh tuyệt thế, hiện đã học hết võ công và tà thuật của Tây Hạ pháp sư. Lão phu e rằng ngươi khó mà địch lại y đấy!

Lần đầu tiên trong đời, Nhương Thư biểu lộ sự tự tin, không cần khiêm tốn :

- Xin Đại tù trưởng yên lòng, vãn bối tuyệt đối chẳng thể thua được!

Sáng ngày hai mươi bốn tháng ba, tuyết rơi nhẹ, đại hội tỷ võ chiêu phu của Công chúa Kỳ Dung khai mạc. Khán giả đông đến gần vạn, hầu hết là dân Đảng Hạ, chỉ lưa thưa vài trăm người thuộc chủng tộc khác như Hán, Mông, Thổ, Duy Ngô Nhĩ...

Cuộc trong tài hôm nay khác hẳn với đại hội võ lâm vì Nghiên Tái Thuần đứng ra thủ đài, toàn thắng hai mươi trận thì trở thành rể họ Ba Lặc!

Lúc đầu, nhờ trí tuệ tuyệt luân và tài sảo ngôn lệnh sắc, họ Nghiên đã được Đại tù trưởng yêu mến, nhận làm con nuôi. Ông còn giới thiệu gã đến học nghệ với Đảng Hạ pháp sư. Nhưng cuối cùng, Sinh Hòa phát hiện bản chất xảo quyệt, tàn ác của gã, muốn giết đi thì đã quá muộn! Ngoài võ công và tà thuật, họ Nghiên còn khéo léo thu được gần ngàn dũng sĩ Đảng Hạ làm vây cánh, trở thành một thế lực đáng kể trong toàn bộ tộc Ba Lặc.

Hai tháng trước, Tái Thuần ngỏ lời cầu hôn Ba Lặc Kỳ Dung. Theo đúng tục lệ Đảng Hạ là tỷ võ chiêu Phò mã, Kỳ Dung đã yêu cầu lập lôi đài, hy vọng có ai đó đủ tài đả bại gã đầu to, mắt liếng kia, cứu vớt đời nàng. Kỳ Dung may mắn biết được âm mưu của Tái Thuần và lão Tiết độ sứ nên chọn kỳ hạn tương ứng với cước trình của Nhương Thư.

Giờ đây, nàng ngồi cạnh Đại tù trưởng trên hàng ghế đầu tiên, sát lôi đài, mặt tươi như hoa khiến dung nhan thêm mặn mà quyến rũ.

Sau lời khai mặc của Ba Lặc Sinh Hòa, Nghiên Tái Thuần tung mình nhảy lên lôi đài bằng một thân pháp kỳ diệu, đẹp mắt, được khán giả tưởng thưởng những tiếng vỗ tay rất lớn.

Tái Thuần đã từ bỏ gốc gác Hán tộc, cạo đầu trọc lóc, chỉ chừa ba túm lòng thòng, y phục kiểu người Hồi, ngoài khoác áo lông ngắn không tay!

Trong bộ dạng mới này, họ Nghiên càng bội phần xấu xí. Gã lại nhơn nhơn vênh mặt tự đắc trông phát ghét! Tái Thuần đã nghe lão Tiết độ sứ báo tin Nhương Thư sa bẫy, bị chôn sống ở Ngân Xuyên, lòng rất hân hoan!

Họ Nghiên dõng dạc cúi chào cử tọa, nói một tràng tiếng Đảng Hạ và lại được hoan hô. Nhưng từ phía dưới đã có một bóng trắng bay vút lên lôi đài, tựa đám mây nhẹ nhàng vượt khoảng cách ba trượng, êm ái đáp xuống sàn gỗ. Người này quay xuống vòng tay chào và nói :

- Tại hạ là Tần Nhương Thư, ngưỡng mộ tài sắc của Công chúa nên lặn lội từ Trung Nguyên đến đây dự đại hội!

Phong thái và gương mặt dễ mến, hiền từ của chàng trai khoác áo lông cừu trắng hơn hẳn Nghiên Tái Thuần nên đã chiếm được cảm tình của mọi người. Họ yêu mến Kỳ Dung, không muốn nàng làm vợ một gã quá xấu trai như Tái Thuần. Thế là họ reo hò như sấm đón chào Nhương Thư.

Họ Nghiên thì xanh mặt nhưng ỷ vào tà pháp nên không rút lui. Hạ đài trước khi chiến đấu là cái nhục lớn nhất của người Đảng Hạ. Họ sẽ khinh bỉ và xua đuổi gã ra khỏi vùng thảo nguyên này.

Nhương Thư lạnh lùng bảo gã :

- Ngươi nhỏ tuổi hơn có quyền xuất thủ trước!

Tái Thuần nhếch mép cười nham hiểm, không múa côn tấn công mà lại xỏ vào thắt lưng, hai tay múa may bất ấn, miệng lẩm nhẩm liên hồi.

Quái lạ thay, khoảng không gian trên lôi đài đột nhiên mịt mù sương tuyết, che mờ cả hai đấu thủ, mặc dù khu vực chung quanh vẫn sáng và tuyết chỉ rơi lất phất! Tà thuật của Tây Hạ pháp sư quả là lợi hại phi thường!

Phần Nhương Thư thì cảm giác thế nào? Chàng thấy hàng trăm oan hồn uổng tử thi thể không toàn vẹn, hoặc đẫm máu tươi, vây chặt lấy mình, vung đao kiếm tấn công. Dù biết đấy chỉ là tà pháp chàng vẫn phải múa kiếm chống đỡ. Vì rằng Nghiên Tái Thuần cũng trà trộn trong đám oan hồn mà tập kích chàng!

Nhương Thư bảo nguyên thủ nhất, thi triển sở học kiếm thuật thượng thừa đến mứt chót, phòng thủ cẩn mật. Mạc Da thần kiếm rực rỡ ánh xanh, loang quanh thân thể Nhương Thư, dệt lưới thép kín đáo, vô hiệu hóa được những đòn ám tập của phương, đồng thời còn chặt cụt dần thanh thiết côn!

Đoan Mộc Anh bối rối hồi lâu, nhảy lên đứng ở mép lôi đài, cắn đầu lưỡi phun vào đám sương mù. Thật là kỳ diệu, cảnh vật trên lôi đài lại sáng sủa như cũ! Và Tần Nhương Thư không bỏ lỡ cơ hội, phản công ngay bằng một chiêu Ngự kiếm, hóa thành đạo hào quang xanh biếc bâay về phía kẻ địch.

Tái Thuần đâu nghĩ đến tà thuật bị phá nên hoàn toàn bất ngờ, chỉ còn cách đón chiêu. Công lực của gã kém Nhương Thư một bậc nên thiết côn bị Mạc Da thần kiếm chém gẫy ngay. Tuy nhiên, khi bị mũi kiếm đâm vào ngực phải, gã không lùi mà lại bước đến để lưỡi kiếm xuyên thấu qua lưng, đến tận thanh che tay của chuôi kiếm. Đồng thời, gã buông côn, hai tay chụp lấy uyển mạch của Nhương Thư.

Nhìn bề ngoài thì có vẻ Nhương Thư đang chờ Tái Thuần chết hẳn rổi mới rút kiếm ra, cả hai đứng yên như tượng gỗ. Song thực tế, chàng đang phải cật lực chống chọi với tử thần! Luồng chân khí của chàng đang bị hai bàn tay Tái Thuần hút rất mạnh, không sao ngăn cản nổi. Tà công hấp tinh ngày không hiểu họ Nghiên đã học ở đâu mà quá ư lợi hại?

Nhương Thư mất dần công lực lòng vô cùng đau đớn, phẫn hận, cố bình tâm nhẩm lại khẩu quyết Nhiên Đăng tâm pháp tiếc thay không có kết quả và chàng rơi dần vào trạng thái mệt mỏi, mơ hồ của kẻ sắp cạn kiệt chân nguyên.

Nhưng bản năng cầu sinh đã khiến Nhương Thư cứ suy nghĩ mãi, và đột nhiên, chàn nhớ đến đoạn khầu quyết trên tờ giấy rời, nằm trong quyển kinh mà Tất Cung Bảo đã tặng.

Năm ấy, Bạch Ngọc Tiên Tử đã bắt Nhương Thư phải học thuộc. Về sau chàng nghiên cứu mãi mà không hiểu vì chân khí nghịch hành, đi từ các huyệt ngoại vì vào Đan điền. Thì ra nó chính là Hấp Tinh đại pháp!

Tuy không tin tưởng lắm nhưng Nhương Thư vẫn phải cố thử. Chàng không phản kháng nữa mà đẩy chân khí lưu chuyển theo thứ tự mới. Thật bất ngờ khi luồng nội lực đang thoát ra qua ba huyệt Liệt Khuyết, Kinh Cử, Thái Uyên, trên cổ tay hữu, đã quay ngược chiều, ào ạt như thác lũ trở về Đan điền.

Nhương Thư vui mừng khôn xiết nỗ lực đòi lại chân khí. Cuối cùng, hai chân Tái Thuần nhũn ra, thân hình quỵ xuống, tuột khỏi lưỡi kiếm Mạc Da. Gã chết trong oan ức ngút trời vì không giết được Nhương Thư mà còn tặng cho chàng toàn bộ công lực!

Tiếng reo hò vang lên như sấm, mừng Nhương Thư chiến thắng trở thành Phò mã. Riêng Đoan Mộc Anh bước đến ngơ ngác hỏi :

- Tại sao Nghiên Tái Thuần lại giữ chặt đại ca, không cho rút kiếm ra?

Vừa mới thoát chết, tâm hồn Nhương Thư vẫn còn đang bồi hồi, choáng váng vì cảm giác vui mừng, bồng bột buột nói đùa :

- Tại vì gã giống các bà vợ của ta!

Tất nhiên Đoan Mộc Anh không hiểu gì cả!

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước