TẦN NHƯỢNG THƯ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Tần nhượng thư - Chương 6 - Chương 10

Chương 6: Thủy thượng tróc Xà vương - Hồ biến kiến đại cừu

Ba ngàn hào kiệt hớn hở rời Lã gia trang, hẹn sang xuân sẽ đến xem cuộc phó ước! Bọn Nhương Thư cũng quay về thành An Dương. Trong bữa cơm tối, Nhương Thư bàn rằng :

- Nay ta nhận lời phó ước với Lã Tập Hiền, phải về núi khổ luyện thêm để chuẩn bị. Ngọc Trâm là gái, không tiện ở trong chùa, hãy quay lại Tế Nam cho Điền trang chủ yên tâm. Chúng ta sẽ gặp nhau ở Nam Dương trước ngày đầu tháng hai, Tào Ưng và Thúy Sơn sẽ hộ tống nàng về nhà!

Ngọc Trâm phụng phịu giận hờn, nằng nặc đòi theo Nhương Thư, nhưng chàng kiên quyết không chịu. Thúy Sơn phục lăn trước bản lãnh đàn ông của Nhương Thư, vui vẻ nói :

- Đại tẩu nên nghe lời đại ca! Hai bên chưa có hôn ước, đại tẩu lấy tư cách gì để về ra mắt tăng lữ chùa Phật Quang?

Tào Ưng thì bảo Nhương Thư :

- Tại hạ đưa Điền tiểu thư về đến Tế Nam là đi Ngũ Đài sơn ngay!

Canh ba đêm hôm ấy, Hổ Hồng Nhan mò vào phòng Nhương Thư, nối lại cuộc ân ái chưa thành lúc chịu. Song lạ thay, chàng lại hiền như bụt, ôm mỹ nhân ngủ một mạch đến sáng. Ngọc Trâm tức tối, hậm hực chia tay, lòng thầm rủa tình lang là kẻ quái đản!

Ba người kia đi rồi, Nhương Thư cũng rời An Dương. Trên đường đi ra cửa Bắc thành, Nhương Thư gặp rất nhiều hảo hán phương Bắc. Họ xúm lại chào hỏi và tán dương chàng đến tận mây xanh. Nhương Thư nghe nhột nhạt khó chịu, vội mượn cớ để quên đồ, quay lại nhà người anh cô cậu của Ngọc Trâm. Hàn Xuân ngạc nhiên hỏi lý do, nghe chàng kể gã bật cười :

- Người khác muốn nổi danh mà không được, còn công tử thì sợ!

Nhương Thư hỏi mượn gương đồng, mang chiếc mặt nạ mà Dạ Quân Tử Quách Tàn Bôi đã tặng, chàng hài lòng khi thấy mình biến thành xa lạ, vơi gương mặt của một hán tử tam tuần, xấu xí, đầy nốt ruồi và mụn cóc! Nhương Thư khoác thêm áo lông cừu mỏng yên tâm lên đường, quả nhiên lần này không ai thèm nhìn đến!

Chàng hòa vào dòng người ngược Bắc, nghe bọn hào khách nói về Tần Nhương Thư, cả khen lẫn chê, lòng cũng vui vui.

Riết cũng chán, Nhương Thư chậm lại, đi một mình cho đỡ rát tai, và có dịp ngắm cảnh thu dọc đường.

Chàng chợt nóng mặt khi nhớ đến thân hình nõn nà, kỳ diệu của Hổ Hồng Nhan, và trận động tình dưới suối. Chàng biết rằng trong tâm mình ẩn chứa ác căn, phát lộ dưới hình thức những cơn thịnh nộ.

Không chỉ lòng hiếu sát mà cả dục tính cũng không buông lung!

Phải chăng đó là tác dụng của Quỷ Nấm, hoặc hậu quả của quãng đời thơ ấu bi thảm, hoặc do di truyền? Cả mẫu thân chàng cũng không biết rõ lắm về lai lịch của cha chàng! Bà chỉ biết quê chồng ở Trường An nhưng không rõ địa điểm!

Nhương Thư thở dài, cố xua đi những mặc cảm và nghi vấn, nghĩ về Lã Tập Hiền. Chàng còn kém Hạt Nhãn Thần Ma, tất không địch lại họ Lã! Vậy thì sao chàng dám đại ngôn trước mặt Vô Ưu Cái?

Việc này xuất phát từ ba chiêu cuối cùng trong Phật Đăng kiếm pháp! Với chúng, Nhương Thư có thể đổi mạng với những cao thủ có bản lĩnh cao hơn chàng vài bậc! Song đấy chỉ là chuyện bất khả kháng! Chàng hy vọng không phải dùng đến hạ sách ấy, vì thức ngộ rằng cứ sau mỗi lần chạm cường địch, kiếm thuật mình tinh xảo hơn trước!

Dòng suy tưởng bị cắt ngang bởi tiếng vó ngựa phía sau dồn dập. Kỵ sĩ kia đã bắt kịp Nhương Thư, nhìn mặt chàng, thấy không quen nên thất vọng bỏ đi.

Người ấy chính là Bạch Ngọc Tiên Tử Lâm Đại Ngọc, học trò của Địch Thánh.

Có lẽ nàng nhận ra vóc dáng Nhương Thư nên định đến chào hỏi, nào ngờ lại là một hán tử xa lạ! Nhương Thư hơi áy náy nhưng không dám lên tiếng gọi. Vướng vào bốn chị em nhà họ Điền là đã quá khổ sở rồi, chàng không muốn quen biết thêm một nữ nhân nào khác nữa!

Hai người đi cách nhau vài chục trượng, cùng đơn độc mà không hề có ý đồng hành! Nhưng trưa hôm ấy, kẻ trước người sau nghé vào phạn điếm duy nhất bên đường. Bạch Ngọc Tiên Tử không hề để ý rằng gã áo cừu kia đang ngắm mình qua vành nón tre lụp xụp, từ một bàn gần đấy. Nhương Thư sợ lộ đôi tai đặc biệt nên không bỏ nón ra. Người ngoài tưởng rằng chàng hổ thẹn vì gương mặt xấu xí.

Nữ nhân ăn nhỏ nhẹ như mèo nên Nhương Thư đã ăn xong bữa mà Lâm Đại Ngọc vẫn còn dang dở. Chẳng biết làm gì, chàng bèn nhìn quanh và bị thu hút bởi gương mặt trái xoan kiều diễm và đôi mắt nâu sâu thẳm ẩn chứa một nỗi buồn mênh mang vô tận.

Bạch Ngọc Tiên Tử có dung mạo trẻ hơn số tuổi ba mươi. Địch Thánh ẩn cư trên dãy Lã Lương sơn, thuộc vùng Tây bắc tỉnh Sơn Tây, nên Lâm Đại Ngọc cũng nổi danh ở đất ấy! Nghe nói, năm hai mươi bốn tuổi, Tiên tử định kết hôn với Thiểm Bắc Thần Long Lạc Nhất Lôi, do Địch Thánh từ trần nên việc cưới hỏi phải hoãn lại ba năm để cư tang. Nhưng chỉ một năm sau, Lạc Nhất Lôi đã mất kiên nhẫn, bỏ nàng lấy con gái của bá chủ vùng Tây Hạ! Có lẽ đấy chính là vết thương lòng, khiến Lâm Đại Ngọc luôn sầu muộn!

Trong phạn điếm lúc này có mặt cả toán người khách mà Nhương Thư đã tách ra. Họ đến trước, quen tật ăn nhậu cà kê dê ngỗng nên vẫn còn ngồi. Trong đám ấy có khá nhiều người trẻ tuổi, song họ chỉ dám lén nhìn say đắm chứ không dám bước đến tán tỉnh hay làm quen với Bạch Ngọc Tiên Tử.

Trước là vì võ nghệ nàng cao hơn họ, sau vì bối phận của Lâm Đại Ngọc. Võ lâm cũng có tôn ti trật tự, nghiêm ngặt hay không là do ý của người trên trước.

Nếu vui, Tiên tử có thể gọi một gã tam tứ tuần là đại huynh, khi buồn nàng có thể xem gã ấy như con cháu!

Đó là do Địch Thánh đã tám mươi sáu tuổi, nếu còn sống, ngang hàng với sư tổ của đám thanh niên trong võ lâm!

Nhương Thư cũng rơi vào cảnh ngộ ấy, nên thường xưng tại hạ với những kẻ hơn mình đến hai ba chục tuổi!

Mới cuối giờ ngọ mà mây đã kéo xám xịt cả trời, hứa hẹn một cơn mưa tầm tã.

Lữ khách vội lên đường cho kịp chuyến đò qua sông Phồn Thủy, cách đấy mười dặm! Khi mưa to, gió rất mạnh, đò ngang sẽ chẳng dám vượt sông! Nhương Thư cũng biết thế nên bám theo đoàn nhân mã phía trước mà phi nước đại, chạy song song với Bạch Ngọc Tiên Tử.

Được một vài dặm, đoàn người ngựa đến một ngã ba, nghĩa là quan đạo có thêm nhánh nhỏ bên hữu, trổ xéo vào rừng tùng. Đấy chỉ là một con đường mòn lớn dành cho những cỗ xe trâu kéo gỗ ra.

Cây lớn đã bị chặt trụi nên việc khai thác gỗ đình chỉ hơn năm nay, cỏ lại có dịp mọc đầy, chiếm lại đất đai của mình.

Đương nhiên, chẳng có kỵ sĩ nào có ý định rẽ vào hướng ấy, song trên đoạn quan đạo trước mặt họ lại xuất hiện một đoàn trâu đông độ bốn, năm chục con. Và điều đáng nói là chúng đột nhiên nổi điên lên, phóng rầm rập về phía ngã ba, sừng chĩa ra đe doạ!

Chẳng lẽ thúc ngựa nhảy xuống thửa ruộng trừng, đầy nước mưa ở hai bên đường, mấy gã đi tiên phong rẽ vào đường mòn, những người đi sau cũng phải nối gót. Khổ thay, đàn trâu điên lại không chạy chẳng mà rẽ trái, tiếp tục truy đuổi đám khách giang hồ. Nhương Thư và Lâm Đại Ngọc giờ đây trở thành mục tiêu gần nhất của những cặp sừng trâu!

Bọn hào khách vừa quất ngựa túi bụi vừa chửi thề ỏm tỏi, lôi tổ tông mười tám đời của chủ đàn trâu ra mà nguyền rủa, song chẳng có ai nghe vì lũ trâu kia không có người chăn dắt! Các kỵ sĩ có đủ sức phi thân lên những cành cây cạnh đường mòn, nhưng lại chẳng nỡ bỏ mặc ngựa của mình. Tuấn mã luôn là người bạn đường thân thiết của khách giang hồ, nhiều con thông minh hiểu được từng dấu hiệu nhỏ của chủ nhân.

Ngựa vốn chạy nhanh hơn trâu, nhưng trên con đường mòn gập ghềnh đầy bụi rậm này thì tốc độ của chúng giảm sút rất nhiều Người kỵ sĩ không thể liều mạng chạy càn, vì biết đâu sau lớp cỏ kia là một tảng đá hay một ổ gà sâu hoắm!

Đoàn người đã chạy được hơn hai dặm mà đàn trâu vẫn chưa chịu buông tha, và khổ thay, tuấn mã Lâm Đại Ngọc bất ngờ trật khớp vó trước, bên tả, và khụy xuống.

Tình huống bất ngờ này đã khiến một cao thủ như Lâm Đại Ngọc cũng phải lúng túng. Theo quán tính, nàng cũng chúi theo, đè lên đầu ngựa và sắp sửa cắm xuống đất. May thay, Nhương Thư đã nghiêng người, vươn hữu thủ, nắm lấy bắp tay nàng nhấc bổng lên, đặt vào lòng.

Ngựa của chàng vẫn tiếp tục phóng đi, còn tuấn mã của Lâm Đại Ngọc bị đàn trâu hất tung và dầy xéo, hí lên những tiếng não nùng!

Bạch Ngọc Tiên Tử đã hoàn hồn, thẹn thùng cựa quậy, định rời vòng tay vững chắc của ân nhân, ra đứng sau mông ngựa, tài khinh công của nàng thừa sức để làm điều ấy. Nhưng ánh mắt Tiên tử chợt pháp hiện một đường ngấn dưới cằm hán tử áo cừu, hiểu ngay rằng gã mang mặt nạ! Và vành tai luân cách phân minh, thùy châu đầy đặn, có chấm son đỏ kia chính là của Nhương Thư!

Hồi sáng, Lâm Đại Ngọc đã nhận ra tấm lưng quen thuộc, giờ thì hoàn toàn có thể khẳng định đối phương là Tần Nhương Thư hóa trang. Sáu năm trôi qua, hình bóng của người tình phụ bạc, Thiểm Bắc Thần Long đã phai mờ từ lâu, song Tiên tử vẫn chưa yêu ai khác, vì không tìm được nam nhân xứng đáng!

Sau khi được Nhương Thư cứu mạng, trái tim của Lâm Đại Ngọc đã rộn rã nhịp hân hoan. Phần vì ân nghĩa, phần vì tài mạo, nhân phẩm của họ Tần, chàng không anh tuấn như Thiểm Bắc Thần Long, song bản lãnh và tâm địa thì hơn hắn. Tiên tử hiểu rằng mình đã gặp được nam nhân lý tưởng, đáng để nàng trao thân gởi phận. tình yêu đã đâm chồi nảy lộc chẳng cần thời gian, bất chấp tuổi tác, nhưng lại gặp sự cản trở của Hổ Hồng Nhan!

Giờ đây, tình cờ gặp lại nhau, chịu thêm ơn cứu tử lần nữa, Lâm Đại Ngọc càng thêm bội phần luyến ái Nhương Thư. Nàng lặng người trong cảm giác hạnh phúc, úp mặt vào bờ vai rắn chắc của người trong mộng, hít lấy mùi da thịt nồng nàn, tay hữu quàng chặt lưng Nhương Thư.

Do tư thế này, gò ngọc phong trinh nguyên, đầy đặn của Lâm Đại Ngọc áp sát ngực trái Nhương Thư. Nhịp rung động của vó câu đã khiến nàng nhận thấy rõ sự cọ xát giữa hai cơ thể, thẹn thùng vì cảm giác nhột nhạt nơi đầu v* làm thịt da rạo rực!

Năm xưa, khi quen biết với Thiểm Bắc Thần Long, nàng và gã chỉ dám nắm tay nhau chứ chưa hề ôm ấp, gần gũi thế này!

Tiên tử lén liếc Nhương Thư thấy mắt chàng vẫn trong veo, chẳng hề có chút xuân tình, lòng cũng đỡ ngượng. Chẳng lẽ im lặng mãi, Lâm Đại Ngọc liền thỏ thẻ :

- Tiện thiếp hai lần chịu ơn cứu mạng, biết lấy gì đền đáp đại ân của Tần công tử đây!

Nhương Thư cười gượng :

- Nhãn lực của Tiên tử quả là sắc bén! Thế mà tại hạ tưởng cô nương không nhận ra!

Và chàng nói thêm :

- Tiên tử hãy dùng ám khí hạ sát những con trâu đầu đàn để cản chân cả đàn! Nếu không chúng sẽ rượt chúng ta đến tối mất!

Lâm Đại Ngọc dạ rất ngoan, luồn ra phía sau lưng Nhương Thư, ngồi quay ngược lại, mở tay nải nhỏ vẫn khoác trên vai, lấy ra những thỏi bạc năm lượng.

Nàng vận công, liên tiếp ném mạnh những ám khí đắt tiền ấy vào đầu của bốn con trâu. Chúng không chết nhưng choáng váng, lăn kềnh ra ngay, cản đường lũ phía sau. Cả đàn dồn lại, té ngã, nghé ọ vang trời và thôi không chạy nữa!

Toán kỵ sĩ phóng thêm nửa dặm mới dừng lại. Họ nhìn nhau phá lên cười vì cảnh ngộ khôi hài lúc nãy. Mang danh là võ sĩ mà bị trâu rượt chạy có cờ thì quả là nực cười. Một gã trung niên hậm hực thóa mạ :

- Tồ bà đứa nào nuôi trâu mà không biết dạy, để bọn lão gia phải chạy đến tháo mồ hôi hột!

Giọng gã oang oang làm chấn động cả cùng rừng tĩnh mịch. Cảng vật nơi đây khá xinh đẹp vì hai bên là rừng thông non thoai thoải, rì rào tiếng gió thổi qua kẽ lá.

Nhưng khi hai chục kỵ sĩ quay đầu ngựa chuẩn bị trở ra đường quan đạo Bắc Nam thì từ trong rừng ùa ra hàng trăm kiếm thủ áo xanh bịt mặt. Chúng bịt chặt hai đầu đường và tràn ngập đồi thông, vây kín đám hào khách.

Nhương Thư hiểu ngay đối phương là người của Huyết Tâm giáo. Lã Tập Hiền quyết lấy mạng chàng nên đã bố trí mai phục ở đây, dùng đàn trâu dồn chàng vào bẫy. Người của lão luôn bám sát chàng nên phát hiện việc chàng quay trở lại Hàn gia trang và trở ra với mặt giả. Bọn hào khách đồng hành vô tình đã bị vạ lây mà không biết!

Nhương Thư phẫn nộ gầm vang, rời lưng ngựa lao vào hàng ngũ bọn lục y, mở đường máu. Bạch Ngọc Tiên Tử thấy thế cũng rút Huyền Thiết địch chạy theo chàng. Hướng Nam của đường mòn được trấn giữ bởi hơn ba chục gã áo xanh.

Chúng đón tiếp Nhương Thư và Lâm Đại Ngọc bằng những ngọn phi tiêu tẩm độc, nhưng đã bị hai người đánh bật ra.

Nhương Thư động sát cơ, thi triển ngay phép ngự kiếm, thân hình rời mặt đất, nương theo kiếm quang bay vút đi. Bọn lục y hung hãn vung kiếm liên thủ đỡ đòn, song không sao cản nổi trái cầu thép lấp loáng như gương kia. Vũ khí của chúng văng khỏi tay và có đến bốn tên kêu rên đau đớn.

Nhương Thư lọt vào giữa hàng ngũ đối phương, gieo rắc cái chết bằng những đường kiếm tàn nhẫn và nhanh như thiểm điện. Bạch Ngọc Tiên Tử cũng đã giết được hai tên, vào với Nhương Thư sát cánh tiến lên. Ma âm không làm gì được Nhương Thư nhưng vẫn có tác dụng đối với Bạch Ngọc Tiên Tử. Nàng vội thò tay vào thắt lưng lấy ra một chiếc lục lạc lớn cỡ quả chanh, bằng ngọc trắng, có núm nhỏ để xỏ tơ qua. Lâm Đại Ngọc đeo lục lạc nơi cổ tay hữu rung lên, tạo ra những âm thanh trong vắt hóa giải Ma âm của bọn Huyết Tâm giáo. Thì ra, Địch Thánh tinh thông âm luật nên đã tạo ra vật khắc chế tà pháp của Huyết Tâm Đế Quân, để lại cho học trò.

Nhờ vậy, giờ đây Bạch Ngọc Tiên Tử ung dung chiến đấu, thi thố hết sở học, biểu diễn cho Nhương Thư thưởng lãm.

Nàng thuận tay trái nên có thể đi song song với chàng mà không sợ vũ khí của họ vướng nhau. Thỉnh thoảng hai người lại bị đối phương dồn ép, vai lưng kề cận truyền cho nhau chút hơi ấm của tình đồng đội.

Nhương Thư giết hai tên thì Lâm Đại Ngọc cũng làm thịt được một, tiến lên rất nhanh. Những tiếng ngựa hí, tiếng quát tháo phía sau đã im lặng, vì mười tám gã hảo hán yểu mệnh kia đã gục ngã. Phe đối phương rảnh tay kéo cả đến để bao vây hai con mồi cuối cùng.

Chúng tập trung nhiều ở hướng Nam đường mòn vì sợ bọn Nhương Thư thoát ra quan đạo. Những tên đứng ngoài vòng liên tiếp phóng những mũi phi tiêu tẩm độc khiến đôi nam nữ kia phải phân tâm đối phó, bước tiến chậm dần. Lâm Đại Ngọc giàu kinh nghiệm hơn Nhương Thư, nhận ra hiểm cảnh liền đề nghị :

- Công tử! Chúng ta chạy vào rừng thôi!

Quả đúng như vậy, cây cối sẽ chắn cho họ trước những ngọn phi tiêu, và với khinh công của hai người, việc thoát đi sẽ dễ dàng hơn. Nhương Thư gật đầu, cùng nàng đổi hướng, đánh thốc về phía đồi thông hướng Tây, chàng múa tít bảo kiếm mở đường, còn Lâm Đại Ngọc thì đoạn hậu.

Nhương Thư trợn mắt đánh những đòn hiểm ác nhất, giết liền mười hai gã lục y, phá thủng vòng vây, tiến lên đồi cây. Phe đối phương cuống cuồng đuổi theo sát nút, quyết không tha. Dường như chúng được lệnh phải giết được chàng bằng bất cứ giá nào.

Tiếng chân người thình thịch và tiếng chửi rủa cứ bám theo nên đôi nam thanh nữ tú vẫn phải cắm đầu mà chạy. Phía sau đồi thông là một cánh rừng nguyên sinh rậm rạp, ngoài tùng bách còn có cả những loài cây phương Bắc khác, thảm thực vật phía dưới phong phú và rậm rạp.

Nhương Thư và Lâm Đại Ngọc không còn cách nào khác là chui vào đấy. Chàng vung kiếm chặt những cành ngang để mở đường, cùng Lâm Đại Ngọc vào sâu vài dặm thì không còn nghe tiếng đối phương nữa. Hai người dừng bước thở hổn hển, nhìn nhau cười, mừng vì thoát nạn.

Họ ngồi xuống hai tảng đá, nghỉ ngơi và quán sát nơi mình đến. Khu vực này cây cối khá thưa thớt, mặt đất bằng phẳng, ít bụi rậm, lại có cả một hồ nước trong xanh, đường kính rộng độ bốn năm trượng. Trời đã xế chiều, ánh tà dương không xuyên qua nổi rừng cây rậm rạp chung quanh, khiến quang cảnh có phần âm u. Tuy nhiên, bầu trời phía trên đầu hai người đã trong sáng lại chứ không đe dọa đổ mưa như lúc trưa nữa.

Nhìn gương mặt lem luốc và y phục rách nát đẫm mồ hôi của Lâm Đại Ngọc, Nhương Thư cười bảo :

- Tiên tử hãy xuống ao tắm rửa, tại hạ quay lại xem phe địch đã rút hết chưa?

Lâm Đại Ngọc thẹn thùng gật đầu, yểu điệu đi về phía hồ nước. Tay nải vẫn còn trên vai nên giờ đây nàng mới có quần áo sạch mà thay! Nhương Thư đi khuất, Lâm Đại Ngọc nhanh tay thoát y, nhảy xống hồ, khẽ run lên vì nước lạnh toát. Đáy hồ rất sâu nên chân nàng không chạm đáy, đứng lửng lơ mà kỳ cọ, tắm gội. Nàng vuốt ve đôi gò nhũ phong săn chắc, tròn trịa và tự nhủ rằng mình vẫn còn trẻ trung, dù tuổi đã ba mươi. Điều này giúp nàng thêm can đảm để dám mơ mộng đến Nhương Thư.

Thực ra, Bạch Ngọc Tiên Tử xinh đẹp chẳng kém Hổ Hồng Nhan. Nhan sắc của nữ nhân vốn là cái khó thẩm định, so sánh nhất trên đời! Mỹ nhân là vật sống chứ chẳng phải là tượng đá, nụ cười, ánh mắt, nét mặt, ngôn từ của họ là một phần trong nhan sắc Ngọc Trâm tươi tắn, hoạt bát như hoa Xuân, còn Đại Ngọc u sầu, đằm thắm như Cúc thu, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười. Bạch Ngọc Tiên Tử thích thú vẫy vùng. Bơi quanh hồ, thân hình trắng phau, thon dài cứ thấp thoáng dưới làn nước bạc, trông quyến rũ lạ lùng. Nhưng khi đến giữa hồ, nàng chợt phát hiện mình đã rơi vào vùng xoáy nước rất mạnh, hung hãn lôi nàng xuống đáy. Lâm Đại Ngọc kinh hoàng rú thất thanh, chân tay quạt nước cố bơi ra khỏi vũng xáy chết người.

Nhương Thư đã nghe thấy, vội quay lại, lướt nhanh như tên bắn, và tung mình vượt khoảng cách hai trượng rưởi, tả thủ nắm tay nàng lôi đi. Công lực của Nhương Thư rất thâm hậu, bàn tay như mái chèo quay tít, nên đã thắng được sức hút của guồng xoáy, đưa Đại Ngọc thoát ra.

Tiên tử ngợp nước nên đã ngất xỉu, Nhương Thư vội đưa nàng lên bờ, đặt tạm xuống bãi cỏ, trải nhanh áo choàng rồi bồng nàng để lên. Sau những động tác cần thết, Lâm Đại Ngọc hồi tỉnh, hổ thẹn nằm xấp xuống mà khóc rưng rức!

Nhương Thư lấy y phục sạch trải lên người nàng rồi xuống hồ tắm gội. Dĩ nhiên chàng không dám ra giữa hồ, chỉ nhìn về phía ấy mà thắc mắc, vì nước ao tù làm gì có xoáy?

Quay lại vẫn thấy Lâm Đại Ngọc nằm im thút thít, Nhương Thư thở dài, lên bờ lau khô người, thay y phục rồi nằm xuống cạnh nàng. Áo choàng của khách giang hồ thường rộng đến gần sải tay, đủ chỗ cho hai người. Chàng nằm nghiêng, vuốt ve thân hình mượt mà của Đại Ngọc.

Nàng thôi khóc trở mình ôm lấy chàng, lát sau mạnh dạn lần cởi áo Nhương Thư.

Cuộc ái ân khởi đầu lặng lẽ, đầu chàng rộn rã những âm thanh hoan lạc. Mãi đến sẫm tối, Nhương Thư mới chịu rời tấm thân nồng nàn, khêu gợi của Bạch Ngọc Tiên Tử, đi tìm củi nhóm lửa.

Đêm ấy, tuy bụng đói nhưng hai người vẫn đủ sức mây mưa, sau khi nuốt vài viên linh đan dỡ dạ. Sáng ra, Nhương Thư bị đánh thức bởi tiếng chim rừng ríu rít, tỉnh dậy trước, nhẹ nhàng gỡ vòng tay người ngọc mà ngồi lên. Sương thu ướt đẫm tấm chăn, là chiếc áo choàng thứ hai, nhưng không làm lạnh giá nổi da thịt của những kể có nội công thâm hậu như Nhương Thư và Đại Ngọc!

Nhương Thư bước xuống ngâm mình và rửa mặt, nghe tâm hồn sảng khoái, thư thái, minh mẫn phi thường! Phải chăng những trận ái ân đêm qua đã như ánh dương xua bớt mây mù trong tiềm thức u ám của chàng? Hoặc đấy chính là diệu dụng của việc quân bình âm dương?

Nhương Thư không rõ, chỉ biết giờ đây lòng mình thanh thản, bao dung hơn trước bội phần. Dường như, kỷ niệm đầy máu và nước mắt của một quãng đời thơ ấu đày đọa đã nhạt mờ đi, không còn ám ảnh tâm hồn chàng nữa!

Sau khi cha chàng Tần Tử Chính chết giữa rừng vắng. Nhương Thư thư đã lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, ăn xin để sống qua ngày, chịu vô vàn tủi nhục. Trời cao có mắt nên một đứa bé năm tuổi mới tồn tại được ba năm, sống sót đến lúc được Phật Đăng Thượng Nhân cứu vớt.

Mặc xong y phục, Nhương Thư phát hiện Bạch Ngọc Tiên Tử khẽ rên lên vì lạnh. Cái đói đã làm giảm sút khả năng đề kháng của cơ thể nàng. Nhương Thư thì khác, chàng luyện thần công Phật môn, thường phải tịnh cốc sáu bảy ngày nên đã quen. Nhương Thư mỉm cười khi thấy mặt hoa nhăn nhó trông rất đáng yêu, liền nằm xuống chui vào áo choàng, ôm nàng để sưởi ấm cho cơ thể mỹ nhân yếu đuối. Đại Ngọc ngái ngủ nép sát vào người tình lang rồi ngủ thiếp đi.

Hai khắc sau, bình minh đã le lói xuyên qua tàn cây, rọi đến chỗ họ. Nhương Thư đánh thức người đẹp lười biếng bằng cách kéo mép áo choàng xuống, để gió thu ve vuốt đồi ngực mịn màng, ngồn ngộn kia!

Nhương Thư ngắm không chán mắt, lòng nổi sóng tình, đưa tay mơn man đôi tạo vật diệu kỳ. Bạch Ngọc Tiên Tử rùng mình mở mắt, tình tứ trách móc :

- Tướng công không đói sao? Thiếp đã rã ruột, sức đâu mà hầu hạ chàng nữa?

Nhương Thư ngượng ngùng ngồi lên, gượng cười chữa thẹn :

- Mỗi lần đến giai đoạn luyện công quan trọng, ta thường phải nhịn đói vài ngày nên quen!

Bạch Ngọc Tiên Tử vệ sinh, thay y phục rất nhanh. Hai người nắm tay nhau rời khỏi khu rừng, nhưng lạ thay, họ đi một hồi lâu lại trở về bên hồ nước!

Nhương Thư cười khổ :

- Té ra chiều qua chúng ta vô tình đâm vào một trận kỳ môn vây quanh hồ nước! Không ra được thì chắc là chết đói mất!

Đại Ngọc đang đắm chìm trong hạnh phúc nên rất lạc quan, bật cười khúc khích nói đùa :

- Thiếp sẽ ăn thịt tướng công như loài Đường Lang vậy?

Đường Lang chính là bọ ngựa, con mái thường ăn thịt con trống sau khi giao hợp! Nhương Thư trung hậu, ít lời, chỉ cười thôi! Chàng dựa vào hướng mặt trời, kéo Đại Ngọc tìm cách phá trận lần nữa, song chỉ hoài công!

Hai người đều đói ruột, nghĩ đến chuyện kiếm thực phẩm trước đã. Bụng rỗng thì chẳng thể là được gì! Khổ thay, trong phạm vi trận pháp chẳng hề có thú rừng, và dưới hồ cũng vắng bóng cá tôm!

Nhương Thư đã lặn xuống tìm kiếm mà không thấy một sinh vật nào, dù là một con tép nhỏ!

Đôi uyên ương lại phải nuối những viên thuốc trị thương cuối cùng để chống đói. Ngoài tam thất, trong ấy có cả những dược vị bổ dưỡng như sâm nhung, hà thủ nên khá nhiều năng lượng.

Nhương Thư đã trèo lên ngọn cây cao nhất, nhìn ra ngoài, song chỉ thấy khói sương mù mịt, cả vầng dương cũng biết mất, dù lúc chàng ở dưới đất nó vẫn còn rực rỡ. Tuy chán nản nhưng chàng cũng phải khâm phục tài trí của kẻ bày ra trận pháp này! Nhương Thư chợt nhớ lời sư phụ kể về một bậc kỳ nhân là Trại Tôn Tấn Vệ Hồng.

Họ Vệ là người giỏi trận đồ nhất thiên hạ, biệt tích chục năm, nếu còn sống thì tuổi đã bảy mươi sáu. Nhương Thư xúc động linh cơ, vận công nói lớn :

- Vệ tiền bối! Kẻ hậu sinh bị truy đuổi nên mới lạc vào cấm địa! Mong tiền bối nể mặt gia sư là Phật Đăng Thượng Nhân mà tha thứ cho!

Chàng chỉ hành động cầu may, nào ngờ lại có tác dụng. Một giọng già nua vọng đến :

- Té ra tiểu tử ngươi là đệ tử của lão Đinh Doãn đấy ư?

Đinh Doãn chính là thực danh của Thượng nhân, chỉ những người rất thân mới biết được! Bạch Ngọc Tiên Tử chết điếng vì hổ thẹn, tự hỏi lão già chết toi kia có rình xem cảnh mây mưa của nàng và Nhương Thư hay không?

Trên kia, Nhương Thư phấn khởi đáp :
- Vãn bối là Tần Nhương Thư và thuyết thê Lâm Đại Ngọc xin bái kiến Vệ tiền bối!

Trại Tôn Tân lặng im một lúc lâu mới hỏi :

- Sư phụ ngươi còn tráng kiện hay đã ngỏm rồi?

Nhương Thư nghiêm trang đáp :

- Bẩm tiền bối! Gia sư đã nhập Niết Bàn hồi cuối năm ngoái!

Vệ Hồng thở dài thương tiếc, âm thanh rất rõ, cứ như lão đang đối diện với Nhương Thư. Vài con ong vo ve quanh đầu đe dọa, khiến chàng họ Tần sợ hãi, chuồn mau xuống đất. Đại Ngọc ân cần phủi bụi, gỡ mạnh nhện trên tóc và y phục của tình quân, âu yếm nói :

- May quá! Không ngờ lại gặp người quen! Thiếp ăn ít nhưng không thể nhịn đói được!

Vẻ hí hửng của nàng có chút ngây thơ của trẻ con, khiến Nhương Thư bật cười :

- Ta mới là kẻ gặp may vì không bị nàng ăn thịt!

Đại Ngọc thẹn thùng định trả đũa thì Trại Tôn Tẩn lên tiếng :

- Này Tần hiền diệt! Nể mặt Thượng nhân, lão phu sẽ phá lệ tha cho hai ngươi. Nhưng hiền diệt phải là giúp ta một việc!

Nhương Thư vội đáp :

- Xin tiền bối cứ dạy!

Vệ Hồng chậm rãi nói :

- Mười năm trước lão phu luyện công sai đường, Nhâm Mạch bị tổn thương, thị lực giảm dần. Lão phu tinh thông y thuật nên biết rằng mật của loài Bạch Thủy Xà Vương có thể chữa lành, liền ra sức truy tầm. Khi đến đây lão phu phát hiện có một con dưới hồ nước, nhưng mắt đã quá kém nên không sao bắt được. Đúng giờ Ngọ, phiền Tần hiền diệt hãy xuống hồ mang Bạch Thủy Xà Vương lên giùm, sống hay chết gì cũng được!

Bạch Ngọc Tiên Tử cướp lời Nhương Thư :

- Bọn vãn bối đang đói đến bủn rủn tứ chi, mong Vệ tiền bối ban cho ít thực phẩm! Có no bụng mới đủ sức thu phục Bạch Thủy Xà Vương!

Trại Tôn Tấn đáp :

- Lão phu sẽ sai thần ưng mang đến cho các ngươi ít thịt!

Chỉ lát sau, một con chim ưng lông vàng to lớn, sải rộng đến hơn trượng bay đến, thả xuống một đùi dê hun khói, nguội và cứng ngắc. Nhương Thư rạng rỡ nhặt thêm cành khô bỏ vào đống than đêm qua còn sót, thổi bùng lên rồi nướng lại đùi dê ấy!

Đại Ngọc chứng tỏ sự đảm đang chu đáo của mình bằng cách mở tay nải lấy ra một lọ muối trắng! Dĩ nhiên nàng được Nhương Thư khen ngợi. Nàng còn giành thanh trường kiếm, cắt từng miếng thịt trao cho tình lang, dù chẳng ngon lành gì nhưng đang đói nên họ ăn sạch chiếc đùi dê, chỉ trừ xương!

Còn mấy khắc nữa mới đến chính ngọ, Nhương Thư và Đại Ngọc ngồi nghỉ dưới bóng cây. Bạch Ngọc Tiên Tử bỗng cau mày nghĩ ngợi, lát sau chủ động xà vào người Nhương Thư, lả lơi hôn cổ chàng, song lại thì thầm với giọng là lạ :

- Tướng công! Tiên sư đã từng kể về loài Bạch Thủy Xà Vương này! Nó có tuổi thọ rất cao, khi sống đủ ba trăm năm sẽ có lớp da trắng như tuyết, vảy óng ánh bạc, thân dài đến hai trượng và to bằng bắp tay người lớn! Lúc ấy, trên đầu Bạch Thủy Xà Vương mọc ra một nhánh sừng đỏ, giống như nhung lươn vậy! Trong sừng chứa tinh huyết mấy trăm năm của Xà vương nên rất thần diệu, quý hơn cả mật, giúp cho người luyện võ tăng tiến chân nguyên! Nay Vệ lão chỉ cần mật, tướng công hãy hút lấy giác huyết của Bạch Thủy Xà Vương, coi như tự thưởng công vậy! Và đấy là cách giết nó nhanh chóng nhất!

Nhương Thư vốn chẳng có lòng tham nên phân vân, vì dẫu sao con vật kia cũng thuộc về Trại Tôn Tấn. Đại Ngọc hiểu ý xuống giọng buồn rầu :

- Nếu chàng không thèm công lực thì làm sao thoát chết dưới tay Lã Tập Hiền? Chẳng lẽ tướng công không thương thiếp và con của chúng ta hay sao?

Nhương Thư rợn tóc gáy, ngơ ngác hỏi :

- Mới gần gũi có một đêm, sao lại mang thai nhanh thế?

Biết Nhương Thư khờ khạo trong việc trai gái, Đại Ngọc giả đò bẽn lẽn :

- Tướng công biết gì mà nói! Việc thụ thai nào có khó khăn! Khi hôm qua chàng liên tục phá thành đoạt lũy khiến thiếp nhiều phen bay bổng? Thiếp linh cảm việc có con là chắc chắn đến chín phần!

Nhương Thư tưởng thật, tư lự nói :

- Nếu vậy thì ta không thể thí mạng được nữa! Con thơ nào có tội tình gì mà phải sớm chịu cảnh mồ côi?

Đại Ngọc giấu nụ cười đắc ý bằng cách hôn lên má chàng thắm thiết, rồi dặn luôn :

- Chóp sừng rất mềm, chàng chỉ cần cắn mạnh là đứt ngay. Trại Tôn Tấn có nhìn bên ngoài cũng chẳng phát hiện được!

Nhương Thư gật đầu, bất giác đặt tay lên bụng Đại Ngọc như nghe ngóng thai nhi. Nàng bật cười ngặt nghẽo :

- Phải bốn năm tháng nữa con chúng ta mới cựa quậy! Tướng công thực là ngốc!

Nhương Thư cũng tự cười mình, hôn nàng tới tấp. Hai người âu yếm nhau đến lúc vầng thái dương chiếu thẳng xuống mặt hồ. Và Trại Tôn Tấn cũng lên tiếng nhắc nhở :

- Nhương Thư! Đã đến lúc rồi đấy! Bạch Thủy Xà Vương sẽ rời hang lên tắm nắng!

Nhương Thư liền cởi áo và giày vải, chỉ mặc quần dài, cầm kiếm trầm mình xuống nước, nhổ bụi cỏ ven hồ che đầu, bơi ra giữa. Lúc này, vùng trung tâm hồ bỗng xao động xoáy tít, bọt nước bắn tung tóe chứ không lặng lẽ như hôm qua.

Sau đó, một con rắn to lớn, dài ngoằng, vẩy trắng bạc, nổi lên, bơi thành vòng tròn. Thì ra chính nó đã tạo nên xoáy nước bằng lối đùa giỡn kỳ lạ kia.

Nhương Thư lặn sâu xuống, lao đến nhanh như cá kình, trồi lên ngay phía dưới quái vật, thọc kiếm đâm vào bụng nó. Nào ngờ, da Bạch Thủy Xà Vương cực kỳ bền chắc, cứ như lớp vẩy hóa sừng, đẩy mũi kiếm trượt đi. Bạch Thủy Xà Vương lập tức quấn lấy thân hình gã hỗn láo kia, và há rộng cái miệng gớm ghiếc táp vào đầu con mồi.

Trên bờ Bạch Ngọc Tiên Tử sợ hãi thét vang trước cảnh ngộ hiểm nghèo của Nhương Thư, nàng đâu ngờ con vật ấy lại lợi hại đến thế! Song Nhương Thư đã kịp vung kiếm thọc xuống họng quái xà, nó đau đớn ngậm miệng lại, rút đầu về, giật mất vũ khí của chàng.

Bạch Thủy Xà Vương lắc đầu mấy cái, cố nhả thanh thép kia ra, rồi há họng tiếp tục đớp Nhương Thư. Lâm nguy bất loạn, chàng trai họ Tần nghiêng đầu né tránh, dùng hai tay chụp lấy cổ Bạch Thủy Xà Vương bóp mạnh và kéo ghì xuống. Nhờ dày công luyện tập cả nội ngoại công bàn tay Nhương Thư cứng như thép, lực đạo mạnh đến mấy trăm cân, khiến con vật vô cùng đau đớn. Thân nó hơi lỏng ra, Nhương Thư liền trườn lên, cố cắn vào mũi nhọn của chiếc sừng đỏ rực. Nếu Bạch Ngọc Tiên Tử không dặn trước thì lúc này chàng đã chẳng biết làm thế nào để giết Bạch Thủy Xà Vương. Nó mà kịp lặn xuống đáy là chàng tiêu đời!

Giờ thì chẳng phải vì tham lam mà vì tính mạng của mình, Nhương Thư hút lấy hút để chất dịch tanh hôi trong chiếc sừng rắn. Dường như dòng tinh huyết ấy thông với não rắn, nên khi mất đi, rắn nước khổng lồ liền mê man, không cựa quậy được nữa!

Nhương Thư mừng rỡ lôi nó vào bờ.

Đại Ngọc cười mà nước mắt nhạt nhòa :

- Tướng công làm thiếp sợ muốn chết được!

Nhương Thư cười đáp :

- Không ngờ da nó cứng rắn đến nỗi kiếm đâm không thủng!

Đại Ngọc lộ vẻ ăn năn :

- Tiên sư không hề nói đến việc ấy nên thiếp chẳng thể cảnh báo tướng công!

Và nàng chợt biến sắc lẩm bẩm :

- Lạ thực! Vì sao Trại Tôn Tân đã nhiều phen bắt hụt Bạch Thủy Xà Vương lại chẳng nói cho tướng công biết rằng da nó không sợ gươm đao?

Nhương Thư biện minh dùm họ Vệ :

- Có lẽ Vệ tiền bối chưa lần nào đâm trúng quái xà cho nên không biết!

Chàng vận công cao giọng :

- Vệ tiền bối! Tiểu diệt đã giết được Bạch Thủy Xà Vương!

Giọng nói già nua của Trại Tôn Tân chẳng có chút vui mừng :

- Tốt lắm! Ngươi hãy mang nó đi về hướng Đông, khi đến gốc cây bách lớn nhất thì đi theo thứ tự sau: tả ba bước, tiến năm bước, rồi sang hữu hai bước, sau đó lại tiến năm bước!

Nhương Thư vác phần đầu, Đại Ngọc nắm chóp đuôi Bạch Thủy Xà Vương, đi về hướng Đông, theo đúng chỉ dẫn của Vệ Hồng mà vượt trận. Gần khắc sau, trước mặt họ xuất hiện một tòa nhà lục giác xây bằng đá núi, mái ngói đầy lá mục và những loại cây ký sinh! Trên tường cũng chi chít dây leo, như màn treo cửa.

Tòa thạch ốc quái dị kia nằm dưới một vòm cây rậm rạp, đến nỗi ánh dương quang không xuyên qua nổi. Do vậy, không gian trong nhà cực kỳ tăm tối dù cửa chính rộng mở. Nhương Thư ngỡ ngàng dừng bước, lên tiếng gọi :

- Vệ tiền bối!

Lão ta đáp ngay :

- Ta đây! Hai ngươi cứ đi thẳng vào nhà!

Hai kẻ hậu sinh vội tuân mệnh tiến vào Và một mùi hương hăng hắc xông vào mũi họ, khiến Nhương Thư và Đại Ngọc ngã lăn ra bất tỉnh. Lát sau, Nhương Thư mở mắt, bàng hoàng nhận ra mình bị trói chặt chân tay, treo lơ lửng cách mặt đất vài gang. Cách chàng không xa là Bạch Ngọc Tiên Tử, cũng lâm vào tình trạng như thế, nhưng thân thể lõa lồ, chẳng còn một mảnh vải.Không gian trước thạch thất đã sáng sủa hơn vì năm khung cửa sổ đều đã được mở toang. Nhờ vậy, Nhương Thư nhìn thấy gương mặt của lão già áo xanh đang ngồi uống rượu, ngắm nghía thân hình nõn nà của Đại Ngọc, chàng chết điếng người, thét lên lạc giọng :

- Trác Thiên Lộc!

Bao ngày tìm kiếm kẻ thù, nào ngờ hôm nay lại rơi vào tay lão! Nhương Thư điên cuồng vùng vẫy nhưng huyệt đạo đã bị phong tỏa, chân khí bế tắc và tứ chi mềm rũ!

Trác Thiên Lộc cười khanh khách, bước đến vuốt ve những đường cong trên cơ thể Đại Ngọc, mắt lóe lên những tia dâm đãng và khoái trá. May mà Đại Ngọc công lực yếu kém nên vẫn chưa tỉnh lại mà cảm nhận được nỗi nhục nhã thống khổ. Nhương Thư đau lòng vô hạn khi thấy họ Trác mạnh tay dày vò da thịt người yêu, chàng phẫn nộ mắng :

- Trác Thiên Lộc! Vì sao một bậc cao tăng như lão mà lại trở nên đốn mạt đến mức ấy? Mẹ con ta nào có thù oán già với lão?

Họ Trác cười ghê rợn :

- Mẹ con ngươi không có tội nhưng cha ngươi thì đáng bị lão phu băm vằm muôn mảnh! Nay Tần Tử Chính đã chết, lão phu đành phải trút hận lên đầu vợ con của hắn!

Nhương Thư kinh ngạc hỏi :

- Nói láo! Lão và phụ thân ta nào có quen biết nhau? Ta về Ngũ Đài sơn học nghệ khi gia phụ qua đời đã ba bốn năm!

Trác Thiên Lộc lắc đầu, đưa tay sờ vết thẹo trên mặt, mắt chói lọi hận thù, nói bằng giọng oán hờn :

- Ba mươi năm trước, lão phu và tên khốn khiếp Tần Tử Chính có chân trong một tổ chức giết mướn có tên gọi Báo Ứng hội. Ngày ấy, ta và hắn được cử đến Hán Trung hạ sát Tứ Xuyên Thần Kích Mao Tâm Ương, để chiếm tấm họa đồ dẫn đến lăng mộ của Thần Quang chân nhân. Lão phu định mang về dâng lên Hội chủ, nào ngờ giữa đường bị Tần Tử Chính ám toán rồi cướp lấy! May mà sư phụ đi ngang qua, cứu mạng lão phu. Ta biết mình không thể quay lại với Báo Ứng hội nên giấu nhem sự việc, chỉ nói rằng mình bị kẻ cướp, rồi khẩn cầu Thượng nhân thu nạp. Thù xưa tưởng chừng đã bị xóa nhòa bởi kệ kinh, nào ngờ mẹ con ngươi lại dẫn xác đến Ngũ Đài sơn. Cách nay ba mươi năm, lão phu tình cờ được nghe sư phụ tiết lộ tên cha ngươi là Tần Tử Chính, cộng với đôi vành tai của ngươi, ta biết chẳng thể lầm! Thế là lửa hờn bùng cháy. Trác mỗ liền dâm sát con mụ ni cô hơ hớ là mẹ mi!

Nhương Thư cố dằn cơn giận điên cuồng vì nhận ra Lâm Đại Ngọc đã tỉnh lại và nháy mắt ra hiệu. Hình như nàng đang toan tính việc thoát thân? Như đã nói ở đoạn trên, sau khi ân ái với Tiên tử, tâm hồn Nhương Thư bớt cuồng nộ hơn xưa, nên giờ đây mới nhẫn nhục được. Chàng run rẩy nói :

- Nhưng vì sao lão lại có mặt nơi này?

Trác Thiên Lộc đắc ý đáp :

- Trại Tôn Tẩn đã từng gởi thư cầu viện sư phụ, đúng lúc ta đang định giết mẹ ngươi rồi bỏ trốn! Vì thế, ta bóc thư xem rồi hủy đi. Sau khi rời Ngũ Đài sơn, ta đến thẳng đây, giả vờ nói rằng được sư phụ cử đi. Nhân lúc Vệ Hồng sơ ý. Ta giết lão, đoạt lấy chỗ này!

Nhương Thư lại nhận thêm cái nháy mắt của Đại Ngọc nên tìm cách kéo dài thời gian :

- Vậy sao trong ba năm qua lão không hề xuống hồ bắt Bạch Thủy Xà Vương thu lấy mật?

Trác Thiên Lộc cười hăng hắc nói :

- Ngươi không nhớ rằng lão phu suốt đời sợ rắn hay sao? Vả lại lão phu đâu có kém mắt mà cần đến mật của Bạch Thủy Xà Vương? Khi ngươi lên tiếng, ta mới nghĩ ra độc kế, vừa có mật rắn vừa diệt được mầm họa!

Chợt lão cau mày :

- Nhương Thư! Ta đã lục soát khắp ni am mà không thấy tấm bản đồ! Mẹ ngươi không giữ thì chẳng lẽ là ngươi?

Nhương Thư cười nhạt :

- Lúc ta về chùa Phật Quang nào có mang theo vật gì đâu?

Tuy nói thế nhưng lòng chàng lại nhớ đến mảnh đồng tiền khắc đầy những nét kỳ lạ mà mình đeo nơi cổ hồi nhỏ để lấy phước, kỷ vật được chàng giữ gìn suốt ba năm lưu lạc, đến tuổi mười lăm mới tháo ra, hiện cất trong tăng xá ở chùa Phật Quang! Phải chăng cha chàng đã thu nhỏ họa đồ lại, khắc lại trên một mặt của đồng tiền?

Bạch Ngọc Tiên Tử đã giải được huyệt đạo, cong người lên đạp vào Trác Thiên Lộc. Nếu trúng chiêu này thì lão không chết cũng trọng thương! Đáng tiếc thay họ Trác võ nghệ cao cường, vừa nghe tiếng dây chão kẽo kẹt là quay lại đỡ đòn ngay. Song thủ của lão đánh bạt đôi chân, rồi điểm nhanh những huyệt trên đùi và sườn đối phương.

Đại Ngọc tức tối và tiếc nuối cơ hội ngàn vàng này, bật khóc nức nở. Nhưng Nhương Thư thì lại thở dài thườn thượt.

Trác Thiên Lộc cười đanh ác :

- Nhương Thư! Lão phu sẽ cho ngươi được chứng kiến cảnh phong lưu hoan lạc lần cuối cùng! Ngươi càng đau khổ thì lão phu càng thấy khoái!

Nói xong, lão vươn tay khóa hàm Bạch Ngọc Tiên Tử, đề phòng nàng cắn lưỡi tự sát. Lão tháo dây trói, đặt thân hình mềm rũ của Đại Ngọc xuống sàn nhà, rồi cởi y phục, chuẩn bị cưỡng bức nàng!

Dòng lệ tuyệt vọng, đau đớn tràn ra khỏi đôi mắt bi thương của nữ nhân.

Cảnh tượng này đã gợi lại cái chết thảm của mẹ hiền, khiến cơn giận sôi sục trong lòng Nhương Thư, song không có cách phát tiết, uất khí công tâm làm chàng thét lên một tiếng rồi hộc máu thành vòi.

Tình cờ, dòng máu nóng kia bay vào mặt Trác Thiên Lộc, chạm trúng mắt phải. Lão giận dữ, nhặt áo lau mặt, và kinh hãi vì cảm giác đau rát nơi tròng mắt, cứ như bị sát muối.

Đồng thời, sau khi hộc máu, Nhương Thư phát hiện một luồng chân khí nóng hổi từ Đan điền cuồn cuộc lưu chuyển khắp người, giải tỏa những huyệt đạo bị phong bế. Công lực phục hồi, chàng mừng rỡ uốn người, phóng song cước vào ngực lão họ Trác. Lão đang khổ sở vì con mắt mờ đi và đau nhức khôn tả nên không tránh kịp chỉ đưa tay đỡ. Thân thể Trác Thiên Lộc văng vào vách tường. Lão hộc máu, nhưng vẫn còn đủ sức khập khiễng bỏ chạy.

Nhương Thư giật đứt dây trói tay, hạ xuống đất, lao ra ngoài để truy đuổi kẻ đại thù, nhưng lão ác ôn đã biệt tăm trong rừng cây rậm rạp. Lo cho Đại Ngọc, Nhương Thư bỏ cuộc quay lại dược thất.

Được giải huyệt xong, nàng ôm chàng khóc ngất. Nữ nhân dẫu thùy mị cũng có lúc nổi tam bành, Đại Ngọc vừa khóc vừa chửi :

- Tồ bà lão chết tiệt họ Trác! Thiếp mà bắt được lão thì sẽ móc mắt, chặt tay rồi mới giết!

Nhương Thư phì cười :

- Sao lại dã man thế?

Đại Ngọc hậm hực :

- Lão quỷ ấy làm gì thiếp bộ chàng không thấy sao?

Biết chắc Trác Thiên Lộc thọ trọng thương, không dám quay lại. Hai người quyết định ở lại đây thêm một đêm.

Giường chiếu đầy đủ, thực phẩm dồi dào.

Thạch ốc quả là một tổ ấm lý tưởng.

Mặc xong y phục, Lâm Đại Ngọc tò mò hỏi :

- Chẳng lẽ tướng công giỏi đến mức có thể phun máu mà đánh mù mắt Trác lão quỷ?

Nhương Thư đã suy nghĩ nhiều về điều này nên cười khổ :

- Không phải đâu! Hình như trong máu của ta có độc nên mắt lão Trác mới bị đau đớn như vậy!

Đại Ngọc kinh hãi lẩm bẩm :

- Hay là tinh huyết của Bạch Thủy Xà Vương mang độc tính?

Nàng vội bước đến kệ sách trên vách lục lọi, tìm được quyển Sơn Hải kinh, lật ra xem. Đến trang nói về Bạch Thủy Xà vương nàng thấy có đoạn viết rằng “Tinh huyết lỏng chứa trong sừng Bạch Thủy Xà Vương ba trăm tuổi có lẽ là dược vị rất trân quý, song nó lại tuyệt độc nên dược tính chưa được nghiên cứu chu đáo!”

Bạch Ngọc Tiên Tử rụng rời tay chân, mếu máo nói :

- Thiếp đã hại tướng công rồi!

Nhương Thư cũng đứng bên cùng đọc liền vỗ về :

- Ta thấy cơ thể vẫn khoẻ mạnh chứ đâu có hiện tượng gì khác! Có lẽ Quỷ Nấm ăn được năm xưa đã giúp ta kháng cự lại chất độc của máu sừng rắn!

Và chàng tươi cười :

- Hơn nữa, nến không nhờ máu chứa độc thì giờ đây ta cùng nàng đã sống dở chết dở dưới tay Trác Thiên Lộc rồi!

Đại Ngọc đỏ mặt, bắt Nhương Thư phải tĩnh tọa kiểm tra kinh mạch, trong lúc này nàng lôi xác Bạch Thủy Xà Vương ra phía sau mổ bụng. Nhương Thư tọa công thấy công lực tăng chút ít, kinh mạch thông suốt, có điều da thịt chàng dường như hơi bị căng cứng hơn bình thường! Nhương Thư biết là chuyện lạ nhưng không nói cho Đại Ngọc nghe làm gì Nữ nhân vốn hay lo lắng vu vơ, nhỏ xé ra to!

Mùi xào nấu từ căn bếp nhỏ phía động thạch ốc bay vào mũi Nhương Thư khiến con tỳ vị của chàng sôi sục. Lát sau, Đại Ngọc bưng mâm cơm lên đến, ríu rít nói :

- Tướng công! Nơi đây có cả loại gạo ngon của phương Nam, gia vị, thịt khô đầy đủ, chúng ta ở lại đây cả tháng cũng không lo đói!

Nhương Thư ngỡ ngàng :

- Sao lại thế!? Sáng mai chúng ta sẽ rời đây rồi mà?

Bạch Ngọc Tiên Tử xụ mặt :

- Luyện võ ở đây cũng được, thiếp còn có điều kiện hầu hạ tướng công! Về chùa rồi gần nhau sao tiện?

Nhương Thư thực thà đáp :

- Nhưng máu của ta rất độc, đâu thể ân ái với nàng được?

Đại Ngọc hổ thẹn nguýt chàng :

- Tướng công kỳ cục quá! Thiếp nào phải vì chuyện ấy?

Rồi nàng đánh trống lảng, bới cơm, gắp thịt rắn cho Nhương Thư, rồi thúc giục :

- Tướng công ăn nhiều vào! Tim gan của Bạch Thủy Xà Vương chắc là rất bổ dưỡng!

Chợt nhớ đến túi mật, nàng tất tả chạy xuống bếp lấy lên, thuận tay sách luôn vò rượu. Đại Ngọc cười bảo :

- Thiếp quả là đãng trí! Suýt nữa thì quên mất vật báu này! Tướng công hãy nuốt nó đi!

Biết nàng hối hận nên tìm đủ mọi cách để đền bù, Nhương Thư đành phải chiều ý, không hề phản bác, dù chẳng rõ hậu quả ra sao?

Ăn xong, Đại Ngọc lo quét dọn tổ ấm, Nhương Thư thì đi một vòng quan sát địa thế, rồi quay lại xem tủ sách của Trại Tôn Tẩn. Chàng vốn là kẻ ham đọc nên thường mặc áo thư sinh. Nay nhìn thấy hàng trăm cuốn sách vở, liền háo hức lật xem.

Ngoài binh thư và sách kỳ môn trận pháp còn hiện diện vài chục quyển kinh Phật. Trong đó có một quyển Đại Bát Nhã, bản in đời Tống. Nhương Thư tò mò muốn biết nó có khác bản in đầu tiên hay không, nên lục tay nải, lấy hộp gỗ đựng kinh mà Tất Cung Bảo đã tặng chàng ra so sánh!

Nhờ vậy chàng phát hiện một tờ rời kẹp trong quyển kinh đời Đường chi chít mấy trăm nét chữ rất nhỏ. Vẻ mặt kinh ngạc của Nhương Thư đã khiến Đại Ngọc chạy đến. Nghe chàng giải thích xong, Đại Ngọc căng mắt đọc thử. Nhận ra toàn là tên huyệt đạo và kinh lạc, nàng cau mày bảo :

- Tướng công! Có lẽ đây là một loại thần công thất truyền mà Tất trang chủ muốn tặng chàng để đền ơn cứu mạng.

Giấy này không được tốt, ố vàng và sắp mủn ra, chàng hãy cố học thuộc, sau này sẽ nghiên cứu!

Nhương Thư nghe lời nàng, cầm lấy lẩm nhẩm ghi vào óc. Thơ văn có câu cú mạch lạc nên dễ dàng nhớ, nhưng khẩu quyết võ công thì lủng củng, trúc trắc, chỉ nhớ sai thứ tự một huyệt là đủ vong mạng! Nửa canh giờ sau, Nhương Thư mới tự tin đã thuộc lòng, và mảnh giấy trên tay cũng rách nát. Chàng cẩn thận nâng niu, định ghép nó lại, bỏ vào quyển kinh thì Đại Ngọc hỏi :

- Tướng công thuộc chưa, đọc thử cho thiếp kiểm tra?

Nhương Thư liền đưa mảnh giấy cho nàng, đọc lại chẳng sai một chữ, Đại Ngọc mỉm cười, xoa tay biến tờ giấy kia thành bột và nói :

- Nó là của riêng tướng công đấy!

Nhương Thư bật cười :

- Đúng là đàn bà! Lúc nào cũng chỉ muốn trượng phu của mình hơn thiên hạ!

Bạch Ngọc Tiên Tử tủm tỉm đáp :

- Trung hậu như tướng công thì làm sao hiểu rõ lòng dạ nữ nhân?

Vũ khí đã rơi xuống đáy hồ. Nhương Thư bèn lấy thanh kiếm cũ treo trên vách xuống dùng. Có lẽ đây là di vật của Trại Tôn Tẩn? Chàng luyện kiếm đến khi hoàng hôn tím lịm mới thôi.

Cơm nước đã sẵn sàng, ngoài thịt Bạch Thủy Xà Vương kho còn có tô canh rau dại. Cảnh ấm cúng và hạnh phúc này đã khiến Nhương Thư thêm yêu mến Bạch Ngọc Tiên Tử. Tình cảm càng nồng thắm, sâu đậm hơn những gì chàng dành cho chị em nhà họ Điền. Tình yêu vốn là điều kỳ diệu nhất thế gian, không có quy luật và vượt ngoài yếu tố thời gian.

Tối hôm ấy, trò chuyện mãi mà chẳng thấy tướng công phất cờ khởi nghĩa, Đại Ngọc tấm tức bật khóc :

- Phải chăng tướng công chê thân thể thiếp đã uế dưới tay họ Trác nên không thèm đụng đến nữa?

Nhương Thư thở dài :

- Nào phải vậy! Ta chi sợ di hại đến nàng đấy thôi!

Đại Ngọc phụng phịu nói :

- Thiếp có cắn chàng chảy máu đâu mà ngộ độc?

Rồi nàng chủ động thoát y dâng hiến thân hình rũ mềm, gợi cảm cho Nhương Thư. Nàng nồng nhiệt gấp bội đêm qua, như muốn xóa tan nỗi ám ảnh của cuộc cưỡng bức lúc trưa? Lòng dạ Nhương Thư trong sáng, quảng đại nên không tỳ vết bởi tai nạn ấy, hào hứng đáp ứng, làm nguôi ngoại nỗi hổ thẹn và mặc cảm thất tiết của ái thê!

Lễ giáo thời xưa rất nghiêm khắc, khi nữ nhân có chồng mà bị gã đàn ông khác lột xiêm y, sờ mó cơ thể, thì cũng xem như bị hiếp. Nhiều người tự vẫn vì nhục nhã, dù trượng phu không hề bắt lỗi! Có lẽ Nhương Thư hiểu điều ấy nên nâng niu mãi người ngọc, mây mưa đến tận nửa đêm.

Đại Ngọc liên tiếp chơi vơi trên đỉnh sóng tình, hiểu rằng Nhương Thư vẫn yêu mình như trước, mãn nguyện thiếp đi!

Nhương Thư không hề thấy mệt mỏi, biết ngay đấy là tác dụng của tinh huyết Bạch Thủy Xà Vương.

Cuối tháng mười đôi tình nhân mới rời tổ ấm, đi về Ngũ Đài sơn, có mặt ở chân núi lúc trưa hôm mười bốn tháng mười một. Theo kế hoạch đã bàn, hai người chia tay nhau ở chốn này, Bạch Ngọc Tiên Tử về Lã Lương sơn ăn tết với cha già, sang xuân sẽ đến chùa Phật Quang cùng Nhương Thư đi Nam Dương phó hội!

Chương 7: Danh chính tâm bất chính - Biển Thước phục Lưỡng ma

Lâm Đại Ngọc đi khuất, Nhương Thư vác bọc sách quý của Trại Tôn Tẩn để lại, nhanh chóng thượng sơn. Đông về, tuyết phủ trắng những bậc thang của sơn đạo, chẳng hề làm chậm bước chân của một kẻ quen lên xuống! Xa chùa gần năm, nay trở lại, Nhương Thư nghe lòng rộn rã, bồi hồi như đứa con phiêu lãng hồi gia!

Chùa Phật Quang là một trong mười ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Ngũ Đài sơn, được xây dựng từ thời Hiến Văn Đế nhà Bắc Ngụy. Chùa quay mặt về hướng Đông, các công trình lần lượt nằm trên ba tầng bình đài. Đại điện nằm trên bình đài thứ ba, xây năm Đại Trưng thứ mười một nhà Đường (857), sau cùng là vách đá dựng đứng.

Cổng tam quan nằm ở tầng bình đài thấp nhất, gồm ba cửa, giữa lớn, hai bên nhỏ hơn, tượng trưng cho ba cửa giải thoát là Không môn, Vô Tướng môn và Vô Tác môn.

Ở hai bên cửa, có hai pho tượng Kim Cương lớn, tức Dạ Xoa, cầm binh khí bảo vệ chùa, cũng gọi là “Chấp Kim Cương”.

Người đời sau, căn cứ vào truyện Phong Thần Diễn Nghĩa gọi hai pho tượng ấy là “Hanh Cáp Nhị Tướng!”. Kỳ thực trong kinh Phật không có tên gọi đó!

Nhương Thư qua cổng tam quan, được bọn tiểu tăng quét tuyết trên sơn đạo mừng rỡ đón chào. Một gã trẻ tuổi mau miệng nói :

- Sư thúc làm gì giờ này mới hồi sơn, khiến cả chùa lo lắng vô cùng? Có Bang chủ Cái bang và Bất Trí thư sinh đến chờ đã mấy ngày nay rồi!

Và gã cười hì hì :

- Phen này sư thúc nguy rồi! Có ba vị nữ thí chủ họ Điền vì sư thúc mà đến đây ăn vạ!

Nhương Thư bối rối hỏi lại :

- Huệ Nghi! Thế họ đang ở đâu?

Gã trợn mắt ra vẻ hào hứng :

- Tám ngày trước ba vị tiểu thư ấy thượng sơn, đòi bái kiến Phương trượng. Trước tiên, họ cúng đường cho chùa ta ngàn lượng vàng công đức. Sau đó mới thú nhận mình là vị hôn thê của sư thúc, xin phép được ở lại để đợi chờ! Phương trượng há miệng mắc quai, đành phải cho họ ngụ ở tiểu xá của sư thúc!

- Hèn gì sư thúc tổ Phật Đăng Thượng Nhân không cho sư thúc xuất gia! Sư thúc mới rời chùa chẳng bao lâu đã mang về đến ba vị hôn thê!

Nhương Thư rầu rĩ đáp :

- Sai rồi! Năm chứ không phải chỉ ba đâu!

Trong lúc đám tiểu tăng trợn mắt kinh ngạc, chàng lướt nhanh lên bình đài thứ hai. Kiến trúc trên bình đài này là Thiên Vương Điện, trong thờ tượng Phật Di Lặc ở giữa, chung quanh Phật là tượng thần hộ pháp - Vi Đà Bồ Tát và Tứ Thiên Vương. Trước Thiên Vương Điện có hai gác chuông!

Cơ ngơi quan trọng nhất và nổi tiếng nhất của Phật Quang tự chính là Đại Hùng bảo điện, nằm trên bình đài cao nhất. Đại điện này là công trình hiếm có trong nền kiến trúc cổ đại Trung Hoa. Nó gồm bảy gian, dài mười trượng, rộng hơn năm trượng. Mái điện trái đào, góc nhà cất cong lên.

Trong điện có ba mươi chín pho tượng đời Đường. Trên cột và xà có đề từ, trên tường có bích họa. Có thể nói là bốn loại hình nghệ thuật đời Đường đều tập trung ở đây: kiến trúc, điêu khắc, thư pháp, hội họa! Sau đại điện là các công trình khác như Thiền đường, Pháp đường, Tổ sư đường, phòng Phương trượng, Tàng Kinh các. Sơ lược vài nét thế thôi, vì Nhương Thư đã bị ba ả họ Điền túm lấy. Họ đang xúng xính áo cừu dạo trước sân ngắm cảnh thì phát hiện mục tiêu, liền xúm lại níu áo! Nhương Thư ngượng ngùng gắt :

- Đây là Phật địa, các nàng phải giữ ý!

Điền Uyển Xuân nũng nịu nói :

- Công tử chớ lo! Phương trượng sư huynh rất mến bọn tiểu muội, chẳng la rầy gì đâu!

Bạch Cúc thản nhiên nói :

- Phật tổ ngày xưa cũng có vợ mà?

Mã Lan e ấp hỏi :

- Công tử có gặp gia tỷ hay không?

Nhương Thư giật mình :

- Có! Nhưng ta đã nhờ lão Tào Ưng và một người nữa đưa Ngọc Trâm về Tế Nam hồi cuối tháng chín rồi mà!

Uyển Xuân tủm tỉm cười :

- Lúc ấy bọn tiểu muội đã rời nhà, tất nhiên không gặp!

Trong tri khách xá có người gọi vang :

- Tần hiền đệ! Ngươi còn chưa chịu vào nữa hay sao?

Đấy là giọng của Vô Ưu Cái Hầu Mộ Thiên! Thế là ba nàng lúp xúp theo Nhương Thư vào ra mắt các trưởng bối!

Chân Không phương trượng đang hầu trà hai khách quý, hiền hòa nói :

- Sư đệ về trễ vài ngày chắc lão nạp đến chết với ba nữ thí thủ đây! Ngày nào họ cũng đến hỏi han, khiến lão nạp rối cả óc!

Nhương Thư thẹn đỏ mặt, đền bù cho lão bằng quyển kinh quý đời Đường và mấy chục quyển sách khác cũng khá xưa!

Chân Không phương trượng tuổi bảy mươi, chẳng giỏi võ công, chỉ chuyên về Phật pháp. Nay được tặng kinh báu, ông hoan hỉ phi thường, mang cả về phòng xem ngay cho thỏa.

Còn lại số sách về y học và thuật kỳ môn, Nhương Thư tặng luôn cho Bất Trí thư sinh! Cao Trường Toản cũng vui mừng khôn xiết, hết lời cảm tạ chàng. Vô Ưu Cái tinh quái hỏi :

- Lão phu nghe đồn hiền đệ và Bạch Ngọc Tiên Tử gặp phục binh, chạy thoát vào rừng, tao ngộ thế nào hãy kể thử xem?

Nhương Thư ngạc nhiên :

- Sao thiên hạ lại biết chuyện ấy mà đồn đãi?

Vô Ưu Cái cười đáp :

- Trong mười tám hảo hán hôm ấy có không ít những kẻ lão luyện giang hồ, vừa bị thương đã giả chết thoát nạn, về kể lại!

Ba ả họ Điền nghe nhắc đến Bạch Ngọc Tiên Tử, lửa ghen sôi sục, đốc thúc Nhương Thư kể rõ ngọn ngành. Chàng không quen nói dối, đành phải thuật lại, nhưng giấu diếm những tình tiết gay cấn, những trận ân ái mùi mẫn. Tuy nhiên, chỉ cần ghe giọng ngập ngừng và ánh mắt ngượng ngùng, ai cũng biết chàng chưa nói hết sự thực!

Vô Ưu Cái cười, đỡ đòn cho Nhương Thư :

- Việc hiền đệ thu dụng máu sừng của Bạch Thủy Xà Vương rất đáng ngại! May mà có Bất Trí thư sinh ở đây, lão ta sẽ xem thử thế nào?

Cao Trường Toản gật đầu bảo :

- Lão phu đã nghĩ đến chuyện ấy! Giờ chúng ta đưa Tần công tử vào phòng kín để khám kỹ toàn thân mới được!

Tam tiểu thư Điền Bạch Cúc là người nói thật lòng mình, chẳng biết sợ là gì :

- Tần đại ca hôi hám quá! Để bọn tiểu nữ tắm cho y xong đã!

Thế là ba ả tố nga lôi Nhương Thư về tòa tiểu viện ở sườn núi hướng Đông bắc, nới ẩn cư của thầy trò Nhương Thư, cách khá xa đại điện. Giờ đây, nó đã trở thành chỗ trú chân của ba chị em họ Điền.

Nhương Thư ngán sợ nhất là Bạch Cúc, nên chẳng dám cãi. Thực ra, lòng chàng lại rất tôn trọng bản chất thẳng thắn, cương liệt của nàng. Bạch Cúc đã yêu thì không thay đổi, sẵn sàng chết vì người mình yêu.

Đến nơi, Nhương Thư nhăn mặt khi thấy chốn thân yêu thay đổi diện mạo. Ba nàng tiểu thư thiên kim kia đã trang trí chỗ đơn sơ của chàng bằng màn trướng sặc sỡ, vật dụng đắc tiền và thơm ngát mùi son phấn! Trong nhà, bàn ghế, giường chiếu, bình phong, tủ kệ đều là thứ gỗ quý đắt tiền, thay thế những đồ cũ kỹ của chàng.

Nhương Thư rợn tóc gáy hỏi :

- Chẳng lẽ ba nàng định ở đây lâu dài?

Uyển Xuân cười nắc nẻ :

- Xuất giá tòng phu! Trước sau gì bọn tiểu muội cũng phải về ở Ngũ Đài sơn này! Đây chỉ là chỗ tạm, nhà của chúng ta sẽ là trang viện của lão phú hộ dưới chân núi! Chị em thiếp đã mua xong, đang cho sửa chữa, sơn phết lại, chắc chắn sẽ xong trước tết!

Mã Lan tiếp lời :

- Chân Không phương trượng sư huynh nổi tiếng giỏi thư pháp, đã đích thân viết tặng ba chữ Tần gia trang trên bảng gỗ ở đại môn.

Nhương Thư biến sắc, thở dài :

- Té ra Tần mỗ là kẻ nhờ vợ mà được giàu sang phú quý ư?

Câu nói chua chát này khiến ba nàng sợ hãi nhìn nhau. Nhưng họ lại thức ngộ rằng đây là lần đầu tiên Nhương Thư mở miệng chính thức công nhận thê thiếp!

Uyển Xuân láu lỉnh nháy mắt với hai chị, cùng nhau nghiêng mình bái :

- Cảm tạ tướng công đã thừa nhận mối lương duyên với bọn thiếp!

Nhương Thư cười khổ :

- Có nói ra cũng thế thôi! Tần mỗ nào phải là kẻ vô tình! Tuy nhiên, các nàng đừng đưa ta vào thế khó xử!

Điền Mã Lan chớp đôi mắt huyền u uẩn, dịu dàng phân giải :

- Tướng công vốn là bậc chân nhân thông đạt ý nghĩa nhân sinh, sao lại bận tâm vì chút tiểu tiết? Của cải trên đời như phù vân, chỉ có tình nghĩa là trường tồn, nhà cửa dẫu mang tên ai thì có quan trọng gì? Cuộc đời của chị em thiếp còn dâng cả cho tướng công, xá gì tài sản?

Nhương Thư cứng họng chịu thua :

- Thôi được! Ba nàng muốn làm gì thì làm!

Ba ả đắc ý cười khúc khích, xúm lại lôi kéo tình quân vào phòng tắm! Vài khắc sau, Nhương Thư sạch sẽ, tươi tỉnh tìm đến khách xá của Vô Ưu Cái! Bất Trí thư sinh lập tức tiến hành việc chẩn bệnh. Lão thăm mạnh hỏi han và trích lấy máu để nếm thử! Cao lão cau mày tư lự :

- Đúng là Quỷ Nấm đã trung hòa được độc tính của tinh huyết Bạch Thủy Xà Vương. Hiện nay, trong máu của Nhương Thư không hề có độc. Tuy nhiên, chẳng hiểu vì sao mà dược lực chẳng thể phát tán để làm tăng tiến chân khí như y kinh đã nói?

Nhương Thư mỉm cười :

- Không biến thành độc nhân là may lắm rồi! Tại hạ chẳng cần thu lợi!

Cao Trường Toản lắc đầu :

- Có thu lợi rồi đấy chứ! Giờ đây, không có chất độc nào trên đời có thể làm hại ngươi được nữa!

Vô Ưu Cái hoan hỉ vỗ đùi :

- Hay lắm! Quả là trời đã giúp chúng ta!

Thấy Nhương Thư ngơ ngác, Hầu bang chủ giải thích :

- Số là thế này! Lão phu và Cao Trường Toản đến đây tìm Tần hiền đệ vì một việc có liên quan đến ân oán của Phật Đăng sư bá, cũng là an nguy của võ lâm! Hơn hai mươi năm trước, Độc Biển Thước Tả Nho Quan đất Tứ Xuyên, một cao thủ độc môn khét tiếng tàn ác, đã bị Thượng nhân và hai vị tiền bối võ lâm nữa khống chế, bắt lão ta suốt đời quy ẩn ở Thái Hoàng sơn. Cái bang có tránh nhiệm giám sát Độc Biển Thước suốt mấy chục năm qua, hơn nửa tháng trước đã phát hiện người của Tứ Phạn Thiên cung và Chính Khí trang đến tìm kiếm họ Tả. Dường như hai phe này đã phong thanh biết Tả Nho Quan ẩn cư ở tại núi Thái Hoàng, nhưng chưa rõ vị trí chính xác. Nếu để họ lôi kéo được Độc Biển Thước thì võ lâm nguy mất. Vì vậy, Tần hiền đệ phải đi ngay đến đấy ngăn chặn!

Nhương Thư lấy làm lạ :

- Tại sao phải là tiểu đệ?

Vô Ưu Cái mỉm cười :

- Vì họ Tả chỉ khâm phục có mình sư phụ ngươi, tất sẽ nể mặt ngươi mà nghe lời khuyến cáo! Kỳ dư, bất cứ cao thủ bạch đạo nào vào Hắc Ưng cốc cũng đều bị giết!

Nhương Thư trầm tư hỏi lại :

- Nhưng nếu lỡ Độc Biển Thước quyết tâm tái xuất để hành ác thì sao?

Vô Ưu Cái nghiêm giọng :

- Lúc ấy, hiền đệ phải vì đại cục giang hồ mà trừ khử họ Tả. Nếu không nỡ giết chết thì hãy phế võ công của lão ta!

Nhương Thư chấn động :

- Chẳng lẽ Độc Biển Thước lại đáng sợ đến thế sao?

Bất Trí thư sinh lên tiếng :

- Công tử không biết đấy thôi! Năm xưa, chỉ trong ba ngày, họ Tả đã phóng độc giết sạch hơn sáu trăm nhân thủ của Môn Sơn trại. May mà đám nạn nhân đều là cường đạo nên võ lâm mới nương tay với Độc Biển Thước!

Lão rùng mình nói tiếp :

- Ngày ấy, bách tính gần đấy phải di tản vì mùi hôi thối của xác chết bốc lên cả tháng trời vẫn chưa hết!

Nhương Thư nổi da gà nhăn mặt :

- Nghe kể sơ sơ cũng đã biết sự lợi hại của họ Tả! Tiểu đệ nối chí ân sư tất phải lĩnh tránh nhiệm này!

Vô Ưu Cái mừng rỡ nói :

- Hay lắm! Bọn lão phu sẽ đưa hiền đệ đến Hắc Ưng cốc!

Bàn bạc thêm một hồi lâu, Nhương Thư trở lại tiểu viện. Ba nàng nghe kể liền nằng nặc đòi theo! Chẳng lẽ mới gặp lại bắt họ phải xa, Nhương Thư đành nhượng bộ, nhưng chỉ cho phép ba nàng đi đến An Dương, rồi ở đấy chờ đợi, để mình chàng nhập cốc!

Gần cuối tháng mười một, bọn Nhương Thư tiến vào thành An Dương từ của Bắc, họ ngạc nhiên khi nhìn thấy nơi đây tràn ngập khách giang hồ, hắc bạch đều có đủ.

Vô Ưu Cái liền ngoắc một gã ăn mày lại để hỏi. Tên này báo cáo :

- Bẩm Bang chủ! Gần đây xuất hiện một tin đồn rằng Thần Quang chân nhân Công Tôn Khuê thực ra đã tọa hóa ở Thái Hoàng sơn chứ chẳng phải Thái Sơn! Có kẻ còn khẳng định rằng đã nhìn thấy con lươn lông trắng, chấm đỏ của Chân nhân gặm cỏ tại bìa rừng chân núi Mộc Sơn! Thế là bao hào kiệt các phủ lân cận đổ về như thác lũ! Các phái bạch đạo cũng không dám không tin!

Vô Ưu Cái bứt râu than trời :

- Thôi chết rồi! Độc Biển Thước hiện nay ở Mộc Sơn, quần hùng mà đến đấy xâm phạm Hắc Ưng cốc thì khó mà toàn mạng!

Bất Trí thư sinh tư lự :

- Có lẽ Tứ Phạn Thiên cung hoặc Chính Khí trang đã bày ra chuyện này. Tuy nhiên, thật là khó đoán dụng ý của họ!

Điền Uyển Xuân hồ hởi nói :

- Trăm nghe không bằng một thấy! Chúng ta cứ đến đấy xem sẽ rõ!

Nhương Thư nhíu mày :

- Chốn thị phi, nguy hiểm ấy đâu phải chỗ của các nàng?

Uyển Xuân nũng nịu :

- Công tử! Tình thế đã đổi khác, giờ nơi ấy có cả ngàn người, lẽ nào bọn tiểu muội không thể đến?

Điền Bạch Cúc mỉm cười :

- Công tử không cho tháp tùng thì bọn tiểu muội đi riêng cũng được!

Nhương Thư ngao ngán :

- Thôi được! Ta chịu thua các nàng rồi!

Ba ả mừng rỡ cười khanh khách, thúc giục đám nam nhân đi vào phạn điếm gần đấy để dùng cơm trưa! Hồng Xương đại tửu điếm nổi danh với những món ăn Quảng Đông, tuy chỉ có một tầng nhưng lại rộng mênh mông, bày được cỡ trăm bàn!

Giờ đây, hào khách võ lâm ngồi chật cứng khiến kẻ mới vào ngại chẳng có bàn. Quần hào xôn xao khi thấy có bóng hồng xuất hiện, và xuýt xoa ganh ty với diễm phúc của Nhương Thư, có kẻ thì nói bâng quơ :

- Gã họ Tần này tốt số thật! Song làm thân kiếm khách mà lúc nào cũng kè kè mỹ nữ thì còn gì chí khí trượng phu nữa?

Hắn nói rất lớn nên ai cũng nghe thấy, chú mục nhìn về phía ấy. Thì ra là một hán tử tuổi độ ba mươi sáu, tướng mạo nghiêm trang, oai võ và đoan chính. Có người nhận ra lai lịch vội nói lớn lên để khoe khoang :

- Chính Tâm kiếm khách Đường Khả Toại!

Đường Khả Toại là con út của Đường gia Tứ Xuyên, nổi danh quân tử đất Thục, thường trừ gian giết bạo, xem kẻ ác như cừu nhân! Võ công của gã rất lợi hại, nhờ có ám khí tuyệt độc của Đường môn.

Nhương Thư không biết gã là ai, và cũng chẳng hề giận, thản nhiên cùng năm người kia an tọa. Nhưng Uyển Xuân thì không nhịn nổi, hậm hực nghe người xung quanh xầm xì. Có kẻ khen Nhương Thư rộng lượng, người bảo chàng sợ ám khí nhà họ Đường. Nàng ghé tai Bất Trí thư sinh hỏi nhỏ :

- Cao tiền bối! Chẳng hay gã Đường Khả Toại kia đã lập gia thất hay chưa vậy?

Cao Trường Toản cười đáp :

- Chưa! Thực ra, gã chỉ là kẻ nguy quân tử, cố che giấu bản chất tiểu nhân bằng những hành động anh hùng hiệp nghĩa! Đường Khả Toại vốn hiếu sắc, trác táng từ năm mười sáu, đến tuổi hai mươi ngoài thì bị liệt dương, vì thế mới đóng vai đạo mạo!

Uyển Xuân cười khúc khích :

- Vì sao tiền bối lại kể rõ nhược điểm của gã như thế, phải chăng người muốn Xuân nhi trát bùn lên mặt họ Đường?

Bất Trí thư sinh gật đầu :

- Phong hóa suy đồi cũng bởi những tên đạo đức giả! Chúng còn đáng sợ hơn những kẻ ác thực thụ! Tuy nhiên, gây oán với lũ tiểu nhân là việc chẳng nên! Đường môn mà trở thành kẻ thù của Nhương Thư thì rất tai hại, Xuân nhi hãy bỏ qua việc này!

Điền Mã Lan ngồi sát bên em gái nghe được liền nhỏ nhẹ :

- Cao tiền bối dạy rất phải! Tứ muội hãy vì tướng công mà nhẫn nhục!

Uyển Xuân giận dỗi :- Tiểu muội xin nghe lời, nhưng nếu gã chó chết ấy còn mở miệng ra lần nữa thì tiểu muội sẽ ra tay đấy!

Cơm rượu được dọn lên, sáu người ăn uống vui vẻ vì ba nữ nhân tranh nhau gắp cho Nhương Thư. Tiếng cười rúc rích của họ khiến đám lão hán xao xuyến, thầm trách tổ tiên mình ăn ở kém đức nên con cháu không được như Tần Nhương Thư!

Có vài người vì ngưỡng mộ mà đứng lên nâng chung mời Nhương Thư cạn chén! Chàng ngượng ngùng đáp :

- Cảm tạ túc hạ! Thư này không quen uống rượu, xin được phép nhấp môi!

Như thế cũng đủ vui, đám hào khách nhao nhao mời rượu chàng hiệp sĩ lừng danh và luôn khiêm tốn. Chính Tâm kiếm khách cũng làm thế, nhưng lại kèm theo một câu nói đùa :

- Tại hạ ghen với cảnh “chuột sa hũ nếp” của công tử đấy!

Đường Khả Toại cười khanh khách song toàn trường lại lạnh gáy, chờ đợi phản ứng của Nhương Thư! Nào ngờ, chàng trai họ Tần chẳng hề có sắc giận, ngượng ngùng cười đáp :

- Có lẽ nhờ kiếp trước dày công tu hành nên kiếp này Tần mỗ mới được thế này!

Uyển Xuân giận dỗi đỏ mặt, định phát tác thì bị Mã Lan giữ lại. Nhưng tiểu thơ Điền Bạch Cúc đã đứng dậy, nghiêm nghị nói :

- Đường Khả Toại! Tướng công của bọn ta rộng lượng không chấp tiếng sủa của chó điên, chứ không phải vì sợ hãi Đường môn! Ngươi tự xưng là bậc quân tử sao lại mở miệng khích bác, xúc phạm người khác như vậy?

Khi giận dữ, mặt nàng đỏ hồng, mắt phượng long lanh, uy nghiêm như mẹ chửi con, khiến quần hào phục lăn, vỗ tay tán thưởng! Đường Khả Toại nhục nhã đến tái mặt, song vẫn điềm tĩnh đáp :

- Ta chỉ đùa không ngờ lại bị hiểu lầm! Bậc trượng phu chẳng chấp nữ nhi, nhưng Tần Nhương Thư phải đứng ra tạ lỗi, nếu không thì máu sẽ đổ!

Vô Ưu Cái cau mày nói nhỏ :

- Lạ thực! Dường như hắn cố tình khiêu chiến Nhương Thư! Tần hiền đệ hãy cẩn thận!

Điền Uyển Xuân nổi tam bành, ong óng mắng họ Đường :

- Nữ nhi không đáng trọng sao? Mẹ ngươi cũng là đàn bà đấy thôi, hay ngươi chui từ lỗ nẻ ra?

Thực khác phá lên cười hô hố, chế giễu họ Đường. Thế mà gã vẫn không nao núng, đốc thúc Nhương Thư :

- Tần công tử tính sao?

Bất Trí thư sinh nãy giờ quan sát sáu người ngồi chung bàn với Chính Tâm kiếm khách, chợt nhận ra một lão già bảy mươi, có vẻ quen quen. Quá khứ hiện về trong ký ức, Cao Trường Toản đã biết lão mũi ưng có vành tai trái cụt mất thùy châu kia là ai. Bất Trí thư sinh run giọng bảo :

- Thì ra Đường Khả Toại là người của Báo Ứng hội!

Nhương Thư giật bắn mình, lòng ngập tràn sát khí. Sau lần chạm trán Trác Thiên Lộc, chàng đã biết kẻ giết cha mình là Báo Ứng hội! Vô Ưu Cái vội nhắc nhở :

- Hãy bình tâm mà đối phó! Ngươi quên mình là đệ tử của ai rồi sao?

Nhương Thư tỉnh ngộ, gật đầu để trấn an lão rồi đứng lên :

- Đường túc hạ cố tình khiêu chiến, Tần mỗ chẳng thể chối từ được! Xin mời ra vườn cho rộng chỗ!

Vườn sau của Hồng Xương đại phạn điếm tuy rất rộng rãi nhưng lại chẳng hề được chăm sóc, chỉ là chỗ cho thực khách thả ngựa! Giờ đây, mặt cỏ úa loang lổ vì tuyết đọng từng mảng. Mấy trăm hào kiệt đã kéo cả ra để xem đấu võ khiến lão chưởng quỹ bối rối vì chưa ai tính tiền cơm. Nếu họ hỗn chiến rồi bỏ chạy thì xem như quán lỗ vốn to!

Hai đấu thủ đứng cách nhau hơn trượng, mặt mũi hiền hòa chẳng có chút sát khí Đường Khả Toại tươi cười, vòng tay nói :

- Gia mẫu luôn luôn nhắc đến lệnh sư với lòng tôn kính vô vàn, nay tại hạ phải so tài với công tử cũng là điều bất đắc dĩ. Việc này cũng là do lỗi của tại hạ đã lắm lời, chỉ xin lĩnh giáo trăm chiêu rồi rút lui ngay!

Nhương Thư cười đáp lễ :

- Tại hạ cũng từng nghe tiên sư tán dương gia phong Đường môn Tứ Xuyên, quyết chẳng phụ lòng Đường lão thái!

Đường Khả Toại không hiểu rõ câu nói ấy, chỉ đoán rằng đối phương sẽ không quá quyết liệt. Nhương Thư nói tiếp :

- Tại hạ kém tuổi, xin được phép xuất thủ trước!

Giọng chàng hơi run nhưng chỉ người thân mới biết vì sao! Nhương Thư dựng kiếm trước ngực, chậm rãi tiến lên bốn bước rồi bất ngờ hóa thành luồng kiếm quang, bốc lên cao rồi xa xuống đầu đối thủ.

Đòn chớp mắt này đã vượt ngoài dự liệu của Đường Khả Toại. Gã kinh hoàng múa kiếm chống cự, còn tay tả xuất hiện vũ khí lừng danh là Hỏa Lân Đồng. Một tiếng nổ đinh tai phát ra, và chiếc ống thép dài gần gang kia phun luồng lửa đỏ rực, trùm lấy Nhương Thư. Trong lưới lửa ấy còn ngầm chứa mấy trăm mũi độc châm nhỏ như lông bò, có khả năng xuyên thủng bất cứ luồng chân khí nào, kể cả lớp da bền chắc của những người luyện Thiết Bố Sam.

Ám khí tuyệt độc này là vật chí bảo của Đường môn Tứ Xuyên, chỉ mình Đường lão thái được quyền sử dụng trong trường hợp cấp bách. Thế mà giờ đây, Đường Khả Toại mang theo trong người, chứng tỏ gã quyết tâm hạ sát Nhương Thư. Nếu song phương giao đấu bình thường, chắc chắn Nhương Thư khó thoát chết dưới đòn ám tập của loại vũ khí khủng khiếp này.

Bọn Báo Ứng hội đã tính toán rất chu đáo khi sử dụng Đường Khả Toại, do mối giao tình giữa Đường gia Tứ Xuyên và Phật Đăng Thượng Nhân. Nghĩa là Nhương Thư dù bị khiêu khích cũng không dám nặng tay với Đường ngũ công tử!

May thay, bên cạnh Nhương Thư lại có Bất Trí thư sinh, và lão này đã nhận ra một cao thủ của Báo Ứng hội. Thù cha đã khiến Tần Nhương Thư thi triển phép Ngự kiếm ngay trong chiêu đầu. Chàng nóng lòng kết liễu Đường Khả Toại sớm để còn hỏi tội lão nhân bị đứt thùy châu kia.

Nhờ Ngự kiếm thuật mà luồng kiếm quang quanh thân chàng dày đặc, kín đáo và kiên cố như tường đồng vách sắt, xem thường cả lửa hồng lẫn độc châm.

Nhương Thư dũng mãnh vượt qua vũ khí trấn môn của Đường môn, ập xuống như lôi thần. Chính Tâm kiếm khách lại thành danh chẳng phải nhờ kiếm nên cũng chống đỡ một cách tuyệt vọng. Song Nhương Thư nhớ lời sư phụ nên không giết con cháu họ Đường, chỉ chặt đứt cánh tay tả của gã, và điểm vào huyệt Bộ Lang trên sườn trái.

Sau tiếng rú thảm khốc của Đường Khả Toại là tiếng quát sang sảng của Vô Ưu Cái :

- Bắt lấy sáu tên Báo Ứng hội!

Uyển Xuân tiếp lời ngay :

- Mỗi tên trị giá ngàn lượng bạc!

Thế là bọn hào khách mừng rỡ rút vũ khí lao vào sáu tùy tùng của Đường Khả Toại. Mật ít ruồi nhiều, ai cũng sợ mất phần nên tranh giành nhau mà tấn công, chỉ tổ vướng tay vướng chân. Vì thế sáu sát thủ lão luyện kia chẳng hề nao núng, sát cánh chống cự.

Kiếm pháp của Báo Ứng hội không hoa mỹ, đẹp mắt, nhưng lại vô cùng chuẩn xác và độc ác. Tay tả của họ lại liên tiếp bắn ra những mũi độc châm đả thương liền bảy tám hảo hán giang hồ.

Quần hào động nộ, vét túi trút hết ám khí thủ thân vào sáu gã cứng đầu kia.

Ám khí vốn là công phu tiểu xảo, rất dễ luyện và cũng rất hữu dụng. Do vậy, trừ những kẻ tay chân quá vụng về hoặc mắt kém, hầu hết khách giang hồ đều cố luyện nghề ám khí. Dễ nhất là phi tiêu, tụ tiễn. Nhờ có cánh ở đuôi nên luôn bay thẳng, còn khó nhất chính là liễu diệp phi đao và độc châm.

Trong số ngoại lệ phải kể đến những bậc đại hiệp chính phái, xem ám khí kém phần quang minh nên không thèm luyện.

Thật ra, ám khí rất hữu dụng trong cả đơn đấu lẫn loạn chiến. Ngay bản thân Nhương Thư cũng rèn luyện thủ pháp phóng hạt Thiết bồ đề, song chàng lại chẳng bao giờ mang theo!

Quay lại với đấu trường, ta sẽ thấy một trận mưa ám khí đủ loại bao phủ sáu gã sát thủ Báo Ứng hội. Bọn hảo hán đã lùi xa nên không còn sợ độc châm nữa, và những ám khí nặng của họ phát huy được uy lực! Rốt cuộc có năm cái bia bị hạ gục, chỉ còn lại mình lão già áo đen mũi ưng. Quần hào mừng rỡ reo hò :

- Năm ngàn lượng!

Và ai cũng nhận rằng chính ám khí của mình đã chạm đích đầu tiên! Nhương Thư bước vào, lạnh lùng hỏi lão cụt tai :

- Phải chăng chính Báo Ứng hội đã giết cha ta hồi hai mươi mốt năm trước?

Lão hắc y căm hờn rít lên :

- Đúng vậy! Cha ngươi, Tần Tử Chính, đã phản bội bổn hội, cướp lấy báu vật nhà họ Mao! Ngươi muốn được yên thân thì hãy hoàn trả lại vật ấy cho bổn hội!

Quần hào không ngờ Nhương Thư lại là con của một tên đạo tặc, xầm xì bàn tán, chẳng xem trọng chàng nữa! Ba ả họ Điền không vui khi nhận ra thái độ chê bai của bọn hảo hán kia!

Dù xã hội Trung Hoa không phân biệt giai cấp rõ rệt như Ấn Độ, người thuộc hạng cùng đinh mà có tài thì cũng vẫn có thể trở thành quan to hay bậc danh sĩ. Tuy nhiên, tâm lý quần chúng vẫn mang nặng vấn đề dòng dõi, xem trọng những ai xuất thân từ thế gia vọng tộc. Nhương Thư lại có cha là ăn cướp thì quả là nhục nhã cho chàng và các nàng dâu!

Nhương Thư tu hành từ nhỏ, hiểu rõ nghiệp quả, nhân duyên nên chẳng hổ thẹn vì phụ thân, điềm đạm đáp :

- Tần mỗ hiện đang giữ vật ấy! Túc hạ hãy về bảo quý Hội chủ mang đầu của Trác Thiên Lộc đến núi Xáp Vân, đúng ngày đầu tháng hai tới mà đổi lấy!

Lão nhân mũi ưng biết mình thoát chết thở phào nói :

- Được! Họ Trác hiện đang ở Tổng đàn của bổn hội nên việc giết lão chẳng hề khó! Mong công tử giữ lời hứa!

Nói xong lão quăng ra một lọ sành đựng thuốc giải để chữa trị cho những người trúng độc châm. Nhờ vậy vòng vây mới giãn ra, chừa sinh lộ cho lão ta mang Đường Khả Toại đi!

Chủ quán đã báo quan nên bọn công sai kéo đến. Gặp Vô Ưu Cái họ chẳng dám hạch sách, chỉ làm án văn qua loa rồi đưa năm xác chết đi! Không chờ bị đòi nợ, Uyển Xuân mau mắn lấy ra sáu ngàn lượng bạch ngân bằng ngân phiếu, vui vẻ trao cho bọn hào khách để họ chia nhau.

Vị chi, mỗi người cũng được hai ba chục lượng, ai nấy hớn hở nói lời cảm tạ!

Bạch Cúc còn bảo em gái thanh toán hết chi phí ăn nhậu của quần hào, càng thu phụ được nhân tâm! Đúng là giàu vì bạn, sang vì vợ, thái độ hào phóng, cởi mở của ba nữ nhân đã khiến mọi người quên ngay gốc gác của Nhương Thư, xin tháp tùng bọn chàng đi Thái Hoàng sơn.

Chiều hôm sau, đoàn người rầm rộ tiến vào trấn Sơn Hòa, cách chân núi Mộc Sơn vài dặm. Những tên tiểu cái ở đây đã dễ dàng tìm ra chỗ trọ cho Bang chủ, trong nhà một phú hộ họ Trang.

Trang nhị giàu có và nhân hậu, thường bố thí cho kẻ khốn cùng. Trái lại, bọn khất cái đã quanh quẩn gần Trang gia trang để bảo vệ, khiến cho bọn đạo chích không dám bén mảng! Nay được chúa ăn mày giá lâm, Trang nhị hân hoan đón tiếp, bố trí ba phòng đẹp nhất, và mở tiệc thịnh soạn mà đãi đằng.

Tối hôm ấy, Vô Ưu Cái và Bất Trí thư sinh đến phòng Nhương Thư. Hầu lão nghiêm giọng :

- Nay gốc gác ngươi đã bị tiết lộ, và đương nhiên phe tà ma sẽ khai thác việc ấy để khiến ngươi nhụt chí, rơi vào cảnh thân bại danh liệt. Nhưng ngươi lại là cột trụ chống đỡ võ lâm, quyết không được vì những lời nhục mạ, chê bai của thiên hạ mà suy sụp!

Nhương Thư cười buồn :

- Cha ăn mặn con khát nước là chuyện thường tình! Tiểu đệ sẽ cố nhẫn nhịn, giả điếc là xong!

Bất Trí thư sinh nhấp hớp trà, nhăn vầng trán dô thông tuệ, tư lự bảo :

- Tần hiền đệ thử cho bọn lão phu xem di vật mà lệnh tôn đã để lại!

Nhương Thư vội tháo sợi dây tơ treo đồng tiền trên cổ xuống, đưa cho lão Cao Trường Toản. Lão căng mắt nhìn những hoa văn ở mặt đồng tiền, lắc đầu chịu thua, về phòng lấy dụng cụ. Đấy là một mảnh pha lê trong suốt, dạng bán cầu, có tác dụng phóng to những hình ảnh đặt phía dưới, Bất Trí thư sinh vừa xem vừa vẽ lại ra giấy, với kích thước lớn hơn nhiều lần.

Ba người sửng sốt khi nhận ra một ngọn núi có mây vờn quanh, và rải rác những chữ của hai câu thơ :

Huynh đệ tương tàn tâm toái hếu

Ly sơn cố thổ vinh nan hồi!

Dịch :

Anh em chém giết lòng tan vỡĐất cũ Ly Sơn chẳng dám về!

Vô Ưu Cái thảng thốt nói :

- Đây đâu phải họa đồ đưa đến mộ phần của Thần Quang Chân Quân, mà chỉ là chút tâm sự của Tần Tử Chính ký thác cho Nhương Thư mà thôi!

Bất Trí thư sinh thì phân vân :

- Nhưng năm xưa Tần Tử Chính bị giết chết trên đường đưa Nhương Thư về thăm quên nội mà?

Rồi lão hỏi lại :

- Tần hiền đệ! Lệnh đường có nói về xuất xứ của đồng tiền hay hay không?

Nhương Thư gật đầu :

- Gia mẫu kể rằng vật ấy có trên cổ của tiên phụ từ lúc họ mới quen nhau. Sau khi tiểu đệ ra đời thì tiên phụ mới đeo vào cổ Thư này!

Cao Trường Toản nhíu mày suy nghĩ, ngón tay nhịp đều trên một chiếc bàn. Lát sau lão kết luận :

- Lão phu đã cân nhắc mọi lẽ, chọn ra giả thuyết là Tần Tử Chính còn một người anh em trai nữa, và nhà ở gần núi Ly Sơn, Thiểm Tây! Sau khi Tần Tử Chính ám toán Trác Thiên Lộc, liền chạy về Ly Sơn. Anh em họ đã đánh nhau và một trong hai người táng mạng, Người còn sống hối hận bỏ nhà đi, lưu lạc đến Trường Sa, lấy mẹ của Nhương Thư! Nhưng khi có con trai, ông ta lại muốn nó trở thành cao thủ võ lâm nên trở lại Ly Sơn để lấy tấm bản đồ quý báu kia!

Vô Ưu Cái bác ngay :

- Không hợp lý lắm! Tần Tử Chính là sát thủ chuyên nghiệp, lòng dạ tàn nhẫn, dám ám toán cả đồng đảng là Trác Thiên Lộc để đoạt bảo, thì sao lại hối hận và để họa đồ ở lại nhà mà làm gì? Có nặng nề, cồng kềnh đâu mà không mang theo được?

Cao lão mỉm cười đắc ý :

- Hầu lão ca nói chí phải, nhưng lại không để ý tiểu đệ dùng chữ “người còn sống” chớ chẳng nêu tên Tần Tử Chính.

Nghĩa là cha của Nhương Thư lỡ tay giết chết Tần Tử Chính nên mới chôn cả họa đồ theo xác, lấy tên người chết làm tên mình để vơi bớt mặc cảm tội lỗi!

Nhương Thư nghe rất hữu lý, buộc miệng nói :

- Thế thì họ phải là anh em song sinh nên Báo Ứng hội mới không nhận ra sự khác biệt!

Vô Ưu Cái vỗ đùi khen :

- Đúng vậy! Giờ chúng ta chỉ cần đi núi Ly Sơn một chuyến, hỏi xem nhà họ Tần nào đã sinh đôi hai đứa con trai là rõ ngay!

Hai lão về rồi, Nhương Thư còn ngơ ngẩn vì những bí ẩn trong lai lịch của phụ thân! Chàng chợt hổ thẹn khi phát hiện mình mong mỏi không phải là con của Tần Tử Chính! Thì ra việc ấy cũng đã âm thầm khiến chàng hổ thẹn! Dù sao có cha làm đạo tặc, giết mướn chẳng dễ chịu chút nào!

Chàng cũng hiểu nỗi khổ tâm của ba nàng dâu kia, liền lần sang phòng họ để chia sẻ bí mật. Họ ở cách phòng chàng một vườn hoa nhỏ, giờ đây vẫn còn thức mà trò truyện! Nhương Thư định gõ cửa thì nghe nhị tiểu thư Điền Mã Lan nói :

- Tội nghiệp tướng công! Liệu chàng có chịu đựng được cái gia thế oan nghiệt ấy hay không nhỉ? Chị em ta phải gắng sức an ủi chàng mới được!

Bạch Cúc chậm rãi lên tiếng :

- Có gì mà phải bận tâm? Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương chẳng đã từng làm giặc đấy sao?

Nhưng điền Uyển Xuân thì lại lo lắng :

- Tiểu muội chỉ sợ cha sẽ buồn đấy mà thôi!

Câu nói này đã khiến Nhương Thư tư lự, lặng lẽ quay trở về phòng riêng!

Mờ sáng hôm sau, Nhương Thư cùng hai trăm hảo hán giang hồ tiến về núi Mộc Sơn! Quang cảnh nơi đấy cực kỳ náo nhiệt, với hàng ngàn chiếc lều vải trải suốt chiều dài của bìa cánh rừng dưới chân núi!

Khói bếp nghi ngút bốc lên hòa với màn sương tuyết lất phất, tạo nên chút sương mù hiếm hoi lúc đông về. Mọi người đang chuẩn bị cơm sáng, ăn thật no và mang theo để lót dạ buổi trưa! Phân đàn chủ Cái bang đã túc trực nơi đây từ vài ngày trước, giờ đến báo cáo :

- Bẩm Bang chủ! Quả thực là trong khu rừng rậm dưới chân núi Mộc Sơn này có xuất hiện một con lươn lông trắng, lấm tấm chấm đỏ. Nó chỉ lớn hơn con chó, song chân dài, chạy nhanh như gió, luồn lách như chồn, nên chẳng ai bắt được. Vả lại, khu rừng kia rất rậm rạp, tối tăm, đầy những bụi gai lớn bằng nửa căn nhà. Huyết Hoa Lộc mà chui vào đấy thì có trời mới tìm ra!

Vô Ưu Cái ngắt lời thủ hạ :

- Thế đã có ai tiến sát vào chân núi Mộc Sơn chưa?

- Bẩm chưa! Quần hùng mải mê bắt lươn quý, vì trước sau gì nó cũng phải chạy về hang, khi bị đuổi quá rát!

Vô Ưu Cái thở phào :

- May thực! Chúng ta vẫn chưa quá trễ!

À! Tình hình hai phe Tứ Phạn Thiên cung và Chính Khí trang ra sao?

Phân đà chủ An Dương đáp :

- Bẩm Bang chủ! Hai lực lượng ấy cũng đều kéo hết cao thủ đầu não đến đây Tứ Phạn Thiên cung do Thanh Linh Thủy Lão Đệ nhị đại Âu Dương Lăng thống lãnh, còn Chính Khí trang do Trang chủ Lã Tập Hiền! Hai phe này giả vờ không nhìn thấy nhau, chỉ dồn sức truy bắt Huyết Hoa Lộc!

Bất Trí thư sinh nhăn trán :

- Lạ thực! Chẳng lẽ còn có lực lượng thứ ba, là kẻ đứng sau chiếc bẫy này!

Vô Ưu Cái gật đầu :

- Có thể lắm!

Rồi ông dặn dò thủ hạ :

- Ngươi hãy điều đệ tử bổn bang đi thông tri cho người của các phái bạch đạo rằng lão phu đã đến đây, và yêu cầu họ tập trung lại thành một mối, tiến vào sau cùng, chờ lệnh mới được ra tay!

Sau khi gởi ngựa cho đám tiểu cái. Phe Nhương Thư tiến vào rừng. Quần hùng không hề nhận ra vì chàng mặc áo cừu, đội mũ lông rất kín đáo! Vả lại, Huyết Hoa Lộc chỉ xuất hiện khi mặt trời đã lên được hai sào, ai đi sớm cũng chỉ hoài công, để ý là quái gì!

Vô Ưu Cái đã quá quen thuộc đường vào Hắc Ưng cốc, đưa cả đoàn tiến lên rất nhanh. Khi còn cách chân núi hơn dặm, cây cối khá thưa thớt, và Uyển Xuân là người đầu tiên thấy con lươn hiếu động, chẳng chịu ngủ Đông kia.

Nàng khẽ rú lên :

- Huyết Hoa Lộc! Trời ơi! Nó đẹp và dễ thương quá!

Cả bọn vội dừng chân, nấp sau một bụi cây để ngắm nhìn, quả xứng danh là thần vật trên đời, Huyết Hoa Lộc mang bộ lông trắng muốt, điểm những chấm sao đỏ hung. Trên đầu có sừng bốn nhánh không dài. Và do nó đứng ở đầu hướng gió nên bọn Nhương Thư nghe được mùi xạ hương thơm hăng hắc, thơm thơm. Bất Trí thư sinh giải thích :

- Con vật này là lai giữa hươu sao và hươu xạ nên lông có đốm, đầu có sừng, và có cả túi xạ, thu đông là mùa sanh dục, con lươn này đang tỏa mùi rất mạnh để tìm bạn tình!

Điền Mã Lan thì thào ao ước :

- Giá mà chị em ta có được nó để nuôi?

Vô Ưu Cái phì cười :

- Ngươi muốn cả võ lâm kéo đến đốt nhà ư?

Lão cười hơn lớn nên Huyết Hoa Lộc nghe thấy, phóng đi mất dạng. Bọn Nhương Thư tiếp tục đi, nửa khắc sau tiếp cận một khoảng rừng nhỏ hình cánh cung, ôm lấy vách núi Mộc Sơn. Xa xa chợt vọng lại tiếng hắt hơi của ai đó, Vô Ưu Cái giật mình bảo :

- Có người vào! Chúng ta hãy nấp lên cây xem chúng là ai, đến đây vì tình cờ hay có chủ ý!

Năm người kia vội làm theo ý ấy! Ba nữ nhân nũng nịu bắt Nhương Thư giúp đỡ mình vì cành quá cao. Chàng mỉm cười ôm từng nàng nhảy lên, bị họ bắt phải ngồi chung trên một chạng ba chật chội!

Sau mấy chục ngày xây tổ ấm với Bạch Ngọc Tiên Tử, Nhương Thư trở thành kẻ lịch duyệt chốn tình trường, quen mùi ân ái nên bạo dạn hơn xưa. Giờ đây, chàng đặt Mã Lan vào trong lòng, còn hai nàng kia thì ôm chặt vai. Hơi ấm của cơ thể và mùi phấn son, nước hoa trùm lấy Nhương Thư, mang lại cảm giác hạnh phúc ôn nhu. Chàng bất ngờ hôn vào má ba ả tố nga, khiến họ hài lòng và sửng sốt. Uyển Xuân ranh mãnh thì thầm :

- Phải chăng tướng công từng âu yếm gia tỷ như vậy?

Ý nàng ám chỉ Hổ Hồng Nhan, Nhương Thư khẽ gật đầu, ánh mắt sượng sùng vì nhớ đến trưa nào dưới suối!

Phe đối phương đã vào đến nơi, đông đến bốn năm chục, phe võ phục vàng, phe đạo bào trắng. Lã Tập Hiền thì đã quá quen. Nhương Thư chăm chú nhìn gã đạo sĩ không râu đầu đội mũ Kim Quan, chàng đoán đấy là Thanh Linh Thủy Lão đệ nhị đại Âu Dương Lăng, kẻ vừa lên kế nghiệp cha!

Tuy nội gián của Vô Ưu Cái về báo rằng võ công của Tân Thủy Lão không cao, song Nhương Thư lại nghi ngờ điều ấy! Sắc diện và thần khí của Âu Dương Lăng rõ ràng là của một kiếm khách thượng thừa. Là kiếm sĩ, Nhương Thư đủ kinh nghiệm để nhận ra kình địch của mình. Sĩ tốt của phe tà mà dàn hàng ngang bảo vệ vòng ngoài, chỉ còn lại đám đầu sỏ cùng nhau đối đáp.

Bọn Nhương Thư nín thở, chẳng dám gây ra bất cứ tiếng động nào. Nếu bị phát hiện, họ hoàn toàn không có cơ hội thoát thân! Đây cũng là dịp may hiếm có để họ hiểu rõ dã tâm của Lã Tập Hiền. Họ Lã lên tiếng :

- Âu Dương cung chủ! Nay chúng ta đã lập đàn thề thốt, nguyện chia đôi thiên hạ, vậy mong Cung chủ tiết lộ vì sao chúng ta lại tung ra tin tức về Huyết Hoa Lộc, để cả võ lâm kéo đến đây?

Âu Dương Lăng mỉm cười lạnh lẽo :

- Bổn nhân chỉ làm theo mệnh lệnh của một bậc võ lâm tiền bối! Lát nữa diện kiến, Lã túc hạ sẽ hiểu rõ nguồn cơn!

Lã Tập Hiền cau mày :

- Ai là người có thể ra lệnh cho Tứ Phạn Thiên cung?

Âu Dương Lăng chỉ vào cánh rừng có trận pháp trước Hắc Ưng cốc nghiêm nghị kể :

- “Hai mươi mấy năm trước, bậc kỳ nhân của đất Tứ Xuyên là Độc Biển Thước Tả Nho Quan, đã bị Phật Đăng Thượng Nhân và hai cao thủ võ lâm nữa truy sát đến nơi này. Họ khống chế được Tả tiền bối, bắt phải ẩn cư suốt đời trong Hắc Ưng cốc, phía sau khoảnh rừng kia.

Nào ngờ, đây là nơi tọa hóa của Thần Quang Chân Quân, cao thủ số một của mọi thời đại. Với máu quý của con Huyết Hoa Lộc, Tả tiền bối đã trị lành vết thương, sở hữu đến trăm năm công lực, và còn luyện thành tuyệt học của Chân quân!

Hai tháng trước, Tả tiền bối đã xuất cốc đến Thiên cung, nhận bổn nhân làm đệ tử và chỉ dạy kế sách gồm thâu thiên hạ!”

Lã Tập Hiền lạnh toát cả người vội ngắt lời Âu Dương Lăng :

- Phải chăng những người ở đây đều đã trúng độc?

Âu Dương Lăng cười đắc ý :

- Trang chủ thông minh thật! Sáu tháng sau, chất độc Tiên Trường Vụ sẽ phát tác, và bốn ngàn kẻ tham lam kia sẽ đến đây quy phục Thần Quang giáo!

Lã Tập Hiền tái mặt giận dữ :

- Chúng ta đã thề thốt liên minh, sao Cung chủ lại trở mặt, bắt tay với Độc Biển Thước? Chia đôi võ lâm, mỗi người hùng cứ một phương chẳng tốt hơn làm nô lệ cho Tả Nho Quan hay sao?

Ánh mắt Âu Dương Lăng lóe lên những tia nhìn kỳ dị, oán độc, khiến một kẻ sảo quyệt, tinh minh như Lã Tập Hiền đoán ra ẩn tình. Họ Lã thở dài :

- Té ra Cung chủ bị khống chế?

Ngay lúc ấy, từ cánh rừng có một bóng đen bay vút ra, chỉ cái nhoáng đã đến bên Lã Tập Hiền! Lã trang chủ thần tốc rút kiếm chém liền, song chẳng trúng vào đâu, cứ như đối phương là ảo ảnh vậy. Và Lã Tập Hiền nghe mặt mình mát rượi bởi một luồng gió có mùi hăng hắc. Lão kinh hãi lùi nhanh nhìn kẻ mới đến rồi rụng rời khi nghe nói :

- Giờ thì sanh mạng của ngươi cũng nằm trong tay lão phu rồi đấy! Hãy thử kiểm tra huyệt Ngọc Đường nơi Tâm Thất thử xem?

Lã Tập Hiền làm theo lời kẻ thù, thất sắc lẩm bẩm :

- Thế là hết!

Nhưng lão lại có một hành động khiến ai cũng bất ngờ, là quỳ ngay xuống lạy Độc Biển Thước :

- Nếu tiền bối không nhận Lã mỗ làm học trò thì đừng mong thu được thiên hạ!

Độc Biển Thước phá lên cười khanh khách :

- Xảo quyệt nhưng biết đạo tiến thoái! Ngươi xứng đáng làm học trò của lão phu!

Lã Tập Hiền hoan hỉ dập đầu lạy chín lạy và hô hoán :

- Đồ nhi mừng có được minh sư!

Họ Lã đứng lên, quay lại bảo đám đồng đảng đến ra mắt Tả Nho Quan. Độc Biển Thước hoan hỉ nói :

- Tất cả các ngươi hãy vào trong Hắc Ưng cốc để nghe chỉ thị của lão phu! Không cần phải canh gác vì đã có trận kỳ môn trấn giữ của vào!

Tà ma đi sạch, bọn Nhương Thư mới dám nhảy xuống đất, Vô Ưu Cái rầu rĩ nói :

- Không ngờ lòng từ bi của Phật Quang Thượng Nhân lại lưu lại đại họa cho đời! Nếu năm xưa cứ giết quách Tả Nho Quan đi thì giờ này đâu xuất hiện một đại ác ma?

Bất Trí thư sinh cũng bùi ngùi :

- Độc thì còn có thể giải, nhưng võ công của lão ta mới đáng sợ, chỉ một chiêu đã khuất phục được Lã Tập Hiền!

Uyển Xuân thấy Nhương Thư mải đăm chiêu không nói, liền hỏi nhỏ :

- Công tử đang nghĩ gì vậy?

Họ Tần sực tỉnh :

- Ta đang cố phá giải chiêu chưởng lúc nãy của Độc Biển Thước!

Bạch Cúc bàn ngay :

- Công tử không sợ độc, chỉ kém phần công lực! Nay gia phụ đã gởi mua Thiên Niên Tuyết Sâm ở Liêu Đông, có lẽ đã được mang đến! Chúng ta hãy về Tế Nam, tìm cách bồi bổ chân nguyên cho chàng!

Bất Trí thư sinh phấn khởi xen vào :

- Tuyệt lắm! Lão phu đang giữ một toa thuốc bí truyền, chỉ cần có Thiên Niên Tuyết Sâm làm vị chính là sẽ giúp Nhương Thư tăng tiến thêm vài năm công lực!

Vô Ưu Cái thở dài :

- Các ngươi quên chất độc Tiên Trường Vụ rồi sao?

Bất Trí thư sinh mỉm cười :

- Tiểu đệ đọc hàng vạn quyển sách, y thuật cũng kha khá, tin chắc sẽ tìm được thuốc giải. Lão ca cứ yên tâm lo lắng cục diện võ lâm, sáu tháng sau tụ quân tiêu diệt Thần Quang giáo!

Hầu bang chủ vui mừng khôn xiết, vỗ vai Cao Trường Toản :

- Không ngờ lão đệ cũng là một thần y, thế mà ta không biết! Đại sự sống còn này, lão phu giao cho hiền đệ đấy!

Nhương Thư đăm chiêu nói :

- Ba nàng hãy theo Cao thư sinh về Tế Nam! Ta quay lại Ngũ Đài sơn dự lễ giỗ đầu của tiên sư rối sẽ đi sau!

Bất Trí thư sinh cười mát :

- Tần hiền đệ nương thân cửa Phật đã nhiều năm mà còn cố chấp có với không nữa sao? Ngươi đi Tế Nam mà tâm vẫn ở Ngũ Đài sơn tưởng niệm sư phụ là đủ rồi! Nay Lã Tập Hiền đã thành học trò của Độc Biển Thước, tất sẽ được dạy tuyệt học của Thần Quang Chân Quân, ngươi không có thêm công lực liệu có địch lại chăng?

Nhương Thư cười khổ :

- Tiểu đệ đã hai lần hưởng dụng kỳ trân dị dược, chỉ có hại chứ chẳng lợi lộc gì! Giờ thêm Thiên Niên Tuyết Sâm vào, không chừng sẽ trẻ đi vài chục tuổi như Độc Biển Thước thì nguy to!

Uyển Xuân bật cười khanh khách :

- Đúng vậy! Tả Nho Quan đã ngoài tám mươi mà mặt mũi nhẵn nhụi, râu tóc đen mun như người ba chục! Nếu tướng công cũng cải lão thì e rằng thành đứa tiểu hài mất!

Ba ả họ Điền xưng hô lộn xộn, lúc thì công tử, lúc thì tướng công, tùy theo tâm trạng!

Chương 8: Hồng Nhan tâm địa vô năng trắc - Tặc ổ thùy tri hữu cố nhân

Quá nửa tháng chạp, bọn Nhương Thư về đến thành Tế Nam, vui mừng vì gặp cả Hổ Hồng Nhan và hai vệ sĩ. Mẹ của Tào Ưng lâm bệnh nên gã phải lưu lại để chăm sóc, không đi Ngũ Đài sơn như đã hứa. Nay Tào mẫu đã khang kiện, gã lại la cà ở Điền gia trang để chờ Nhương Thư.

Bất Trí thư sinh được chào đón nồng nhiệt, nhưng lại không vui vì thiên niên tuyết sâm chưa có. Cao Trường Toản đành tập trung vào việc bào chế thuốc giải Tiên Trường Vụ. Ông cũng trúng độc nên dùng bản thân để thử nghiệm, rất dễ phát hiện công hiệu!

Nhương Thư thì miệt mài luyện võ, đồng thời chỉ bảo thêm cho người thân. Phần Bạch Thúy Sơn dường như biết rõ phận mình nên chỉ quanh quẩn bên Nhương Thư và Tào Ưng, ít tiếp xúc với bốn vị tiểu thư.

Cổ nhân có câu “Hồng nhan họa thủy”, nhưng trong trường hợp này, vẻ anh tuấn tuyệt luân của Bạch Thúy Sơn lại là nguyên nhân của tai họa. Khổ thay, kẻ sa ngã lại chính là Hổ Hồng Nhan Điền Ngọc Trâm!

Nàng đã có nhiều thời gian gần gũi Thúy Sơn nên bị chinh phục lúc nào cũng chẳng hay. Hơn nữa, số tuổi hai mươi ba của họ Bạch rất khớp với lời tiên đoán của Bố Y Thần Toán. Điều này đã ám ảnh nàng từ tuổi cập kê, chẳng dễ bị xóa nhòa!

Ngọc Trâm vô cùng đau khổ và hổ thẹn với Nhương Thư, nhưng trái tim ngày càng in đậm bóng hình họ Bạch! Trong cảnh tuyệt vọng, nàng đâm ra oán hận Nhương Thư đã cưu mang Thúy Sơn nên việc này mới xảy ra! Hổ Hồng Nhan gầy đi, tính tình càng nóng nảy hơn, mượn cớ bận việc nhà mà tránh cả Nhương Thư lẫn Thúy Sơn, dù môn khách chỉ còn vài trăm.

Có một người hiểu được thầm kín này, đó là cha nàng, Điền trang chủ. Một tối đầu xuân, ông cho gọi trưởng nữ đến thư phòng căn vặn. Ngọc Trâm liền òa khóc và giãi bày tâm sự! Điền Đông Giám thở dài :

- Khi Bạch Thúy Sơn đến đây, ta đã có linh cảm xấu, lo cho Uyển Xuân, nhưng không ngờ nạn nhân lại là con! Thực ra thì Thúy Sơn rất xứng đáng làm rể họ Điền, do tài mạo và gia thế! Gần đây, tin đồn về gốc gác của Nhương Thư đã lan đến Tế Nam, khiến ta rất bối rối! Ơn cứu mạng tuy lớn song không thể sánh với thanh danh dòng họ Điền! Nay ba em con thì đã lỡ, nhưng con là trưởng nữ phải có một cuộc hôn nhân xứng đáng để cứu vãn tình hình! Vả lại, Nhương Thư đã được đến ba mỹ nhân, lẽ nào hẹp hòi đến mức không thể nhường ngươi cho Thúy Sơn? Con cứ yên tâm, tối nay ta sẽ nói chuyện với Nhương Thư!

Ngọc Trâm thờ thẫn quay lại khuê phòng, chẳng hiểu nên vui hay nên buồn!

Nhưng cha con họ Điền không ngờ rằng câu chuyện của mình đã lọt vào tai của một người, Thiết Kình Ngư Tào Ưng. Gã là người thứ hai nhận ra sự phản bội của Ngọc Trâm, luôn âm thầm theo dõi nên đã rình nghe!

Tào Ưng tức lộn ruột, đến phòng Nhương Thư kể lại những gì mình nghe thấy! Chàng trai họ Tần lặng người suy nghĩ rồi nói :

- Đi thôi! Ta ở lại đây chỉ khiến họ thêm khó xử!

Giữa canh tư, hai người âm thầm sách hành lý vượt tường, rời Điền gia trang, đội tuyết mà đi. Trong túi Nhương Thư còn số vàng ngân phiếu do Dạ Quân Tử tặng nên không thiếu tiền mua ngựa mới, cũng như lộ phí dọc đường!

Sáng ra, theo lệ thường, Uyển Xuân đến gọi Nhương Thư dậy, thấy cửa phòng chỉ khép hờ chứ không cài then nàng đẩy cửa vào, ngơ ngác nhận ra tay nải và trường kiếm đều biến mất!

Uyển Xuân vội chạy đi thông báo cho các chị! Cả nhà đổ xô ra, nhưng không có Tào Ưng. Họ đến phòng Thiết Kình Ngư thì phát hiện trên vách có mấy câu nguệch ngoạc :

Lão hiếu danh vong nghĩa

Thiếu hiếu sắc vong tình

Thiển hề! Nhục hề!

Dịch :

Già hiếu danh quên nghĩa

Trẻ ham sắc bội tình

Nông cạn thay! Nhục nhã thay!

Bất Trí thư sinh cười nhạt hỏi Điền Đông Giám :

- Phải chăng tối hôm qua Trang chủ và con gái đã bàn chuyện gì bất nghĩa với Nhương Thư để Tào Ưng nghe được?

Điền Ngọc Trâm hổ thẹn đứng chết trân, không nói nên lời, nước mắt chảy như mưa! Điền Đông Giám thì bối rối nói :

- Lỗi tại Nhương Thư mang Thúy Sơn về đây nên Trâm nhi sa ngã, tâm sự với lão phu! Thiết nghĩ, họ Tần đã có ba, nhường một cho Thúy Sơn cũng là phải đạo!

Đã hiểu ra căn do, ba cô em bật khóc, xỉ vả chị cả. Người nặng lời nhất chính là tam tiểu thư Điền Bạch Cúc :

- Tiểu muội thật xấu hổ khi làm em của hạng gái bất trinh!

Ngọc Trâm thét lên một tiếng, hộc máu té xỉu ngay, được Uyển Xuân và Mã Lan đỡ lấy. Bạch Thúy Sơn thì lạnh lùng mắng vào mặt Trang chủ :

- Lão tưởng ta sẽ vì nhan sắc và tài sản mà ta phản bội Tần đại ca hay sao?

Nói xong, gã về phòng lấy bọc hành lý bỏ đi, chẳng thèm từ giã. Hai ngày sau, Hổ Hồng Nhan hồi phục, nằng nặc đòi xuống tóc quy y cửa Phật. Điền trang chủ không thể ngăn cản, đưa ái nữ đến Thiền Vân ni viện ở cửa Nam thành!

Ba cô con gái kia cũng theo Bất Trí thư sinh đi tìm Nhương Thư. Chàng đã hẹn tử đấu với Lã Tập Hiền vào đầu tháng hai! Thế là mới mùng sáu tết mà Điền gia trang vắng cả tiếng nói cười, chỉ còn lại hai lão nhân đối ẩm. Điền Đông Giám thở dài bảo Triệu tổng quản :

- Lão phu còn mặt mũi nào mà gọi Nhương Thư là rể nữa!

Nhắc lại, Nhương Thư và Tào Ưng ra đi, ghé Vương Ốc Sơn thăm Tào mẫu. Nhương Thư tặng bà ba ngàn lượng bạc và mướn người hầu hạ, rồi mới yên tâm để Tào Ưng đi theo mình.

Chính vì vậy mà Bạch Thúy Sơn đã vượt hai người mà không hay biết. Nhương Thư, Tào Ưng mua ngựa đi về hướng Tây nam, theo đường Tế Châu để đến Nam Dương. Dọc đường, Nhương Thư bỗng hỏi Tào Ưng :

- Ta nghi ngờ Bạch Thúy Sơn là gái giả trai!

Thiết Kình Ngư gật gù :

- Bất Trí thư sinh cũng nghĩ thế, tại hạ bảo thử kiểm tra. Hồi trước Tết, tại hạ vờ vô ý chạm vào ngực họ Bạch, và không hề thấy cộm lớp lụa bó ngực! Chẳng lẽ gã là nữ nhân mà vú xẹp như đàn ông?

Nhương Thư mỉm cười :

- Có thể lắm chứ! Lần sau túc hạ thử sờ hạ thể Thúy Sơn xem sao?

Tào Ưng giật mình, chối đây đẩy :

- Không được! Nếu y đúng là gái thì chết tại hạ! Còn công tử thì lấy Thúy Sơn cũng chẳng sao, vì dường như y cũng yêu mến công tử đấy!

Nhương Thư đỏ mặt :

- Ta đâu thể làm thế!

Chiều mùng tám tháng giêng, hai người đến thành Tế Châu. Không muốn quấy nhiễu gia đình Tất Cung Bảo, Nhương Thư tìm quán trọ, tắm gội, gởi ngựa, rồi đến phạn điếm gần đấy dùng cơm.

Tuyết vẫn còn rơi mù mịt, ai cũng kím mít trong áo, mũ lông, dẫu là bằng hữu cũng phải nhìn kỹ mới nhận ra nhau. Đang ăn, Nhương Thư chợt nghe ba người bàn bên nói chuyện :

- Đáng phục thay Tất Cung Bảo. Con gái bị bắt cóc mà vẫn kiên quyết không giao Bạt Sơn Thần Lựu cho Cưu bang! Sáng nay, lão phu đến Tất gia trang, thấy vợ y khóc lóc thảm thiết không chịu nổi nên bỏ về ngay!

Gương mặt thơ dại, đáng yêu của Liên nhi hiện ra, làm lòng Nhương Thư xốn xang và phẫn nộ! Chàng bảo Tào Ưng :

- Ăn nhanh đi! Tất gia trang gặp họa rồi!

Tào Ưng cũng nghe thấy những lời kia nên bàn rằng :

- Khoan đã! Chắc chắn Cưu bang sẽ cho người giám sát động tịnh Tất gia trang! Chúng ta chờ trời tối hẳn hãy đến đấy! Có như vậy mới tạo được bất ngờ!

Nhương Thư tán thành :

- Ta quả là ấu trĩ, may mà có túc hạ nhắc nhở!

Tào Ưng cười buồn :

- Ai mới xuất đạo mà chả thế! Tại hạ lặn lội giang hồ hai mươi năm, nếm đủ mùi cay đắng mới có được một chút kinh nghiệm!

Màn đêm buống xuống, tuyết rơi dày là không gian tăm tối, người qua lại trên dường cũng thưa thớt. Lúc này, Nhương Thư và Tào Ưng đã áp sát tường sau Tất gia trang. Khinh công họ Tào hơi kém nên Nhương Thư nắm tay gã cùng nhảy vào trong!

Nhương Thư từng ở đây hai ngày nên biết rõ địa hình, nhanh chóng đến được khu hậu viện. Tiếng khóc tỉ tê của Tất phu nhân cho biết vợ chồng họ có ở khuê phòng.

Bọn Nhương Thư vượt qua những chậu cảnh, đến cửa sau thì nghe tiếng Tất Cung Bảo :

- Phu nhân tưởng ta không đau từng khúc ruột hay sao? Nhưng nếu giao Bạt Sơn Thần Lựu cho bọn tà ma giết hại đồng đạo võ lâm và bách tính thì tất mỗ có chết ngàn lần cũng không đủ tạ tội với tổ tiên.

Lời chính khí ấy khiến Nhương Thư vô cùng khâm phục và ngưỡng mộ. Chàng đưa tay gõ cửa và gọi :

- Tất trang chủ! Tiểu đệ là Nhương Thư đây!

Có tiếng rú mừng rỡ của Tất phu nhân, và cửa thông ra vườn lập tức mở toang, Tất Cung Bảo bước ra, nhìn thấy gương mặt nhân hậu của người hiệp sĩ trẻ, run rẩy nói :

- Đa tạ hoàng thiên! Tần hiền đệ đã đến đây rồi!

Gã ôm lấy Nhương Thư, nước mắt dàn dụa nhưng miệng cười rất tươi. Họ Tất kéo khách vào phòng thì Tất phu nhân quỳ ngay xuống lạy lục :

- Tiện phụ dập đầu cầu khẩn Tần thiếu hiệp cố cứu lấy Liên nhi! Nó mới năm sáu tuổi, nào có tội gì mà phải chết!

Tào Ưng cau mày :

- Đại tẩu đừng khóc lớn, phe đối phương đang rình rập bên ngoài! Nếu chúng biết được Tần công tử tới đây thì làm sao cứu được người?

Tất Cung Bảo nghe chí lý vội đỡ vợ đứng lên vỗ về, Nhương Thư nghiêm nghị trấn an bà :

- Đại tẩu yên tâm! Tiểu đệ sẽ đem Liên nhi về an toàn!

Danh tiếng Nhương Thư giờ đã lừng danh bốn biển, lời hứa nặng hơn cửu đỉnh nên Tất thị yên lòng gạt lệ. Lo việc tiếp đãi. Tất Cung Bảo cũng vậy, gương mặt thô kệch của gã giãn ra, không còn u ám nữa. Gã vui vẻ hỏi :

- Sao Tần hiền đệ lại biết được tin này mà đến đây?

Nhương Thư giới thiệt Tào Ưng với chủ nhà rồi kể lại việc mình đi phạn điếm, tình cờ nghe được chuyện nhà họ Tất. Tất Cung Bảo gật gù :

- Lão già ấy là Lương Sơn trại chủ Trương Sưởng, có giao tình với gia phụ. Lão có trong tay độ năm mươi thủ hạ, tuy sức yếu nhưng vẫn khẳng khái đòi đi Cưu Sơn cứu Liên nhi! Ngu huynh biết không thể thành công nên đã từ chối!

Nhương Thư hỏi Tào Ưng :

- Tào túc hạ có lương sách gì không?

Thiết Kình Ngư thầm cao hứng khi được tin tưởng, hắng giọng đáp :

- Theo thiển ý của tại hạ thì hai ta sẽ âm thầm đột nhập Tổng đàn Cưu bang, giải thoát cho Liên nhi. Tất trang chủ và lực lượng Lương Sơn trại phục kích nơi chân núi, dùng Bạt Sơn Thần Lựu để tiêu diệt bọn truy kích!

Tất Cung Bảo vỗ đùi khen :

- Diệu kế! Chỉ cần mang được Liên nhi xuống núi là tại hạ thừa sức san phẳng Cưu Sơn!

Tào Ưng cười bảo :

- Khủng khiếp thế ư! Sao Tất trang chủ không cho bọn ta xem thử thứ vũ khí lợi hại ấy?

Tất Cung Bảo gật đầu rời phòng, lát sau trở lại với một túi da hươu nặng nề. Gã lấy ra một vật hình trụ lớn cỡ cổ tay, cao nửa gang, vỏ bằng đồng, trên đỉnh có chốt nhỏ sơn đỏ rực. Gã nhìn vật ấy với anh mắt say mê tự hào :

- Tại hạ thử nghiệm suốt mười mấy năm trời mới chế tạo được thứ hỏa khí này. Chỉ cần ấn mạnh nút đỏ này ném đi, nó sẽ nổ khi chạm vào bất cứ vật gì! Sức mạnh của Thần lựu có thể phá sập nhà, hoặc sát thương trong bán kính hai trượng.

Tào Ưng thở dài lo lắng :

- Kẻ giữ ngọc có tội! Nếu Tứ Phạn Thiên cung hoặc Chính Khí trang biết túc hạ chế được thứ vũ khí này, ắt sẽ tìm mọi cách chiếm đoạt!

Tất Cung Bảo buồn rầu đáp :

- Tại hạ cũng biết vậy nên sau khi cứu được Liên nhi sẽ dọn nhà đi Bắc Kinh, vào làm trong bộ phận quân khí của bộ binh! Triều đình mời mọc đã lâu mà tại hạ chưa nhận lời!

Nhương Thư khuyến khích :

- Nay rợ Mông và rợ Mãn luôn dòm ngó biên cương, Tất đại huynh đem tài ra giúp nước là rất phải đạo!

Ba người bàn bạc kế hoạch đến tận cuối canh hai thì có thêm khách. Tất gia trang mấy đời trượng nghĩa nên được khá nhiều người trợ giúp. Vài tay hắc đạo đã âm thầm vẽ lại sơ đồ sào huyệt Cưu bang tặng cho Tất Cung Bảo. Người đem địa đồ đến chính là Lương Sơn trại chủ Trương Sưởng. Nghe Tất Cung Bảo giới thiệu, họ Trương nhìn Nhương Thư chăm chú rồi hỏi :

- Thế Tần công tử định cứu Liên nhi bằng cách nào?

Tào Ưng là người bày mưu nên đáp ngay, kể cho Trương lão nghe kế hoạch. Trương Sưởng vuốt chòm râu đen ngắn ngủi, lắc đầu, rồi trải họa đồ ra :

- Nhị vị hãy xem thử địa hình của Cưu Sơn sẽ biết kế sách kia không sử dụng được!

Trương lão giải thích thêm :

- Tổng đàn Cưu bang nằm trên một bình đài cao hơn chục trượng, hình bán nguyệt, vách đá trơn trượt, dựng đứng. Người ngoài muốn vào Tổng đàn phải được thúng mây kéo lên. Tất nhiên, kẻ ấy phải được sự hướng dẫn của bộ phận tiền trạm. Do vậy, muốn cứu được Liên nhi thì phải có người công khai đến làm khách của Cưu bang, thừa cơ giải cứu cô bé ấy rồi xuống bằng đường cũ!

Cả nhà thở dài nhìn nhau chán nản. Tất phu nhân run giọng :

- Trương đại ca! Làm sao Cưu bang dám để Tần thiếu hiệp lên đến sào huyệt?

Trương Sưởng nheo đôi mắt dài xảo quyệt, cười khà khà :

- Sao lại không? Bọn chúng sẽ cung kính mời Nhương Thư lên là đằng khác!

Tào Ưng nãy giờ hơi thẹn vì kế của mình không xài được, liền hậm hực bảo :

- Lão nói quách ra xem nào?

Trương Sưởng trại chủ nhăn vầng trán rộng ra vẻ cao mưu :

- Trong giới Hắc đạo Sơn Tây có một gã tên là Hồ Linh Cấu, biệt danh Sách Huyết Kiếm, đang tuổi ba mươi ba. Mấy tháng trước, gã vô tình giết người em trai Tri phủ Sơn Tây nên phải bỏ xứ để trốn đi. Họ Hồ đến Lương Sơn nương náu, mới đây đã tính chuyện ám hại lão phu để đoạt trại. May mà Trương mỗ sớm đề phòng nên thoát chết và giết được gã ta!

Tào Ưng nóng ruột cằn nhằn :

- Lão nói dông dài gì thế? Sách Huyết Kiếm đã chết rồi thì còn tác dụng gì nữa?

Trương Sưởng là người rộng lượng vui vẻ nói :

- Lão phu chưa nói hết! Số là sau khi giết Hồ Linh Cấu, lão phu mới phát hiện ra gã mang mặt nạ. Nay dáng vóc Tần công tử đây cũng tương tự, nếu mang mặt nạ Sách Huyết Kiếm đến gia nhập Cưu bang thì rất tuyệt.

Nhương Thư khẳng khái tán thành :

- Tại hạ xin đặt mình dưới sự xếp đặt của Trương túc hạ!

Sáng mười bốn tháng giêng, một chàng kỵ sĩ lỏng tay cương đi vào trấn Lạc Phách dưới chân núi Cưu Sơn. Địa phương này chỉ có độ trăm căn nhà gỗ, nằm dọc theo con đường đất đá lởm chởm, lầy lội vì tuyết phủ.

Nhà cửa nơi đây đều bằng gỗ, mái lợp lá, xộc xệch và thô kệch, và được dựng lên bởi đám thợ mộc bất đắc dĩ. Chủ nhân của chúng là những tay vong mạng tứ xứ, không còn đất dung thân, chỉ quen giết người cướp của, chưa hề cầm đến cưa, bào, búa, đục! Có kẻ đi một mình, có người mang cả vợ con theo, nên làm nhà cho họ ở.

Đám tiểu hài trong trấn chỉ độ hai, ba chục đứa, nhem nhuốc, bẩn thỉu và mất dạy không thua gì cha mẹ! Chúng chẳng phải đèn sách, chỉ suốt ngày chạy nhảy, đánh nhau và học nghề đạo tặc. Giờ đây, những đứa trẻ bất hạnh ấy đang chơi trò ném tuyết.

Chúng nhìn người khách mới đến với cặp mắt tò mò, xấc xược và tinh quái. Đứa cầm đầu bọn trẻ khẽ ho lên và cả bọn nhất tề ném tuyết vào hán tử áo cừu trắng muốt, đội nón tre rộng vành.

Không phải là tuyết sạch mà là tuyết trộn với bùn nhão, đủ sức biến chiếc áo choàng lông trắng tinh thành giẻ lau nhà! Nhưng người khách lạ đã rút kiếm nhanh như chớp, kiếm quang thoáng sắc hồng, kiếm kình rít rợn người, đánh bạt tất cả những nắm tuyết dơ bẩn kia đi.

Hồng quang tắt lịm thanh kiếm đã được tra vào vỏ, và hán tử áo cứu hất ngược vành nón, chiếu tia mắt oán độc tàn nhẫn vào mặt lũ trẻ du côn.

Tuy sinh trưởng trong sào huyệt của cái ác, song chưa bao giờ những đứa bé này nhìn thấy một ánh mắt khủng khiếp đến thế! Chúng lạnh người, xanh mặt bỏ chạy toán loạn. Vả lại, chúng cũng hiểu rằng cha mẹ mình không thể địch lại cái gã có chiếc mũi ưng cong khoằm đáng nghét ấy!

Hán tử áo cừu kéo thấp vành nón xuống, môi nở nụ cười hiền hậu, trái ngược với cách biểu hiện lúc nãy! Bọn trẻ kia không biết rằng nếu chúng lỳ lợm hơn chút nữa thì đối phương cũng chẳng làm gì được mình!

Gã Sách Huyết Kiếm giả hiệu này đã từng là một đứa trẻ đầu đường xó chợ, không người dạy dỗ, tất rất thông cảm với kẻ cùng cảnh ngộ!

Sách Huyết Kiếm Hồ Linh Cấu đến Lương Sơn nương náu đã kể khá rõ về cuộc đời mình cho Trương Sưởng nghe. Khi bị giết, gã đã để lại cả bí kíp của pho Sách Huyết kiếm pháp lừng danh và túi ám khí Hồng Thiết đạn.

Nhương Thư có bốn ngày để học hỏi và bắt chước phong thái, cử chỉ của Hồ Linh Cấu, tuy không được mười phần cũng đủ qua mắt thiên hạ, vì họ Hồ ở tận Sơn Tây xa xăm, chẳng dễ gì có người nhận ra hư thực!

Kẻ nổi danh thường chỉ có nghĩa là tiếng tăm được nhiều người biết đến, còn dung mạo thì chưa chắc! Hoặc cùng lắm thì người ta nhớ lõm bõm rằng Sách Huyết Kiếm có chếc mũi ưng ác độc, cặp mắt lạnh lẽo, mái tóc dài buông xõa. Chiêu bài thứ hai là vũ khí, thanh Huyết kiếm có sơn hai đường đỏ tươi dọc bản để tạo màu máu cho kiếm quang!

Hiếu danh là tật xấu lớn nhất của khách giang hồ! Họ đem xương máu tạo dựng nên thanh danh, sống chết vì nó và đánh mất chính mình! Câu thành ngữ “bậc trượng phu đi không đổi tên, ngồi không đổi họ!” luôn luôn được người võ sĩ hãnh diện nhắc đến!

Sách Huyết Kiếm cũng thế! Gã có thể lột mặt nạ, búi tóc lên, thay vũ khí để sống yên ổn ở đất Sơn Tây! Nhưng nếu làm thế thì cái danh sẽ tiêu vong. Gã bèn chấp nhận trốn tránh sự truy nã và tự nhủ rằng “Sách Huyết Kiếm vẫn còn tồn tại trong võ lâm!”

Nhắc lại, Nhương Thư đủng đỉnh lỏng tay cương đi sâu vào trấn Lạc Phách, lòng kinh ngạc khi thấy nơi đây có đủ những hình thức buôn bán, sinh hoạt như bất cứ khu dân cư nào khác!

Tuy nhỏ bé, xập xệ nhưng các tiệm tạp hóa, tiệm vải vóc, quán nhậu, quán cơm, kỹ viện... vẫn có người lui tới. Phải để ý mới biết chủ và khách đều một giuộc như nhau mặt mày đầy sẹo và mắt sắc tựa dao cạo!Lạc Phách trấn không chỉ là bình phong ngụy trang cho Cưu bang mà còn là chỗ dựa tinh thần. Chính ở đây, đám côn đồ nhận được hơi hướm của một xã hội bình thường, để khỏi phải phát điên lên vì mặc cảm bị ruồng bỏ.

Trừ đám kỹ nữ, tất cả những người trong trấn đều là thủ hạ Cưu bang. Kẻ có vợ con thì kinh doanh để kiếm thêm chút bạc thế thôi!

Đoạn giữa của đường trục trong trấn mở rộng ra thành một quảng trường, và chễm chệ tọa lạc một tửu quán bằng gỗ rất lớn. Đây là nơi náo nhiệt, vui vẻ nhất trấn Lạc Phách, vì ngoài việc ăn nhậu, người ta còn có thể đánh bạc với nhau.

Không cửa sổ, bốn cạnh cửa tửu quán này đều trổ cửa chính rất lớn, có lẽ đào tẩu cho dễ. Tường đông cửa cửa quán có treo một bảng gỗ đã mục, lờ mờ mấy chữ xiêu vẹo: Túy Tiên Tửu Quán!

Nhương Thư đã biết đây chính là cửa ải thứ nhất của Cưu bang, nơi thẩm xét lai lịch khách lạ và tiến cử về Tổng đàn, Người phụ trách tửu quán là Ngoại Vụ Phó bang chủ, Thiên Lý Du Hồn Địch Dương Hùng.

Họ Địch tuổi đã bảy ba, có bốn mươi năm phiêu bạt, một mình một đao trộm cướp từ Nam chí Bắc, kiến văn rất rộng. Nhương Thư chỉ sợ nhất là bị lão phát hiện, chỉ thầm van vái đối phương chưa gặp Sách Huyết Kiếm bao giờ. Chàng cố trấn tĩnh, xuống ngựa, buộc dây cương vào cột chống mái hiên, chậm rãi nện gót đi vào quán!

Nhương Thư hồi hộp chờ ai đó lên tiếng nhận bà con với Hồ Linh Cấu, may thay, chẳng tửu khách nào mở miệng, chỉ yên lặng nhìn bằng cặp mắt dò xét. Nhương Thư ngồi xuống một bàn gần cửa, sát tường để đề phòng ám toán sau lưng.

Chiếc bàn gỗ mộc bẩn thỉu vì dầu mỡ, nước tương, xông lên mùi hôi hám. Cả những đôi đũa trong ống cũng mốc trắng chẳng sạch sẽ chút nào! Vật dụng và không khí trong quán nhầy nhụa, tởm lợm. Chưa kể đến những gương mặt cô hồn của thực khác.

Nhương Thư kín đáo quan sát lão già áo đen, tóc hoa râm, ngồi sau chiếc bàn gỗ ọp ẹp. Thấy lão nhìn mình mà ánh mắt không lộ vẻ kinh ngạc hay mừng rỡ, Nhương Thư yên lòng đóng tiếp vai kịch. Một gã tiểu nhị thấp bé, mặt gian xảo như chồn, bước đến tươi cười hỏi han :

- Quý khách dùng chi?

Nhương Thư lạnh lùng đáp :

- Rượu một cân, lạc một đĩa!

Gã tiểu nhị quay gót, mau mắn bưng ra, đặt xuống bàn rồi chìa tay :

- Mong quý khách cho xin mười lượng!

Cái giá cắt cổ này khiến Nhương Thư xót ruột nhưng vẫn phải bóp bụng móc trả. Ánh mắt gã tiểu nhị sáng lên khi thấy cọc ngân phiếu dày cộm trong túi bạc của khác. Gã không nhận đĩnh bạc, lắc đầu tủm tỉm :

- Mười lượng vàng chứ không phải bạc!

Lương Sơn trại chủ vì nhà họ Tần mà sai bái đệ là Dương Châu Thần Thâu Bạch Tú Nhiên đến gia nhập Cưu bang nên nắm rất rõ nội tình. Gã tiểu nhị mặt chồn này vốn thực là một Đường chủ Cưu bang, trước đây, nổi tiếng đất Triết Giang với danh Tiểu Hồ Ly Chung Kim Dục.

Họ Chung xảo quyệt tàn ác phi thường, bị truy nã về tội giết sạch Hoàng gia trang, bốn chục người lớn nhỏ, trong chỉ một đêm. Gã sở trường hai môn Nhiếp Mệnh châm và Mê Hồn phấn!

Tiểu Hồ Ly có nhiệm vụ tra xét, nhưng thường ức hiếp những kẻ mới đến để thỏa mãn cái tâm độc ác của mình! Nhương Thư đã được căn dặn chu đáo nên biết cách đối phó. Chàng cười nhạt bảo :

- Hồ mỗ suốt đời ngang dọc, chưa từng để kẻ tiểu nhân đắc chí! Ngươi muốn sống thì đừng chọc giận đến Sách Huyết Kiếm đất Sơn Tây!

Tiểu Hồ Ly biến sắc lùi xa, hậm hực đáp :

- Đã vào đến chốn này mà ngươi còn sính cường sao? Sách Huyết Kiếm thì là cái thá gì?

Vừa dứt lời, song thủ của gã cất lên, phóng liền mười mũi độc châm xanh biếc. Nhương Thư đã đề phòng, hất ngược chiếc bàn gỗ che thân, đề khí bốc lên cao, bủa lưới kiếm xuống đầu đối phương.

Chẳng phải tay vừa, Tiểu Hồ Ly tung liền hai nắm Mê Hồn phấn kèm theo Nhiếp Mệnh châm. Nhưng luồng kiếm quang phớt hồng của đối phương vẫn không hề bị chặn lại, lướt đến như vũ bão. Tiểu Hồ Ly kinh hãi lao xuống gầm chiếc bàn gần đấy.

Luồng kiếm quang vẫn bám theo, chặt đôi mặt bàn, liếm vào lưng kẻ ở dưới. Tiểu Hồ Ly rú lên vì đau đớn và vì sợ bị giết. Nhưng Sách Huyết Kiếm không hạ thủ mà chỉ hỏi :

- Vàng hay bạc?

Tiểu Hồ Ly rên rỉ đáp :

- Miễn phí!

Đám thực khác phá lên cười nắc nẻ, chề giễu họ Chung! Sách Huyết Kiếm, tức Nhương Thư, ngồi xuống một bàn khác, ung dung chờ đợi, Tiểu Hồ Ly Chung Kim Dục vào sau băng bó chẳng thấy trở ra, nên lão chưởng quỹ đích thân bưng hũ rượu và đĩa lạc thứ hai đến.

Thiên Lý Du Hồn đến đối diện với khách, hờ hững bảo :

- Nếu ngươi muốn tìm chỗ nương thân thì hãy đi nơi khác! Cưu Sơn không có chỗ cho Sách Huyết Kiếm!

Nhương Thư không đáp mà hỏi lại :

- Lão là ai mà dám nói câu ấy?

Lão ta cười mát :

- Phó bang chủ Cưu bang, Thiên Lý Du Hồn Địch Dương Hùng!

Nhương Thư vòng tay :

- Thất lễ! Thất lễ! Không ngờ tôn giá lại là địa chủ chốn này! Nhưng tại hạ đến đây chẳng phải vài nương thân mà là vì muốn thương lượng một đại sự!

Địch lão mỉa mai :

- Kẻ đang bị truy nã như ngươi mà cũng có đại sự để bàn hay sao?

Lương Sơn trại chủ đã tiên liệu trường hợp này nên bày sẵn phương án đối phó. Nhương Thư bình thản đáp :

- Chính là nhờ bỏ xứ phiêu bạt mà tại hạ đã tình cờ phát hiện một mỏ vàng đang được bí mật khai thác bởi một lực lượng đông đến hơn trăm. Vì tự lượng sức mình không cướp nổi nên muốn hợp tác với Cưu bang! Nếu tôn giá không thích thì tại hạ đi tìm người khác vậy!

Nghe đến vàng, đám thực khách chấn động, xúm cả lại những bàn gần đấy để lắng nghe. Địch Dương Hùng gật gù :

- Hấp dẫn đấy! Hãy nói cho lão phu nghe thử!

Nhương Thư mỉm cười :

- Tại hạ cần gặp quý Bang chủ để nói rõ điều kiện giao dịch! Hồ mỗ đơn thân độc mã tất phải cẩn thận!

Thiên Lý Du Hồn quắc mắt :

- Lão phu đủ tư cách đại diện Bang chủ để quyết đinh tất cả! Vả lại, đã vào đến đây thì dẫu ngươi không nói cũng không được!

Nhương Thư không hiểu vì sao Địch Dương Hùng lại có ác cảm với mình và xử sự một cách bá đạo như thế, khác hẳn với những gì mà Dương Châu Thân Thần đã kể lại? Chàng quyết đinh hành động theo tính cách hiếu thắng, quật cường của Sách Huyết Kiếm, đứng phắt dậy, gằn giọng :

- Phế ngôn! Hồ mỗ sinh ra không biết sợ là gì!

Và chàng vung cước hất chiếc bàn về phía Thiên Lý Du Hồn, rồi lao theo tấn công ngay. Họ Địch nổi danh Du Hồn tất khinh công cực kỳ lợi hại, lập tức lộn người trở lại quầy quỷ, chụp lấy vũ khí.

Thanh kiếm đen của lão có tên Xà Hình kiếm, thân ngoằn ngèo, mũi có dạng như đầu rắn được tẩm chất kỳ độc “Kiến Huyết Phong Hầu”, đã từng sát hại rất nhiều người.

Họ Địch có hành tung vô định, không dừng chân lâu ở bất cứ địa phương nào nên đã thoát được sự truy lùng của Phật Đăng Thượng Nhân và các hiệp sĩ chính phái.

Nhương Thư đã nghe nhiều về đối phương, quyết nhân dịp này trừ hại cho võ lâm. Chàng không sợ Bang chủ Cưu bang oán hận vì bản chất của giới Hắc đạo là trọng tài khinh nghĩa. Nếu chàng giỏi hơn Thiên Lý Du Hồn thì được trọng dụng, không chừng thay thế lão vào làm Phó bang chủ!

Đã có chủ ý, Nhương Thư liên tiếp xuất những đòn mãnh liệt chẳng chút nương tay! Chàng chỉ luyện dược chút vỏ ngoài của pho Sách Huyết kiếm pháp, song cũng đủ che giấu sở học của mình. Màn kiếm quang màu hồng đã làm mờ những kiếm ảnh hình ngọn lửa trong kiếm thuật Phật Đăng.

Bàn ghế trong tử quán văng tứ tán, mỗi khi hai đấu thủ di chuyển đến. Bọn tửu khách đã chạy ra cửa đứng nhìn vào, khoái trá bàn bạc và chưa có ý định hỗ trợ Phó bang chủ.

Thiên Lý Du Hồn đau lòng bởi đồ đạc trong quán bị gãy nát, và giận dữ vì gã tiểu tử họ Hồ kia đã dám hung hăng với mình, liền dồn năm chục năm chân khí vào pho Hắc Xà kiếm pháp, tấn công quyết liệt.

Tiếng thép chạm nhau liên hồi chát cả tai suốt gần trăm hiệp mà chưa ai chiếm được thượng phong. Hai luồng kiếm quang đỏ đen quấn lấy nhau, tan ra, hợp lại nhanh như chớp.

Càng đánh, Địch Dương Hùng càng kinh ngạc trước kiếm thuật siêu phàm của Sách Huyết Kiếm. Theo lời đỗn đại thì bản lãnh của Hồ Linh Cấu đâu lợi hại đến thế.

Phần Nhương Thư cũng nóng ruột vì sợ đánh lâu sẽ lộ, xuất liền chín chiêu liên hoàn, kiếm ảnh mịt mù tỏa rộng. Thanh Huyết kiếm rung động xé không gian, đâm liền hàng trăm thức trong khoảnh khắc, phá thủng được màn hắc quang, đâm vào ngực trái đối phương.

Lúc này, Thiên Lý Du Hồn đã bị dồn đến vách gỗ hướng đông. Mặt tái mét vì khiếp sợ cái chết đang chập chờn. Song lão đã thoát ra bằng cách nhảy ngược về phía sau, dùng lưng phá sập lớp vách quán đã mục. Nhương Thư phóng theo ra ngoài chẳng chịu buông tha. Thiên Lý Du Hồn ra đến sân cỏ liền trụ lại và quát :

- Tiến lên!

Thế là đám thủ hạ Cưu bang rút vũ khí ùa vào, khí thế cực kỳ hung hăng. Nhương Thư thọc tay tả vào túi da nai đeo theo nơi hông trái, bốc một nắm Hồng Thiết đạn rải theo hình nan quạt. Công lực chàng còn thâm hậu hơn Sách Huyết Kiếm, lại từng luyện thủ pháp phóng Thiết Bồ Đề, nên uyển lực rất mạnh.

Bọn Cưu bang múa đao kiếm chống đỡ, nhưng không ngờ khi chạm vật cản, những viên đạn màu đỏ tươi kia lại vỡ tan ra thành bột, tỏa mùi cay mãnh liệt. Tuy không chết người nhưng thứ bột quái quỷ ấy là cho nạn nhân xốn xang hai mắt, hắt hơi liên tục, chẳng còn thấy đường và sức lực mà chiến đấu.

Chính Nhương Thư cũng bất ngờ trước tác dụng quái ác của Hồng Thiết đạn. Trước đây, chàng vẫn thắc mắc rằng vì sao một kẻ tàn nhẫn như Hồ Linh Cấu lại sử dụng loại ám khí tròn nhẵn không có khả năng đả thương?

Nhương Thư yên tâm lao đến tấn công họ Địch, mặc cho vòng vây vẫn mỗi lúc một dày đặc. Người trong Lạc Phách trấn đã kéo đến đây để xem trận đấu hấp dẫn. Đánh nhau thì ngày nào cũng có, nhưng cùng là người trong bang nên ít quyết liệt, khác với việc người ngoài bang vào đây nắm đầu Phó bang chủ mà nện!

Đám nữ nhân đã giữ chân chồng mình lại, không cho hỗ trợ Địch Dương Hùng, và họ ngoác miệng khích bác :

- Địch lão tài ba quán thế, hãy đánh cho gã họ Hồ kia biết Cưu bang chúng ta lợi hại thế nào?

Thì ra, đám đàn bà này đều là con nợ của Phó bang chủ, chỉ mong lão bị giết để giũ sạch nợ nần nặng lãi!

Thiên Lý Du Hồn bị Nhương Thư đánh rát quá, muốn mở miệng cầu cứu cũng không được. Lão than thầm trong bụng, cắn răn chống đỡ nhưng chiêu kiếm thần tốc của đối phương.

Chợt một ý niệm lóe lên trong đầu Địch Dương Hùng, lão kinh hoàng định thét lên nhưng không có cơ hội. Mũi kiếm của Hồ Linh Cấu luôn uy hiếp những tử huyệt, sẵn sàng kết liễu khi lão có một sơ xuất nhỏ. Thiên Lý Du Hồn đã tận dụng thân pháp sở trường vẫn không sao dứt ra được, và trên người rải rác tám vết thương rách thịt.

Bỗng phía chân núi vọng lại tiếng tù và, báo hiệu lực lượng trên Tổng đàn đã xuống đến. Bọn thủ hạ ngoài này sợ bị tội liền cãi lời vợ con xông vào tấn công Nhương Thư. Chàng lại phải rải Hồng Thiết đạn để đối phó, tạo cơ hội cho Địch Dương Hùng nhảy lùi. Lão vừa rời xa tầm kiếm của Nhương Thư liền gầm lên :

- Ngươi không phải...!

Nhương Thư đã sớm đề phòng, vận công nạt như sấm để át tiếng :- Sát!

Đồng thời chàng ôm kiếm lao vút đi như mũi tên rời dây cung, bay về phía họ Địch.

Thiên Lý Du Hồn biết gã Sách Huyết Kiếm giả hiệu kia muốn giết mình để diệt khẩu, liền lách sang tả tránh đòn. Với khinh công của lão, chỉ khẽ đảo bộ là đã rời xa vị trí cũ gần trượng, xem ra rất an toàn!

Nào ngờ, thay vì lướt thẳng đến mục tiêu cũ, kiếm quang kia lại bẻ góc gần như vuông thước thợ, chụp lấy Địch Dương Hùng!

Chiêu kiếm quái dị này vượt ra ngoài sức tưởng tượng của họ Địch nên lão chỉ còn cách chống đỡ trong tuyệt vọng. Trường kiếm của đối phương lập tức đâm thủng ngực và chặt phăng cần cổ gầy gò, giúp Địch Dương Hùng thanh thản đền tội!

Trong lúc cấp bách, Hồ Linh Cấu đã thi triển chiêu “Kính Đảo Quang Phương” (gương xoay hướng sáng), kết hợp giữa khinh công và kiếm thuật dùng trong trường hợp biết chắc đối phương sẽ tránh đòn sang tả hoặc hữu. Chính kiếm kình xoáy cuồn cuộn như chong chóng đã giúp chàng đổi hướng một cách đột ngột, vượt ngoài lẽ thông thường!

Đám phụ nhân trong trấn bật khóc nức nở, vật vã vì thương tiếc cho Phó bang chủ, nhưng thực ra chẳng có giọt nước mắt nào! Họ biết ơn Sách Huyết Kiếm nên chẳng hề chửi mắng gã, lòng còn thầm cảm tạ!

Tiếng tù và mỗi lúc một gần, hòa cùng tiếng vó ngựa dập dồn, và tám gã kỵ sĩ áo vàng lực lưỡng, tay cầm trường côn xuất hiện. Tuy nhìn thấy xác Địch Dương Hùng mà họ cũng thản nhiên, giao ngựa cho đám tốt đen, đứng thành hai hàng như chờ đợi ai đó! Chỉ lát sau, một đôi kỵ sĩ nữa chậm rãi đi đến, gồm một nam một nữ.

Nhương Thư choáng váng khi nhận ra hán tử áo cừu kia chính là Hoàng Nghi Tuyệt, đệ tử chân truyền của Đao Đế. Gã biệt tăm từ sau ngày thọ thương ở Chính Khí trang, không ngờ có mặt chốn này? Phải chăng gã là đầu sỏ của bọn đạo tặc Cưu Sơn?

Chàng cố nén tiếng thở dài quan sát nữ nhân đội nón mây rộng vành có rèm bằng the đen mỏng phủ đến ngực, loại nón này có tên là Duy Mạo, xuất hiện từ thời nhà Đường, được phụ nữ sử dụng khi ra đường!

Do có lớp the nên Nhương Thư không thể nhìn thấy rõ dung nhan của nàng ta, chỉ thấy thấp thoáng làn da trắng như ngọc và đôi môi đỏ hồng.

Lúc này, toàn thể những người hiện diện đã quỳ xuống và tung hô :

- Bang chủ vạn an!

Không phải Hoàng Nghi Tuyệt mà chính nữ nhân kia xua tay, nói thánh thót :

- Miễn lễ!

Té ra Bang chủ Cưu bang lại là một nữ nhân tuổi không cao! Dương Châu Thần Thâu tiềm nhập Cưu Sơn, vẽ địa đồ xong là bỏ đi ngay nên chưa diện kiến Bang chủ! Gã không biết thì Nhương Thư cũng vậy! Bang chủ Cưu bang cao giọng hỏi Nhương Thư :

- Sách Huyết Kiếm! Ngươi uống mật gấu hay sao mà dám đến đây giết người của bổn bang?

Nhương Thư vòng tay đáp :

- Bẩm Bang chủ! Tại hạ đến đây với tấm lòng thành, muốn hợp tác cùng quý bang để chiếm một mỏ vàng lộ thiên. Do Địch Dương Hùng cố tình ngăn cản, không cho tại hạ bái kiến Bang chủ để bàn bạc nên mới xảy ra cớ sự này!

Nữ lang gật đầu :

- Bổn nhân đã nghe báo lại! Xem ra túc hạ không phải là người khiêu khích trước! Tuy nhiên, dẫu sao thì túc hạ cũng không được phép nặng tay như vậy!

Nhương Thư cười nhạt :

- Hồ mỗ hiếu sát thành tật, khi đã rút gươm là phải giết người, mong Bang chủ lượng thứ cho! Nếu tại hạ nương tay thì đâu còn là Sách Huyết Kiếm?

Khẩu khí cuồng ngạo này là của Hồ Linh Cấu, và đã làm đối phương nổi giận. Bang chủ Cưu bang hừ nhẹ :

- Đừng tưởng Cưu Sơn chẳng còn nhân tài! Bổn nhân sẽ cho Hộ bang Bát thị vệ dạy cho ngươi một bài học!

Tám gã áo vàng cầm trượng côn lập tức vây lấy Nhương Thư, chờ lệnh Bang chủ. Nàng lạnh lùng nói tiếp :

- Nếu ngươi đủ tài thoát khỏi Bát Quái côn trận này thì bổn nhân sẽ tha tội giết người và phong là Phó bang chủ!

Nhương Thư nghiêm nghị đáp :

- Nếu Hồ mỗ lỡ tay giết chết thêm vài người, mong Bang chủ chớ buồn!

Nữ lang gật đầu và phất tay ra hiệu. Tám cây trường côn bằng ống thép lập tức lồng lộn lên, theo phương vị bát quái mà uy hiếp mục tiêu trung cung.

Yếu tố lợi hại nhất của côn trận là sự phối hợp nhịp nhàng, mỗi cây côn nhắm vào vị trí trên thân thể Nhương Thư, khiến chàng phải đồng thời đối phó với bốn người, rồi đến bốn người kế tiếp. Do vậy, đường côn nối nhau liên miên bất tuyệt chẳng lúc nào dứt.

Nhương Thư bắt buộc phải xoay chuyển, như chong chóng để chống đỡ bốn mặt, khiến kiếm bay vun vút, đánh bạt những cây côn hiểm ác.

Tiếng ống thép nhân nga vang dội tạo niềm phấn khích cho người xem. Họ vỗ tay tán thưởng tài đánh kiếm tuyệt luân của Hồ Linh Cấu, vì gã đã hiên ngang cầm cự hơn khắc thời gian mà vẫn chưa hề kém thế.

Thực ra, Nhương Thư chỉ thủ chứ không tấn công được đòn nào, và nếu chẳng sớm phá được côn trận, chàng sẽ kiệt lực và bỏ mạng. Khi đơn đấu, chàng không sợ bất cứ ai, nhưng côn trận này ảo diệu khôn lường, khiến chàng phải khốn đốn.

Nhương Thư nghiến răng dệt lưới kiếm quanh thân, lao vào hai gã trước mặt. Nào ngờ, trận thế biến hóa theo, cả tám cây trường côn nhất tề tấn công chứ không chia làm hai đợt nữa.

Nhương Thư chỉ đỡ được bảy đòn và trúng một côn như trời giáng vào lưng. Chàng hự lên một tiếng vì đau đớn, máu trào ra khóe miệng, thân hình lảo đảo. Bọn phụ nhân trong trấn có cảm tình với kẻ đã xóa nợ cho gia đình nên rú lên thương tiếc.

Nhưng Nhương Thư không ngã mà vẫn chống cự rất kiến cường, làm cho Hoàng Nghi Tuyệt phải lắc đầu khâm phục. Bang chủ Cưu bang cũng kinh ngạc, quay sang hỏi :

- Hoàng đại ca! Gã họ Hồ kia luyện môn ngoại công gì mà thân thể cứng rắn như vậy? Nếu là người khác thì đã gãy xương dập phổi rồi!

Hoàng Nghi Tuyệt lắc đầu :

- Ta không biết! Sách Huyết Kiếm vốn chẳng được xem là cao thủ hạng nhất, không ngờ võ nghệ lại rất cao cường! Nhân tài như thế chẳng lẽ Từ hiền muội lại định giết đi?

Thì ra Bang chủ Cưu bang mang họ Từ! Nàng nghiêm nghị đáp :

- Hồ Linh Cấu tướng mạo tàn ác phản phúc, không thể sử dụng được, tốt nhất là giết đi!

Tiếng rú của đám đàn bà lại vang lên và Sách Huyết Kiếm đã trúng thêm hai côn vào vai trái và hậu tâm.

Đòn thứ tư quét ngang, lực đạo vô cùng mãnh liệt, đã đánh văng thân hình Hồ Linh Cấu về phía trước. Nhưng thay vì rơi xuống mặt tuyết nằm chết lịm thì Sách Huyết Kiếm lại lướt dài, lao vào chân một gã áo vàng, gã này hốt hoảng vung côn giáng xuống, song Hồ Linh Cấu đang tư thế nằm ngửa, cử kiếm đỡ đòn và tiếp tục áp sát.

Gã cầm côn hồn phi phách tán, vội tung mình về phía tả, bỏ trống phương vị để Sách Huyết Kiếm thoát khỏi trận, Họ Hồ đứng lên, đưa tay lau máu miệng, lạnh lùng nói :

- Tại hạ đã may mắn thoát khỏi Bát Quái côn trận, mong Bang chủ giữ lời hứa!

Nữ lang họ Từ bật cười khinh bạc :

- Lời hứa của đàn bà thì có gì đáng để tin? Ngươi phải chết để đền mạng cho Địch lão thôi!

Nhương Thư cố vớt vát :

- Chẳng lẽ Bang chủ không cần đến mỏ vàng?

Nữ lang mỉm cười hỏi lại :

- Phải chăng ngươi muốn nói đến mỏ vàng dưới chân núi Côn Sơn ở cạnh sông thì phải?

Nhương Thư ngơ ngác gật đầu, và chua sót khi nghe đối phương chậm rãi nói tiếp :

- Ngươi ngu lắm! Mỏ vàng ấy đang được Cưu bang khai thác đấy!

Thế là hết, Nhương Thư thở dài cho số phận của Liên nhi. Chàng còn đủ sức phá vây mà đào tẩu, nhưng hy vọng cứu Liên nhi đã tiêu tan. Nhương Thư giật mình khi nghe Bang chủ Cưu bang bảo Hoàng Nghi Tuyệt :

- Hoàng đại ca hãy giết gã họ Hồ dùm tiểu muội!

Hoàng Nghi Tuyệt lưỡng lự :

- Thanh Huệ! Hắn đã thọ thương, ta mặt mũi nào mà ra tay?

Giờ đây, Nhương Thư mới biết tên đối phương là Thanh Huệ. Chàng thầm lo sợ cho Hoàng Nghi Tuyệt khi thấy gã thân cận với nữ nhân có cái tâm độc ác. Ả ta đang nũng nịu thuyết phục họ hoàng :

- Đại ca cứ giữ cái tâm của đàn bà thì làm sao dựng thành nghiệp lớn được? Hay đại ca muốn tiểu muội ra tay?

Hoàng Nghi Tuyệt vội đáp :

- Thôi để ta! Nàng đang khó ở không nên xuất thủ.

Gã tung mình rời ngựa, hạ thân xuống đứng đối diện Nhương Thư và điềm đạm bảo :

- Các hạ đã thọ thương, tại hạ nhường ba chiêu!

Nhương Thư hiền hòa :

- Hoàng Nghi Tuyệt! Các hạ vì nữ sắc mà sa vào vũng bùn nhơ này, liệu Đao Đế ở chốn suối vàng có vui chăng?

Họ Hoàng kinh hãi :

- Sao ngươi biết ta?

Nhương Thư mỉm cười :

- Tại hạ có mặt trong ngày lễ khai đàn của Chính Khí trang!

Chàng đổi giọng nghiêm nghị :

- Nay Độc Biển Thước Tả Nho Quan đã luyện thành tuyệt học của Thần Quang Chân Quân, lại thu được cả Chính Khí trang lẫn Tứ Phạn Thiên cung, sắp dìm võ lâm vào biển máu. Các hạ là người kế nghiệp Đao Đế sao không đem tài hợp lực cũng phe bạch đạo giáng ma, lại chôn vùi ở chốn cặn bã?

Bang chủ Cưu bang cũng sửng sốt chen vào :

- Tin này ngươi nghe ở đâu vậy?

Nhương Thư khẳng định :

- Tại hạ tận mắt chứng kiến chứ không nghe lời đồn!

Từ Thanh Huệ tư lự nói với Hoàng Nghi Tuyệt :

- Nếu đúng thế thì việc đoạt Bạt Sơn Thần Lựu lại càng cấp bách. Không có nó làm sao chúng ta dám đương đầu với Chính Khí trang và Tứ Phạn Thiên cung?

Hoàng Nghi Tuyệt gật đầu, quay lại bảo Nhương Thư :

- Tuy các hạ tội ác ngập đầu, nhưng xem ra cũng có lòng với võ lâm. Tại hạ tha mạng cho các hạ đấy, hãy đi đi!

Từ Thanh Huệ giận dỗi trách :

- Sao đại ca lại tha cho hắn?

Nhưng nàng chẳng dám trái ý họ Hoàng, bèn hách dịch bảo Nhương Thư :

- Nể mặt Hoàng đại ca, ta cho phép ngươi được sống đấy!

Nào ngờ Sách Huyết Kiếm bình thản lắc đầu :

- Ta không đi nếu Hoàng Nghi Tuyệt không chịu ly khai Cưu bang!

Họ Hoàng kinh ngạc :

- Ta và ngươi nào có liên quan gì?

Nhương Thư trầm giọng :

- Nếu một nhân tài như các hạ sa vào ma đạo là di họa cho võ lâm, và làm nhục thanh danh Đao Đế! Chẳng thà ta giết các hạ ngay bây gờ còn đỡ đau lòng hơn!

Hoàng Nghi Tuyệt cười nhạt :

- Chim sẻ là sao hiểu được chí hướng của Hoàng Hạc! Ngươi chán sống rồi sao mà dám mắng ta?

Gã rút phăng thanh Huyền Băng đao thủ thế, sát khí phủ mờ gương mặt rắn rỏi, vốn đã lạnh tanh. Nhương Thư thở dài lẩm bẩm :

- Nếu biết có ngày này thì Tần mỗ đã để ngươi chết dưới tay Lã Tập Hiền cho xong!

Hoàng Nghi Tuyệt đang dồn hết tâm ý, công lực vào chiêu Ngự đao nên tai mắt rất minh mẫn, nghe được câu nói ấy. Gã hốt hoảng hạ đao hỏi lại :

- Ngươi là ai?

Nhương Thư không đáp, vung kiếm vẽ liền bảy kiếm ảnh hình ngọn lửa chập chờn. Hoàng Nghi Tuyệt chấn động, tra đao vào vỏ, quỳ một chân xuống, chống một tay, kính cẩn gọi :

- Tần ân công!

Nhương Thư chua chát lắc đầu :

- Nếu các hạ còn nhớ đến ta thì hãy mau hồi đầu, đừng để anh linh của Đao Đế phải tủi hổ!

Mọi người sửng sốt trước diễn biến lỳ lạ này, chẳng hiểu gì cả. Bang chủ Cưu bang xuống ngựa, nghiêng mình bái :

- Tiểu muội Từ Thanh Huệ xin ra mắt ân công!

Nhương Thư cẩn thận lột mặt nạ, để lộ dung mạo đường chính, nhân hậu, rồi nghiêm giọng :

- Nếu cô nương quyết tâm lôi kéo Hoàng Nghi Tuyệt xuống bùn thì Tần mỗ thề sẽ tưới máu Cưu Sơn!

Hoàng Nghi Tuyệt vội đứng lên, bước đến biện bạch :

- Bẩm ân công! Tuyệt tôi vô tình lạc đến đây, cùng Từ cô nương nối mối duyên giao tình và đã thuyết phục được nàng đưa Cưu bang quay về chính đạo, hợp cùng các phái để tiêu diệt Chính Khí trang và Tứ Phạn Thiên cung. Sau khi đoạt được Bạt Sơn Thần Lựu là khởi sự tấn công Lã gia trang ngay!

Nhương Thư mừng rỡ buộc miệng :

- Thiện tai! Thiện tai! Nếu được như vậy thì Hoàng túc hạ có công lao rất lớn với võ lâm!

Chàng tu hành từ nhỏ nên đôi khi quen nói cách nói của nhà chùa.

Từ Thanh Huệ phì cười :

- Sư gì mà dữ tợn thế? Tiểu muội từng nghe Hoàng đại ca kể, giờ mới được diện kiến vị sát tinh mặt Phật!

Nhương Thư ngượng ngùng nói sang chuyện khác :

- Nàng hãy thả Liên nhi ra đi. Ba mươi trái Bạt Sơn Thần Lựu đã thuộc về ta rồi! Chúng ta sẽ hợp lực giáng ma!

Chương 9: Mỹ nhân Đổ Bác Thần giai bại - Quân khứ hoàn tuyền thiết cấp truy

Gần cuối tháng giêng, thành Nam Dương tràn ngập khách giang hồ. Họ đến đây để xem trận đấu giữa Tần Nhương Thư và Lã Tập Hiền.

Trưa hai mươi bảy, có thêm ba người nữa vào thành, đó là Nhương Thư, Tào Ưng và Hoàng Nghi Tuyệt. Vừa qua cửa Đông, họ đã bị một gã khất cái chặn đường. Gã ta khom lưng vái dài :

- Tần công tử! Các vị Chưởng môn đang nóng lòng chờ đợi! Mời công tử đi theo tiểu nhân!

Bọn Nhương Thư được dẫn đến một tòa trang viện rất lớn trên phố Quỳnh Hoa, người đầu tiên mà Nhương Thư gặp chính là Bạch Thúy Sơn. Ánh mắt gã ngập tràn niềm hân hoan, miệng cười rạng rỡ, chân tình, khiến Nhương Thư nghe ấm lòng. Họ Bạch lao vút đến, nắm chặt tay chàng, trách móc :

- Đại ca định bỏ rơi tiểu đệ hay sao?

Nhương Thư cười hiền lành :

- Ta ra đi để ngươi có được vợ đẹp, tròn lời hứa với lệnh sư!

Thúy Sơn đỏ mặt càu nhàu :

- Đại ca tính dồn tiểu đệ vào chỗ bất nghĩa ư? Sơn này mắng cho lão họ Điền một trận rồi bỏ đi ngay sáng hôm ấy!

Thiết Kình Ngư Tào Ưng hài lòng, giơ ngón tay cái khen ngợi :

- Giỏi lắm! Có thể đáng mặt trượng phu!

Thúy Sơn quay sang hỏi Hoàng Nghi Tuyệt :

- Hoàng túc hạ vì sao gặp được Tần đại ca?

Họ Hoàng mỉm cười :

- Chuyện dài lắm!

Nụ cười hiếm hoi này đã rọi sáng gương mặt âm trầm lạnh lẽo của chàng dũng sĩ đất Liêu Đông!

Bốn người cười nói, đi qua mảnh sân rộng, tiến vào khu hoa viên ở sau dãy nhà hướng Bắc. Trên mảnh vười rộng đến mấy mẫu đầy kỳ hoa dị thảo này tọa lạc một khách sảnh hình lục giác rất tráng lệ, cùng mấy căn tiểu xá thanh nhã, xinh đẹp.

Khách sảnh có mái lợp bằng ngói lưu ly xanh, sáu góc uống cong kiêu hãnh, vách trổ những ô cửa rất rộng, che kín bằng pha lê Hà Lan, để người bên trong dễ dàng thưởng ngoạn cảnh vật trong hoa viên. Nhương Thư vừa đặt chân lên bậc tam cấp của hành lang quanh sảnh thì nghe tiếng hô hoán :

- Tướng công! Đại ca!

Và từ trong có ba bóng trắng bay ra, chụp lấy chàng như chim vồ mồi. Họ là ba ả tố nga đất Tế Nam! Thấy họ sụt sùi, Nhương Thư dịu giọng :

- Các nàng xem mình là nữ hiệp, sao lại mau nước mắt như vậy?

Uyển Xuân nhoẻn miệng cười ranh mãnh đáp :

- Bọn tiểu muội chưa đánh trận nào, đâu thể gọi là nữ hiệp?

Bạch Cúc thẳng thắn trách :

- Sao tướng công vì chuỵên của đại thư mà bỏ cả những kẻ vô tội như bọn thiếp?

Nhương Thư rất yêu mến cô nàng không biết nói dối này, và cũng có phần ngán sợ chuyện dan díu với Bạch Ngọc Tiên Tử, nên áy náy đáp :

- Ta quả không có ý ấy! Vì muốn thành toàn cho Thúy Sơn và Ngọc Trâm nên ta phải âm thầm ra đi đấy thôi! Mong hiền muội hiểu cho lòng ta!

Tào Ưng cằn nhằn :

- Sao lại cứ ở lỳ đây mãi thế này? Ta đói rã ruột ra rồi đấy! Để tối nay tâm sự đến sáng chẳng hay sao?

Nhị tiểu thư Điền Mã Lan đỏ mặt cự nự :

- Tào đại ca nói kỳ quá!

Nhương Thư biết nàng cả thẹn, ít lời, dường như chịu thiệt thòi nhất trong cảnh chồng chung, liền nắm tay nàng dắt đi. Mã Lan vô cùng sung sướng nhưng lại xấu hổ nói líu ríu :

- Tướng công không sợ các trưởng bối cười sao?

Nhương Thư nhìn nàng âu yếm :

- Ai cười làm gì! Cả võ lâm, đều biết ta có được ba người vợ đẹp như tiên là các nàng!

Uyển Xuân phì cười :

- Không ngờ chỉ xa nhau gần tháng mà đại ca đã học được nghề nịnh hót đàn bà, thật là đáng kinh ngạc!

Nhương Thư gật gù :

- Ta học được của Hoàng túc hạ đấy!

Hoàng Nghi Tuyệt nhăn mặt nhưng môi thoáng cười, chẳng thèm biện bác. Cả bọn vào đến khu uống trà ở vách hướng Bắc, nơi mà năm vị Chưởng môn bạch đạo và một lão nhân tóc bạc đang trò chuyện. Nhương Thư, Hoàng Nghi Tuyệt, Tào Ưng vội vòng tay thi lễ. Vô Ưu Cái nói ngay :

- Tần hiền đệ! Đây là Văn trang chủ, bào huynh của Thông Thiên chân nhân, Chưởng môn phái Võ Đang!

Nhương Thư vội vái lão :

- Tiểu đệ Tần Nhương Thư xin bái kiến Trang chủ!

Lão nhân cười ha hả :

- Lão phu tên gọi Tích Đường, mừng được gặp bậc anh hùng trẻ tuổi như công tử!

Vô Ưu Cái cũng giới thiệu Hoàng Nghi Tuyệt và Tào Ưng với họ Văn, rồi cả bọn an tọa! Trước tiên các Chưởng môn hỏi han Hoàng Nghi Tuyệt. Nghe gã kể xong, mọi người vô cùng mừng rỡ, không ngờ họ Hoàng lại cải hóa được Cưu bang! Bất Trí thư sinh cũng hiện diện cau mày hỏi thêm :

- Bát Quái Trường Côn trận là tuyệt học lừng danh đất Hồ Châu, sao Từ cô nương lại có được?

Hoàng Nghi Tuyệt nghiêm nghị đáp :

- Thanh Huệ chính là hậu duệ của Thái Cực môn đất Từ Châu. Tám vị Hộ bang Bát thị vệ đều là tám sư huynh của nàng! Sau khi Thái Cực môn bị chết gần hết trong cuộc chiến với Hải Long giáo, chín người ấy đã đến Cưu Sơn nương náu và thành lập Cưu bang!

Phổ Chứng thiền sư, Chưởng môn phái Nga Mi, tiếp lời Bất Trí thư sinh :

- Xin hỏi Tần thí chủ đã làm cách nào để phá được Bát Quái côn trận?

Nhương Thư sượng sùng đáp :

- Đệ tử phải đưa lưng chịu bốn đòn mới tìm cơ hội thoát ra ngoài!

Thiền sư giật mình :

- Trường côn của Thái Cực môn nặng ba mươi cân, lực đánh nát đá tan vàng, sao thí chủ lại chịu nổi?

Vô Ưu Cái phấn khởi :

- Phải chăng hiền đệ đã tìm được bảo y hộ thân?

Nhương Thư lúng túng đáp :

- Không có bảo y! Song dường như cơ thể tiểu đệ cứng rắn, bền chắc như người luyện công phu Thiết Bố Sam, không thể bị trọng thương được!

Cử tọa ồ lên kinh ngạc, còn Bất Trí thư sinh thì vỗ đùi cao giọng :

- Đấy chính là tác dụng của tinh huyết Bạch Thủy Xà Vương! Từ nay, ngay cả Độc Biển Thước cũng không thể giết được ngươi!

Mọi người hân hoan chúc mừng Nhương Thư, rồi bàn về cuộc tử đấu trên Sáp Vân Phong và cục diện giang hồ!

Tối hôm ấy, đám người trẻ tuổi tụ tập trong tiểu xá dành riêng cho Nhương Thư trò chuyện. Nhương Thư nghe kể về việc Ngọc Trâm đã xuống tóc quy y ở Thiền Vân ni viện, chỉ thở dài mà không có ý kiến gì! Uyển Xuân thương chị, ứa nước mắt trách Bạch Thúy Sơn :

- Chỉ tại túc hạ nên mơi ra cớ sự này!

Họ Bạch rầu rĩ cúi đầu, chẳng dám cãi! Nhương Thư bất nhẫn nghiêm giọng :

- Thúy Sơn lòng dạ quang minh như nhật nguyệt, chỉ tại Ngọc Trâm tự xe dây trói mình! Từ nay các nàng không được oán trách Sơn đệ nữa!

Bạch Cúc lên tiếng :

- Tướng công nói chí phải! Bọn thiếp xin tuân lệnh!

Cuối canh hai, ai nấy quay về phòng riêng. Ít khắc sau, Nhương Thư nhớ đến dáng điệu khổ sở của Thúy Sơn, liền tìm đến phòng của gã, Thúy Sơn mở cửa, bối rối hỏi :

- Sao đại ca lại đến đây giờ này?

Nhương Thư tủm tỉm cười :

- Anh em xa cách lâu ngày, đêm nay ta sẽ ngủ với ngươi!

Thúy Sơn gượng cười :

- Tiểu đệ đã quen ngủ một mình nên không thể chìu ý đại ca được!

Nhương Thư cười mát :

- Ngươi là nam hay nữ?

Thuý Sơn giật bắn mình :

- Tất nhiên là nam rồi!

Nhương Thư gật gù :

- Thế thì ngủ chung cũng chẳng sao!

Chàng xăm xăm đi thẳng vào phòng, trèo lên giường nằm và gọi :

- Sơn đệ, lên đây trò chuyện cùng ta!

Thúy Sơn lưỡng lự, khêu nhỏ bấc đèn rồi vào nhà sau một lúc mới ra trèo lên giường, kéo chăn bông đắp kín người. Trời rất lạnh nên dù có lò sưởi cũng phải dắp chăn mới đủ ấm.

Nhương Thư cũng chui vào trong chăn, ôm lấy gã, bàn tay tả cố ý đặt lên trên ngực Thúy Sơn. Quả đúng lời Tào Ưng, ngực của Thúy Sơn bằng phẳng nhưng không hề rắn chắc bằng chàng. Tuy nhiên, cơ thể Thúy Sơn lại khác mềm mại và thơm mùi hoa trộn chút hương bồ kết. Thuý Sơn run giọng :

- Té ra đại ca muốn kiểm chứng xem tiểu đệ có phải giả trai hay không? Giờ thì đại ca đã hài lòng chưa?

Nhương Thư cười khà khà :

- Ngươi đoán đúng đấy! Ta vốn không tin trên đời lại có nam nhân xinh đẹp đến thế?

Thúy Sơn rụt rè :

- Đại ca không hề giận tiểu đệ về vụ Hổ Hồng Nhan chứ?

Nhương Thư gật đầu :

- Không! Ta đau lòng nhưng chẳng hề oán trách ai cả! Và dường như sau việc này, ta càng yêu mến ngươi hơn!

Thúy Sơn sung sướng cười đáp :

- Cảm tạ đại ca! Phải chi tiểu đệ là nữ nhân, tất sẽ lấy đại ca để bồi thường thiệt hại!

Nhương Thư sinh nghi, giả đò gác chân lên hạ thể Thúy Sơn thấy dương v*t cồm cộm mới yên tâm! Thúy Sơn biết nhưng chẳng nói ra, chỉ bảo Nhương Thư kể lại thời thơ ấu cho mình nghe. Giữa canh tư, Nhương Thư mới thuật xong quá khứ đau buồn, ôm chặt Thúy Sơn mà thiếp đi.

Nguyên ngày hôm sau, Nhương Thư ráo riết luyện kiếm. Thúy Sơn và Hoàng Nghi Tuyệt giúp chàng bằng cách liên thủ tấn công, dưới sự giám sát của các vị Chưởng môn.

Về lý thuyết, nếu Nhương Thư địch lại hai cao thủ này thì sẽ thắng Lã Tập Hiền. Nhưng trong thực tế thì kết luận này lại không chắc chắn lắm. Lý do đơn giản là cả ba người đều chẳng dám nặng tay với nhau, chỉ điểm trúng là rút kiếm về. Bất Trí thư sinh đề nghị :

- Đánh thế này thì Nhương Thư sẽ chẳng thu được lợi ích gì. Ba người hãy sử dụng kiếm gỗ mũi bằng mà giao đấu!

Trong Văn gia trang có sẵn mộc đao, mộc kiếm để đám gia đinh luyện võ nên chẳng phải mất công đẽo gọt. Phải vài khắc sau ba người mới quen vũ khí mới, tận lực thi thố hết sở học.

Trong buổi sáng, Nhương Thư trúng sáu đòn. Trong đầu giờ chiều, chàng trúng thêm một đao của Hoàng Nghi Tuyệt, nhưng sau đó dần dần chiếm được thượng phong, liên tiếp đâm trúng hai đối thủ. Dường như càng gặp cường địch, kiếm thuật của Nhương Thư càng tinh xảo. Khi hoàng hôn buông xuống, Bạch Thúy Sơn kiệt lực chịu thua, Hoàng Nghi Tuyệt cũng buông đao đứng thở dốc. Cả hai ướt đẫm mô hôi và mệt đứt hơi trong khi Nhương Thư chỉ lấm tấm ướt trán, sức lực còn rất sung mãn!

Khánh Hỉ đại sư, Phương trượng chùa Thiếu Lâm hân hoan tán dương :

- Lành thay! Lành thay! Bản lãnh của Tần thí chủ đã khiến bọn lão nạp thêm yên lòng khi phải đối phó với tà ma!

Nhương Thư nghiêm giọng :

- Tiên sư từng nói rằng Thần Quang chưởng pháp lợi hai vô song, tiểu đệ không dám chắc mình có thể chống lại nên chỉ tận lực mà không bàn đến kết quả!

Vô Ưu Cái kết luận rất lạc quan :

- Tấm thân sắt thép của ngươi chính là khắc tinh của Thần Quang chưởng pháp! Gậy sắt ngươi còn không sợ mà!

Cả nhà cười vang, công nhận lão rất có lý! Đêm đến, Nhương Thư chợt phát hiện mình đang có ý định sang ngủ chung với Thúy Sơn, liền mỉm cười tự chế giễu :

- Lạ thực! Chẳng lẽ ta lại mê gã họ Bạch rồi!

Chàng quyết định không đi và trằn trọc mãi, cuối cùng cũng xuống giường sang gõ cửa phòng Thúy Sơn. Gã mở cửa tủm tỉm hỏi :
- Sao đại ca không ngủ chung với ba chị em họ Điền mà cứ tìm đến tiểu đệ?

Nhương Thư thực thà đáp :

- Ta cũng muốn như vậy nhưng sợ bụng họ lớn ra thì nguy to! Ngủ với ngươi chắc ăn hơn!

Thúy Sơn bật cười, kéo Nhương Thư vào phòng. Cũng như hôm qua, gã đi xuống nhà vệ sinh rồi mới lên giường. Nhương Thư ôm gã, khoan khoái nói :

- Quỷ quái thực! Nằm cạnh ngươi ta bỗng nghe ấm áp và thư thái tâm hồn!

Chàng đặt tay trái lên ngực phải Thúy Sơn mà trò chuyện. Lát sau, theo thói quen trong những ngày sống với Bạch Ngọc Tiên Tử, chàng bất giác mơn man vú gã. Thúy Sơn nhột nhạt, gạt tay chàng ra và hỏi :

- Phải chăng đại ca đã kinh qua chuyện mây mưa nên mới có cử chỉ này? Tiểu đệ đoán nữ nhân ấy chính là Bạch Ngọc Tiên Tử?

Nhương Thư vô cùng khâm phục đầu óc Thúy Sơn, ngượng ngùng thú nhận :

- Bạch hiền đệ đáng mặt tri kỷ của ngu huynh! Ta cùng Lâm Đại Ngọc đã có những ngày ân ái mặn nồng!

Chàng thở dài rồi nói tiếp :

- Ta đang lo lắng không thấy Lâm nương đến Nam Dương! Vô Ưu Cái đã cho đệ tử đi kiếm khắp thành mà chẳng có âm hao!

Thuý Sơn an ủi chàng :

- Chắc vì bận gia sự nên Lâm Đại Ngọc chưa đến được. Đại ca có lo cũng chẳng ích gì, hãy cố ngủ sớm để mai có sức mà tiêu diệt Lã Tập Hiền!

Nhương Thư tán thành, lại đặt tay lên ngực Thúy Sơn rồi nhắm mắt. Chàng ngủ rất say mà họ Bạch vẫn thao thức, đôi mắt nhung đen huyền dán vào gương mặt thanh tú, trung hậu của Nhương Thư. Chàng trai họ Tần không xứng danh mỹ nam tử nhưng cũng đủ để bọn thê thiếp hãnh diện. Thúy Sơn khẽ thở dài, nhẹ nhàng xoay người Nhương Thư nằm ngửa ra, ôm lấy chàng mà thiếp đi!

Sáng hôm sau đã là ngày đầu tháng hai, ăn điểm tâm xong, bọn Nhương Thư lên ngựa đi đến Sáp Vân Phong, cách của bắc thành Nam Dương chín dặm.

Sáp Vân Phong (núi xuyên mây) cao gần ngàn trượng, đỉnh luôn phủ đầy băng tuyết, hoặc chìm trong những đám mây mùa hạ. Tất nhiên, chẳng ai dại gì mà leo lên đến tận ngọn để tỷ đấu, mà người ta chọn Sáp Vân Phong vì một lý do khác: sườn Nam của nó có một bình đài bằng phẳng, rộng đến vài chục mẫu, đủ sức chứa hàng vạn khán giả. Hai là, bình đài này bị cắt rời khỏi núi mẹ bằng một khe sâu hun hút, mịt mù sương khói nên chẳng thấy đáy đâu.

Bình đài cao độ bốn chục trượng nhưng khe vực thì sâu hơn nhiều. Nó chỉ rộng báy tám trượng, hoàn toàn thiếu dưỡng khí nên không ai có thể xuống đấy mà thám hiểm, đo đạc. Đấy mới là lý do chính đáng để những kẻ oán thù nhau chọn Sáp Vân Phong làm mồ chôn! Họ sẽ thách đấu chí chết rồi hất xác đối phương xuống vực, đỡ tốn cho gia đình nạn nhân một chiếc áo quan!

Xã hội nào cũng có luật pháp, và việc chém giết nhau luôn bị cấm đoán. Tuy nhiên, võ lâm Trung Hoa có luật lệ riêng của mình. Phàm là những kẻ đã tự xưng là khách giang hồ đều phải tuân thủ. Nghĩa là, trừ trường hợp bị ám sát, vợ dại con thơ không phương báo phục, mới được nhờ đến nha môn. Kỳ dư, anh em con cháu đều phải tự lực báo thù hoặc mướn bằng hữu võ lâm hỗ trợ. Điều này còn xuất phát từ tâm lý muốn tự tay đâm chém, giết chết cái kẻ khốn khiếp đã làm hại người thân của mình!

Tóm lại, quan quân địa phương luôn tảng lờ trước một cuộc thanh toán của bọn hào khách, ai chết mặc ai, không có đơn kiện là xong! Lương bổng thì chẳng bao nhiêu, lo toan những vụ trộm vặt đã mệt, hơi đâu để ý những kẻ thích chết ồn ào?

Đầu giờ thìn thì bình đài đã ngập tràn hơn ba ngàn hào kiệt võ lâm từ khắp bốn phương kéo đến. Xem tỷ võ là một lạc thú, một phần đời của khách giang hồ. Dẫu đang đúng vụ mùa gặt hái, đám đàn ông vô tích sự này cũng bỏ đấy cho vợ con rồi lên ngựa đi đến nơi có cảnh máu chảy đầu rơi! Khi trở về, họ lại uổng phí thêm hàng tháng nữa để lê lết nơi trà lâu tửu quán, oang oang kể lại cho người ở quê mình nghe những gì đã xảy ra để được cái tiếng là kiến văn rộng rãi!

Quần hùng luôn đến sớm để thực hiện một việc lý thú là cá cược xem ai thắng! Cuộc đỏ đen sẽ khiến người xem hào hứng hơn với trận đấu. Và trong võ lâm những chuyên gia tổ chức cá độ luôn hiện diện trong bất cứ thịnh hội nào. Họ đều là những tay đại phú, hầu bao luôn đây ắp ngân phiếu, bảo đảm chung chi đây đủ cho người tham dự. Kẻ nổi tiếng nhất có tên là Huyết Đổ Thần Cù Kim Dụng, năm nay đã gần bảy chục tuổi. Nhà họ Cù ở ngay đất Nam Dương này nên không thể vắng mặt được!

Ngoài ta hôm nay còn hiện diện một nhân vật nổi tiếng nữa là Tử Bất Đổ Vu Trường Lục, người đất Hồ Bắc.

Danh hiệu của hai lão tổ sư cờ bạc này tuy hàm ý chết chóc, máu me, song chẳng có quái gì là đáng sợ! Huyết Đổ Thần chuyên về các cược những trận so tài, thường bắt cá ai là người bị thương trước. Còn Tử Bất Đổ chỉ có nghĩa là họ Vu sẵn sàng đánh cược với bất kỳ ai, trừ người đã chết!

Huyết Đổ Thần đứng trên một gò cao, chung quanh có mười gã thủ hạ, tay cầm những xấp giấy trị giá từ mười lượng đến ngàn lượng bạch ngân. Họ Cù sang sảng tuyên bố :

- Lão phu bắt Chính Khí trang chủ Lã Tập Hiền thắng, tỷ lệ là một ăn hai!

Cách đấy không xa, Tử Bất Đổ Cù Kim Dụng cũng rao :

- Lão phu bắt Tần công tử thắng một ăn ba!

Hai lão khác ý nhau sao chẳng cá với nhau cho xong? Thưa rằng luật của nghề cá cược không cho phép hai đầu nậu đấu với nhau! Thế là quần hùng tùy theo phán đoán của mình, móc hầu bao để lấy những mảnh giấy có đóng mộc của họ Cù hay họ Vu!

Huyết Đổ Thần lại giở đến chiêu máu me :

- Lão phu bắt Tần công tử thọ thương trước, tỷ lệ một ăn bốn!

Bọn Nhương Thư đã có mặt, chị em họ Điền tức lộn ruột khi thấy lão họ Cù kia cứ trù ẻo cho tình quân của mình thua với trúng đòn, liền bàn bạc cùng nhau. Uyển Xuân hỏi Mã Lan!

- Nhị thư! Chúng ta còn bao nhiêu vàng?

Điền Mã Lan đáp :

- Hơn ba vạn lượng!

Uyển Xuân hậm hực nói :

- Thế thì chúng ta sẽ bỏ ra hai vạn lượng để các với lão mặt ngựa đáng ghét kia!

Nào ngờ điền Bạch Cúc lại bảo :

- Chỉ cần chừa số lẻ, Tứ muội cứ đặt cả ba vạn cho lão ta sạt nghiệp luôn!

Mã Lan thận trọng bảo :

- Để ta xin ý kiến tướng công xem sao, nếu tự ý làm càn chàng sẽ giận đấy!

Ba nàng rảo bước đến chỗ Nhương Thư và các Chưởng môn, trình bày ý định. Nhương Thư nhíu mày suy nghĩ một lúc rồi mỉm cười :

- Thắng thì không chắc nhưng việc kiếm vài giọt máu trên người họ Lã thì chẳng khó. Các nàng cứ làm đi!

Ba ả tiên nga mừng rỡ chạy đến khu vực của Huyết Đổ Thần. Uyển Xuân cao giọng hỏi :

- Này lão Cù! Ông mang theo bao nhiêu vốn vậy?

Cù Kim Dụng đắc ý đáp :

- Mười vạn lượng hoàng kim, liệu có đủ không?

Uyển Xuân cười nhạt :

- Không đủ! Bổn cô nương định đặt đến ba vạn lượng, bắt họ Lã lưu huyết trước. Vị chi lão phải chung mười hai vạn lượng! Hãy cho người về lấy thêm đi!

Quần hùng chấn động trước món cá cược khổng lồ, bàn tán rất náo nhiệt. Ngay Huyết Đổ Thần cũng run sợ trước máu liều của ba cô gái họ Điền, nhưng không nhận thì còn gì thanh danh của Huyết Đổ Thần nữa? Cù lão cắn răng nói vọng về phía Tử Bất Đổ :

- Vu lão đệ cho ta mượn năm vạn lượng ngân phiếu!

Vu Trường Lục là một lão già to béo, mặt tròn, mắt hí, đầy vẻ mưu mẹo. Lão đi đến, đếm ngân phiếu trao cho đồng nghiệp rồi hờ hững nói :

- Sau trận này Cù lão huynh có thể giải nghệ được rồi đấy! Tiểu đệ xin thành thật chia buồn!

Huyết Đổ Thần tái mặt nhưng vẫn nói cứng :

- Lão phu nhìn người chưa hề lầm bao giờ!

Mã Lan trao ngân phiếu cho đối phương, sắc diện vẫn an nhiên tươi tắn, đôi mắt trong veo tràn ngập sự tự tin. Trái lại, Huyết Đổ Thần run tay, mặt mũi rầu rĩ như đưa đám.

Cù lão không ngờ Nhương Thư có ba mụ vợ hiếu thắng và xem vàng như đất cát. Trong đời cờ bạc, chưa bao giờ lão lại phập phồng, lo sợ đến thế này!

Lão rủa thầm ba ả họ Điền đi theo trai mà vác đến mấy vạn lượng vàng, đúng là thứ con bất hiếu! Nếu tính cả số bạc của quần hùng thì thua keo này lão sẽ mất đứt mười lăm vạn lượng vàng!

Khổ thay, có nhiều người noi gương chị em họ Điền, đặt cược vào Nhương Thư, làm cho số vàng ngày càng tăng, sắp bằng toàn bộ cơ nghiệp của họ Cù ở Nam Dương!

Gần cuối giờ Thìn thì Lã Tập Hiền và lực lượng Chính Khí trang đến nơi, lão tươi cười vòng tay chào các Chưởng môn :

- Không ngờ chư vị lại hạ cố giá lâm để quan chiến! Đây quả là một vinh dự lớn lao cho tại hạ!

Vô Ưu Cái nghiêm giọng :

- Lã túc hạ và Tần công tử đều là nhân tài kiệt xuất, là tướng tiên phong trong sự nghiệp giáng ma, vệ đạo, do vậy bọn lão phu chẳng thể vắng mặt. Trước hết, hội đồng võ lâm mong rằng cuộc tỷ võ này chỉ phân thắng bại trong vòng một canh giờ, không nhất thiết phải có người chết mới thôi! Thứ hai, do số vàng cá cược của đồng đạo võ lâm đã lên đến vài chục lượng vàng nên song phương không được mặc áo giáp. Tốt nhất là nên cởi trần để giao đấu!

Lã Tập Hiền biến sắc nhưng không thể phản đối vì mấy ngàn cái họng đã ngoác ra tán thành. Lão hậm hực hỏi :

- Họ cá thế nào?Vô Ưu Cái cười đáp :

- Ai là người trúng kiếm, chảy máu trước!

Phe bạch đạo không hề tiết lộ việc Lã Tập Hiền qui phục Độc Biển Thước, khiến họ Lã vẫn cố giữ cái vỏ bọc danh mộ chính phái, phải tuân phục hội đồng võ lâm.

Lúc hai đối thủ cởi áo, các Chưởng môn thấy Lã Tập Hiền mặc một chiếc áo lót bó sát, dầy và đen bóng, biết đấy là bảo y, song họ tảng lờ như không! Khi họ Lã bước về phía bờ vực thì Khánh Hỉ đại sư mới nói :

- A di đà Phật! Nếu không có cao kiến của Cao thí chủ thì Nhương Thư đã nguy rồi! Chiếc áo lót đen ấy chính là Hắc Giao Bì Giáp của Giáo chủ Hải Long giáo ngoài biển đông!

Bất Trí thư sinh được khen mà nét mặt vẫn ưu tư. Lão thở dài bảo :

- Lão phu cũng đã nhận ra vật ấy và lo rằng Hải Long giáo cũng đã liên minh với Độc Biển Thước!

Chưởng môn phái Hoa Sơn là Ngọc Tâm Tử lên tiếng :

- Việc ấy tính sau! Giờ chúng ta phải giám sát trận đấu này cái đã!

Nhương Thư cũng đã ra đến đấu trường, đứng cách đối thủ ba trượng. Thân hình rắn chắc đầy những múi thịt rất đẹp của chàng đã khiến mấy trăm nàng nữ hiệp xao xuyến! Họ đông nên chẳng sợ ba ả cọp cái họ Điền, công khai tán dương Nhương Thư bằng những câu đại loại như :

- Cơ thể Tần công tử tuyệt đẹp và đầy nam tính!

- Ai được làm vợ chàng sẽ là kẻ diễm phúc nhất trên đời!

- Ta mà được ngủ chung với chàng một đêm rồi chết cũng mãn nguyện!

Chị em họ Điền tức cành hông mà chẳng làm được gì, chỉ thầm mắng bọ gái lẳng lơ, dám mơ tưởng đến chồng của người khác! Nhưng toàn trường bỗng choáng voáng vì một câu nói rất lớn :

- Cha ăn cướp thì con cũng chẳng ra gì!

Đúng như dự đoán của Vô Ưu Cái và Bất Trí thư sinh, phe đối phương sẽ cho người nhục mạ để làm rối loạn tâm trí Nhương Thư. Đã được dặn trước, Uyển Xuân cao giọng :

- Ai giết được kẻ vừa xúc phạn Tần công tử sẽ được thưởng năm trăm lượng vàng!

Thế là một góc của rừng người bỗng nhốn nháo, hỗn loạn, vang lên tiếng đấm đá chưởi thề ỏm tỏi. Lát sau, một toán hảo hán lôi xềnh xệch một xác người đến giao cho Uyển Xuân. Mặt mũi của nạn nhân đã dập nát, sưng vù, chẳng thể nhận ra dung mạo nữa. Tất nhiên, gã đã chết queo dưới tay của đám đông.

Điền Mã Lan vui vẻ lấy ngân phiếu trao cho họ và nói lời cảm tạ. Bọn hào khách vừa đi vừa cãi cọ :

- Sao ta chỉ được hai chục lượng? Chính ta đã đấm gã kia cả chục quyền cơ mà?

- Ta phải được trăm lượng vì đã liều mạng lăn vào ôm chặt chân gã để các ngươi hạ thủ!

Cuối cùng thì cũng chia chác êm xuôi, và toàn trường bắt đầu chú ý những kẻ đứng gần, chờ ai đó mở miệng chửi là xông đến ngay! Nhưng tiếc rằng cái chết của tên kia đã khiến bọn gian tế sợ hãi, chẳng dám lên tiếng nữa! Lúc này Vô Ưu Cái đã nói lời khai trận :

- Theo quy củ võ lâm, Tần công tử nhỏ tuổi hơn nên được quyền xuất thủ trước! Xin mời!

Nhương Thư và Lã Tập Hiền đều đứng cách xa mép vực hai trượng, kiếm tuốt trần dựng trước mặt, tả thủ bắt ấn kiếm!

Ai cũng đoán rằng ngay chiêu đầu song phương sẽ thi triển Ngự kiếm thuật vì có đủ khoảng cách. Quả đúng thế, Nhương Thư loang kiếm hóa thành đạo hào quang màu hồng bay vút đi.

Quần hùng ngỡ ngàng khi thấy chàng không nhắm vào Lã Tập Hiền mà lại bay lệch khỏi mục tiêu hơn trượng. Ngay bản thân họ Lã cũng chẳng hiểu gì cả, chỉ còn cách xoay ngang mà phòng thủ. Nào ngờ, Nhương Thư đột ngột bẻ góc vuông, lao về phía Lã Tập Hiền. Chiêu thức quái dị này đã khiến lão ta hoàn toàn bị động, đành nghiến răng múa kiếm chống đỡ̃.

Luồng kiếm kình mãnh liệt đã chặn bớt lực đạo của chiêu Ngự kiếm nên Nhương Thư không đủ sức giết đối phương nữa. Hai thanh thép chạm vào nhau chát chúa, kiếm quang loang loáng làm hoa mắt người xem. Có tiếng ai rên khe khẽ, và Nhương Thư tung mình nhảy lui hai trượng, đứng mỉm cười!

Quần hùng hoan hô như sấm dậy khi thấy bắp tay trái và ngực của Chính Khí trang chủ Lã Tập Hiền rách hai đường, máu loang hồng làn da trắng trẻo!

Nhương Thư đã thi triển chiêu “Kính Đảo Quang Phương”, đả thương họ Lã để thê thiếp ẵm trọn mười hai vạn lượng vàng của Huyết Đổ Thần. Chàng không ưa cái nghề cờ bạc trên xương máu của họ Cù! Uyển Xuân nhảy nhót reo vang :

- Thắng rồi!

Các nàng chạy đến Huyết Đổ Thần để nhận cả vốn lẫn lời. Những hảo hán theo phe Nhương Thư cũng nhao nhao đòi nợ. Chỉ nửa khắc sau, Huyết Đổ Thần trở thành kẻ nghèo mạt rệp. Lão cũng không hy vọng vào số vàng thắng cược khi Nhương Thư bại trận, vì xem chàng chẳng thể thua được.

Lúc này trận đấu đã trở nên quyết liệt, hai kiếm thủ quấn lấy nhau như hình với bóng, đổi đòn như chớp giật. Công lực họ Lã thâm hậu gấp bội Nhương Thư nhờ những viên Huyết đan của Hạt Nhãn Thần Ma, nhưng kiếm pháp lão lại kém Nhương Thư một bậc.

Huyết Tâm kiếm pháp lợi hại nhờ Ma âm, nay họ Tần sở đắc thần công Phật môn, bách tà bất nhâp, nên pho kiếm kia mất đi hiệu dụng.

Sau lần tỷ đấu với Hộ sơn Bát thị vệ, kiếm thuật của Nhương Thư đã khác xưa, và chàng còn tiến bộ hơn nữa khi phải một mình chống chọi với Thúy Sơn, Hoàng Nghi Tuyệt. Phật Đăng kiếm pháp mầu nhiệm khôn cùng, càng luyện càng xâm nhập vào chỗ uyên thâm và không hề có giới hạn.

Trình độ kiếm thuật siêu phàm của Nhương Thư đã bù đắp được sự thua sút về chân khí, giúp chàng chiếm được thượng phong, sau nửa canh giờ đã rạch sáu vết thương trên cơ thể Lã Tập Hiền. Tất cả đều không sâu và Nhương Thư luôn phải rút kiếm về để phòng Thần Quang chưởng pháp. Nếu mũi kiếm cắm ngập vào xương sẽ bị kẹt lại, dù chỉ trong khoảng khắc nhưng cũng đủ cơ hội cho họ Lã phản kích.

Đấu pháp khôn ngoan này đã khiến Lã Tập Hiền vô cùng chán nản. Lão đã âm mưu đánh lén một đòn phách không chưởng để kết thúc ngay mà chẳng để lộ thuyệt học Thần Quang chưởng pháp. Ngờ đâu, Nhương Thư lại biết trước việc lão lạy Độc Biển Thước là sư phụ nên có sẵn cách đối phó.

Tám vết kiếm thương đã biến họ Lã thành một con người máu, trông rất thê thảm. Thế là những người bắt độ Nhương Thư gào lên, yêu cầu lão ta chịu thua.

Vô kế khả thi, Lã Tập Hiền quyết định thi triển tuyệt học Thần Quang chưởng pháp, bất chấp việc mất đi vỏ bọc chính phái. Lão bất ngờ tung mình lùi xa, thoát khỏi tầm kiếm của Nhương Thư, rồi lại ập vào bằng một thân pháp chập chờn như ma muội, tả thủ khoa nhanh, vẽ nên những vòng chưởng quái dị.

Nhương Thư biết đã đến hồi quyết liệt, dồn chân khí bảo vệ tâm thất rồi lướt đến tiếp chiến bằng chiêu “Đăng Hỏa Đương Phong”. Thanh Huyết kiếm rít lên những tiếng như xé lụa, kiếm ảnh gồm mười tám ngọn lửa hồng chao đảo trước luồng chưởng kình vũ bão. Chiêu tuyệt kiếm Phật môn đã xé nát được hầu hết những vòng tròn chưởng ảnh, nhưng vẫn còn sót lại. Nhương Thư nghe bụng, ngực đau đớn như bị chùi sắt nện vào, song vẫn cắn răng tiến lên

Lã Tập Hiền đã bồi thêm bằng một chiêu kiếm ở tay phải, đinh ninh sẽ thủ lợi. Song Nhương Thư chẳng hề gẫy xương, đường kiếm vẫn còn mãnh liệt và thần tốc. Huyết kiếm xuyên qua khe hở, đâm thẳng vào má trái, rạch xép xuống hớt đứt mép và một phần môi dưới của họ Lã.

Mũi kiếm còn chạm vào răng khiến Lã Tập Hiền tê tái cả đầu óc, vội đảo bộ lùi xa. Quần hào hoan hô Nhương Thư vang dội dù miệng chàng đang rỉ máu tươi. Có kẻ nói oang oang :

- Ối chà ghê quá! Mặt của họ Lã tiêu mẹ nó rồi!

Tất nhiên Lã Tập Hiền cũng biết thế, lão điểm huỵêt chỉ huyết, nuốt vội mấy viên linh đan đỏ tươi, ném kiếm đi rồi múa song chỉ ập vào. Khi lão sử dụng hai tay thì mọi người mới thấy hết được sự lợi hại của Thần Quang chưởng pháp. Đấy là Lã Tập Hiền mới luyện không bao lâu, nếu như Độc Biển Thước ra tay thì càng bội phần đáng sợ.

Song chưởng của họ Lã từ khoảng cách hơn trượng liên tiếp giáng vào người Nhương Thư. Chàng lướt đến thì lão ta đã hoán vị với một bộ pháp kỳ ảo tuyệt luân. Nhương Thư trúng đến tám chín chưởng, máu miệng trào như suối nhưng vẫn không chịu gục ngã.

Ba nữ nhân họ điền bật khóc nức nở còn những người thân khác thì mặt mày nặng trĩu lo âu. Bất Trí thư sinh thở dài nói :

- Lã Tập Hiền chỉ học được có tám chiêu Thần Quang chưởng pháp, thế mà Nhương Thư cũng không địch lại! Võ lâm nguy mất rồi!

Vô Ưu Cái chợt ngắt lời :

- Xem kìa!

Thì ra Nhương Thư đã bị đối phương dồn đến mép vực, kiếm quang che kín thân mình, không trúng đòn nhưng bị sức phản chấn đẩy đi.

Lã Tập Hiền nở nụ cười đanh ác, múa tít song thủ, vẽ nên tám chưởng ảnh mù mờ, chụp lấy mục tiêu. Dĩ nhiên lão phải dùng lại chiêu đã thi triển mấy lần.

Tiếng rú thất thanh của ba ả họ Điền vừa cất lên thì Nhương Thư cũng bất ngờ xê dịch sang mé hữu một bước rồi bay vút lên không trung, sa xuống như nhát búa của lôi thần. Thân hình chàng ẩn kín trong luồn kiếm ảnh hình ngọn lửa duy nhất, phớt hồng nhờ hai sợi chỉ máu dọc trên Huyết kiếm.

Lã Tập Hiền vội cử chưởng đẩy liền sáu đạo chưởng phong để chặn đường gã họ Tần, ngỡ rằng có thể đánh văng đối phương xuống vực thẳm. Tiếc rằng chiêu “Thiên Hỏa Giáng Ma” lại là chiêu Ngự kiếm duy nhất trong võ lâm có thể thi triển ở khoảng cách gần và từ trên cao đánh xuống. Do vậy, huyết kiếm đã xé nát các đạo chưởng kình, tiện dứt tả thủ và cắm xuyên vào ngực Lã Tập Hiền, theo tư thế xéo từ trên xuống.

Nhương Thư đã thành công nhưng hoàn toàn kiệt lực bởi những vết chưởng thương và chiêu Ngự kiếm lúc nãy. Chàng mệt mỏi đến mức không tài nào di chuyển được nữa, chỉ đứng thở hồng hộc. Nhưng Lã Tập Hiền chưa chết dù máu trong phổi trào ra khoé miệng. Lão trợn mắt căm hờn lẩm bẩm :

- Ngươi thua rồi! Trời sinh lão phu có trái tim ở ngực phải!

Dứt lời, lão vung cước đá mạnh vào bụng Nhương Thư, hất văng chàng xuống vực thẳm, cách đấy chưa dến một trượng! Diễn biến này vượt ngoài dự kiến của mọi người. Họ đang reo hò hoan hô Nhương Thư, nào ngờ kẻ phải chết lại là chàng!

Người thân của Nhương Thư bàng hoàng đau đớn đến mức chết đứng như trời trồng. Nhưng Bạch Thúy Sơn lại phản ứng khác, gã nhanh chóng lướt như tên bắn về phía Lã Tập Hiền, khi còn cách hơn một trượng đã ném mạnh một vật hình trụ. Trái Bạt Sơn Thần Lựu nổ vang trời, xé tan thân thể họ Lã, và còn làm cho lớp truyết trên sười núi Sáp Vân Phong lở ra, trút xuống vực thẳm. Không hề dừng chân, Thúy Sơn tiếp tục lao đến mép vực, thét lên ai oán :

- Tần đại ca!

Rồi gã gieo mình xuống khoảng không gian mịt mù sương khói và tuyết vụn. Bọn Vô Ưu Cái vội điểm huyệt ba chị em họ Điền để đề phòng vụ tự sát thứ hai, rồi mới kéo đến cạnh khe vực mà quan sát.

Tuyết vẫn trút xuống ồ ạt, tạo nên tiếng động ầm ầm như sấm. Các Chưởng môn nhìn nhau tuyệt vọng, biết chắc hai anh em Nhương Thư không thể nào sống sót.

Lát sau quần hùng giải tán, ngậm ngùi ca ngợi tình bằng hữu giữa Thúy Sơn và Nhương Thư.

Nhưng nếu để hai gã Tần, Bạch chết đi thì đúng là trời cao không có mắt hay sao? Vậy thì họ phải sống sót, song bằng cách nào?

Trước tiên chúng ta hãy quay lại với Tần Nhương Thư, chàng trúng cú đá của Lã Tập Hiền trong lúc tay vẫn nắm chặt chuôi kiếm. Khi văng đi, lưỡi kiếm bị rút ra, cản bớt đà bay nên rơi rất sát vách vực..

Nhương Thư vì quá kiệt sức nên không còn vẫy vùng được nữa, để mặc thân thể gieo xuống. May thay, khi rơi được chục trượng, mông chàng chạm vào tàn của một loài cây lạ mọc trên vách. Nhánh cây gãy răng rắc và chàng tiếp tục rơi, nhưng lại chạm cây thứ hai, thứ ba, và cuối cùng nằm lại trên tàn cây thứ mấy không rõ. Nỗi đau ở mông, lưng đùi đã khiến chàng tỉnh táo lại, ngồi lên móc hũ linh đan nuốt liền bốn viên. Đây là quà tặng của Bất Trí thư sinh, lão đã tận dụng tài sản của nhà họ Điền để mua dược liệu quý, bào chế thuốc giải Tiêu Trường Vụ, tiện tay làm ít thuốc trị nội ngoại thương!

Bỗng chàng nghe một tiếng nổ ì ầm từ trên vọng xuống, đoán rằng phe mình đã sử dụng Bạt Sơn Thần Lựu. Nhương Thư ngước lên nhìn, phát hiện một bóng vàng sa xuống.

Không hiểu vì sao chàng lại nghĩ đến Bạch Thúy Sơn, có lẽ vì sáng nay gã đã mặc một bộ võ phục vàng rất diêm dúa. Chẳng chút chần chừ, Nhương Thư thò hữu thủ chụp lấy cánh tay đang đang rộng của nạn nhân. Đà rơi quá mạnh giật trốc gốc cây khỏi vách, rơi xuống đáy vực cách chừng mười trượng. Chân Nhương Thư quặp chắc tàn cây nên cả hai người vẫn dính lại ở đây, rơi bằng tốc độ với cái cây kỳ lạ kia. Đáy vực lại đầy lá mục nên họ đã sống sót.

Bạch Thúy Sơn dùng tay phải sửa khớp vai tả bị trẹo do cú giật, rồi ôm Nhương Thư khóc vùi :

- Tiểu đệ tưởng đại ca đã chết nên nhảy xuống theo. Không ngờ hai ta lại vẫn còn được gặp nhau trên chốn dương gian!

Nhương Thư cảm động đến nghẹn lời, ngồi lên dịu dàng hỏi :

- Sao hiền đệ dại thế?

Thúy Sơn lười chàng :

- Thiếu đại ca thì tiểu đệ còn sống làm gì nữa?

Lúc này, tuyệt đã rơi xuống đến đáy vực, Thúy Sơn vội đỡ Nhương Thư dậy và hớt hải nói :

- Tiểu đệ đã dùng Bạt Sơn Thần Lựu xé xác lão họ Lã! Có lẽ vì vậy mà làm cho tuyết trên núi lở xuống!

Nhương Thư đã suy nghĩ rất nhiều về địa thế Sáp Vân Phong, đặt cả tình huống rơi xuống vực thẳm này nên bình tĩnh trấn an :

- Lượng tuyết trên sườn núi không nhiều, chẳng thể chôn vùi chúng ta được. Trái lại, vụ truyết lở còn mang lại một lượng dưỡng khí rất lớn cho đáy vực. Hai ta vẫn còn khoẻ mạnh, lo gì không thoát lên nổi?

Thúy Sơn bỗng hỏi :

- Lúc nãy, trước khi nhảy xuống tiểu đệ có gọi rất lớn, đại ca có nghe không?

Nhương Thư lắc đầu khiến Thúy Sơn chán nản :

- Nếu vậy thì người ở trên cũng chẳng nghe thấy chúng ta!

Gã thấy Nhương Thư khập khiễng liền bồng lên, lướt về phía vách vực hướng Tây, nơi có vẻ ít tuyết đổ xuống. Hai người mừng rỡ khi thấy nơi ấy có một ao nước trong veo nằm dưới một động khẩu ở chân vách. Họ ẩn vào đấy cho đến lúc tuyết thôi tuôn xuống. Không gian mờ tối nên Thúy Sơn nhặt nhạnh cành khô chất thành đống cạnh bờ ao, đốt lên cho sáng sủa, và còn hy vọng người ở trên nhìn thấy.

Trong lúc Nhương Thư điều tức trị thương, Thúy Sơn quan sát ao nước, mừng rỡ khi thấy có khá nhiều cá. Gã đeo kiếm khi nhảy xuống nên giờ đây có vũ khí mà đâm cá, được hai con, một lớn màu đen, một nhỏ màu trắng. Thúy Sơn nướng xong thì Nhương Thư cũng xả công.

Chàng cởi phăng chiếc quần dài rách nát và đôi võ hài rồi nhảy xuống ao tắm táp. Nghe lưng đau rát, chàng hỏi :

- Bạch hiền đệ, lưng ta thế nào?

Thúy Sơn bước đến xem xét, cười bảo :

- Có đến mấy chục đương rách nhưng không sâu! Đại ca sắp thành kim cương bất hoại rồi đấy!

Chờ chàng tắm xong, gã lấy thuốc kim sang xức lên, xé áo choàng mà băng lại. Nhương Thư rất đói bụng vì trận tử chiến nên ăn sạch con cá lớn. Lát sau chàng nghe mi mắt nặng trĩu, liền nằm trên sàn động ngủ vùi. Thúy Sơn ngồi kế bên, âu yếm nhìn gương mặt đôn hậu của Nhương Thư. Thấy chàng không có gối, gã bèn kê đùi mình xuống dưới đầu.

Ngủ được hơn khắc bỗng Nhương Thư rên rỉ và lăn lộn. Người nóng như lửa. Thúy Sơn kinh hãi lay gọi mà chàng vẫn không hồi tỉnh, gã sợ quá chẳng biết làm sao, nằm ôm chặt lấy Nhương Thư mà khóc. Chợt gã phát hiện dương v*t họ Tần cương cứng liền ngồi bật dậy thì thấy mắt chàng mở lớn đầy khát vọng, hai tay run rẩy cố ôm lấy mình.

Thúy Sơn liền hiểu ngay con cá đen kia có dâm tính cực mạnh nên đã khuất phục người có định lực thâm hậu như Nhương Thư. Và nếu lúc này không được giao hợp thì chàng sẽ chết hoặc phát cuồng.

Thúy Sơn thở dài, thò tay điểm huỵêt Nhương Thư rồi đứng lên thoát y. Gã chỉ còn một bộ duy nhất này nên không thể để chàng xé rách được.

Phải chăng Thúy Sơn định giở trò kẽ gian? Thưa không, khi mảnh vải cuối cùng rời khỏi thân thể thì Thúy Sơn hiện rõ bản chất nữ nhi, chỉ thiếu có đôi nhũ phong nảy nở. Trời sinh nàng không có ngực nên tủi phận cải nam trang! Nàng yêu Nhương Thư say đắm nhưng mặc cảm mà chẳng dám nói ra!

Nay để cứu tình quân, Thúy Sơn sẵn sàng hy sinh trinh tiết, vì ngay cái chết nàng cũng chưa hề sợ! Nàng ngồi xuống, giải huyệt cho Nhương Thư rồi dâng hiến. Thúy Sơn nội công thâm hâu, dễ dàng vượt qua đau đớn khuê môn, lại hết lòng yêu họ Tần nên tâm lý thanh thản, nồng nàn, đạt được khoái cảm, dù Nhương Thư chỉ hành động như dã thú!

Vài khắc sau, Nhương Thư mới thoát khỏi tác dụng của dâm ngư, lăn ra ngủ vùi. Thúy Sơn lặn lẽ tắm táp cho mình, rồi rửa ráy cho tình quân, lòng tràn ngập hạnh phúc và một chút hoang mang.

Mãi đến chiều Nhương Thư mới tỉnh giấc, hoan hỉ nói :

- Sơn đệ! Dường như con các kia có tác dụng rất tốt. Ta nghe những vết nội thương đã hết đau nhức, cơ thể sảng khoái sung mãn. Hiền đệ bắt thêm vài con cá nữa đi!

Thúy Sơn thẹn đỏ mặt, quay ra ao, dùng kiếm xiên thêm hai con giống hồi trưa. Nhương Thư ăn xong lại buồn ngủ và đi vào trạng thái khát tình. Thúy Sơn lại lặng lẽ chịu đựng sự dày vò của chàng, và cũng nhận nhiều lạc thú hơn lần trước!

Sáng hôm sau, Thú Sơn không dám cho Nhương Thư ăn hắc ngư nữa mà chuyển qua loại cá có màu trắng bạc, may thay nó không hề có dâm tính!

Hai người cùng nhau đi khảo sát khắp nơi, trừ những chỗ bị tuyết chôn vùi. Đáy vực rất tối tăm nên họ phải cầm theo cành khô làm đuốc.

Mỗi ngày cứ thế trôi qua, tám lượt thì xuân cũng về đến đất Nam Dưong, tuyết trên núi tan nhanh, chảy xuống vực ào ạt, mang thêm dưỡng khí trong lành. Mặt trời xuân cũng rực rỡ ban phát ánh sáng mờ mờ cho đáy vực.

Chương 10: Phục sinh báo gia cừu - Hồi hương tầm thân thế

Niềm tuyệt vọng càng lớn khi đàn cá dưới ao sắp hết. Trưa ngày rằm hai người đang gượng gạo trò chuyện ngay chỗ đã rơi xuống thì phát hiện có những vật nhỏ rơi xuống. Trước tiên là một con gà quay, một vò rượu và sau đó là tro tàn của giấy tiền vàng bạc.

Biết có người đến cúng tế, Nhương Thư mừng rỡ vận công rú lên cao vút. Nhờ nhưng con Hắc ngư kỳ lạ kia, chàng đã luyện xong lớp thứ chín của pho Thiên Đăng tâm pháp, nội lực tương đương bốn chục năm tu vi, nên tiếng rú đã vượt qua độ cao hơn trăm trượng.

Lát sau, một tảng đá có quấn vạt áo được ném xuống, trên có mấy dòng chữ bằng máu :

“Nếu hiền đệ còn sống thì hãy rú lên một lần nữa! Lão phu là Quách Tàn Bôi đây!”

Nhương Thư hoan hỉ hú vang, và lại nhận được huyết thư :

“Cảm ơn lão trời già! Lão phu đi tìm người đến cứu ngươi đây!”

Chỉ vài khắc sau lão đã quay lại, thả dây chão xuống, có cả thư :

“Dây chão rất chắc chắn và được sáu người kéo. Nếu Bạch Thúy Sơn cũng còn sống thì hãy cùng lên một lượt cũng chẳng sao!”

Nhương Thư quấn quanh bụng, thắt lại rồi bảo Thúy Sơn ôm cổ mình. Chàng giật dây báo hiệu để phía trên bắt đầu kéo. Tuy chậm chạp nhưng cuối cùng họ cũng lên đến miệng vực, ôm lấy lão trộm già họ Quách. Dù nước mắt dàn dụa nhưng ai cũng cười ha hả.

Dạ Quân Tử giới thiệu năm gã hán tử cùng kéo dây :

- Nhị vị hiền đệ! Họ là Tô Châu ngũ kiếm, hảo hán đất Tứ Xuyên, con cùng một mẹ, mang họ Đồng. Năm người này ngưỡng mộ uy danh của hiền đệ nên nhờ lão phu tiến cử làm thuộc hạ. Hôm qua đến đây, nghe tin hiền đệ rơi xuống vực thẳm này, họ vô cùng thất vọng, định quay về cố quận. May mà Ngũ kiếm còn vương vấn mấy kỹ viện trong thành nên mai mới khởi hành.

Năm gã ngượng ngùng nhìn nhau rồi quỳ xuống. Tuổi họ sàn sàn nhau, từ khoảng ba mươi đến ba mươi lăm, dung mạo dữ dằn vì râu rậm, mắt ốc nhồi, mũi ưng, môi mỏng lét. Tuy nhiên, vầng trán thấp và khoảng cách giữa hai mắt khá xa đã nói lên rằng họ không được thông minh lắm.

Mắt mũi na na nhau nhưng chiều cao thì chênh lệch rất đều. Nghĩa là khi họ quỳ xuống cạnh nhau thì tạo thành một đường dốc rõ rệt. Người cao nhất thì hơn Nhương Thư, còn người thấp nhất thì chỉ đến vai Thúy Sơn. Nhưng gã lùn nhất lại là đại ca, gã nói rổn rảng :

- Mong công tử nhận năm anh em tại hạ làm thủ hạ! Chúng ta nguyện suốt đời trung thành, dẫu chết cũng chẳng thay lòng đổi dạ!

Gã kế bên buột miệng tiếp lời :

- Lương bổng không quan trọng, chỉ vài chục lượng cũng đủ!

Người thứ ba thêm vào :

- Thỉnh thoảng mong công tử ban cho chút đỉnh gửi về quê cho mấy mụ vợ và lũ trẻ!

Người thứ tư rụt rè :

- Còn khoản thanh lâu chỉ xin mỗi tháng một lần!

Người thứ năm là gã cao kều :

- Nếu lỡ chết thì xin chiếc quan tài bằng gỗ tốt!

Bạch Thúy Sơn chịu không nổi, phá lên cười sặc sụa, Nhượng Thư thì tủm tỉm nói :

- Được! Ta đồng ý!

Năm gã họ Đồng mừng rỡ dập đầu theo nhịp đếm của anh cả :

- Một, hai, ba,..., chín!

Nhương Thư cũng vái trả, lòng rất vui mừng vì có những thủ hạ cổ quái này. Gã thứ tư là Đồng Đại có chiều cao tương tự Nhương Thư nên mở tay nải đưa cho chàng mượn một chiếc áo. Gã cười hể hả :

- Bẩm công tử! đây là chiếc áo mới nhất của thuộc hạ đấy! Mong công tử giữ kỹ giùm cho!

Nhượng Thư quay sang kính cẩn hỏi họ Quách :

- Chẳng hay tình hình bá mẫu thế nào rồi?

Dạ Quân tử cười đáp :

- May mà gia mẫu đã hồi phục, giờ đây hoàn toàn khỏe mạnh!

Tám người xuống núi, quay ngựa trở lại thành Nam Dương. Đồng Đại và Đồng Nhị cưỡi chung một con, nhường một con cho Nhương Thư và Thúy Sơn. Vừa đi được một quãng ngắn, Thúy Sơn ranh mãnh nói :

- Để tạo niềm vui bất ngờ, phiền Quách đại ca cho bọn tiểu đệ mượn hai chiếc mặt nạ!

Dạ Quân Tử cười khà khà, trao cho họ Bạch và Nhương Thư, mỗi người một cái, Lão đắc ý bảo :

- Tần tiểu đệ! Cái của ngươi là do lão phu lột được từ mặt của gã Tiểu Thám Hoa Trần Thượng Bãng, một dâm tặc vùng phía Tây đất Tứ Xuyên. Bốn năm trước, lão phu tình cờ đi ngang vùng rừng núi Lạc Sơn, phát hiện gã nằm chết, liền lột lấy da mặt rồi mới chôn!

Thúy Sơn rùng mình sợ hãi!

- Thế cái của tiểu đệ thì sao?

Dạ Quân Tử cười ruồi :

- Cũng là của một kẻ đã chết! Nhưng ngươi đâu phải là đàn bà mà nhát gan thế nhỉ?

Có tật giật mình! Thúy Sơn vội mang vào ngay. Gã ngửa mặt nhìn Nhương Thư rồi khen :

- Té ra Tiểu Thám Hoa cũng là một gã đẹp trai đấy chứ!

Nhương Thư cười đáp :

- Còn ngươi thì rỗ chằng rỗ chịt trong mà phát khiếp!

Đoàn người tiến vào thành, đi thẳng đến Văn gia trang, hy vọng bọn Vô Ưu Cái vẫn còn ở đấy! Quả nhiên, có vài tên tiểu cái đang ngồi bắt rận cho nhau trước cửa trang, dưới bóng mát của một cây quế cổ thụ. Cạnh đấy, hai gã gia đinh áo xanh say mê đấu cờ. Dạ Quân Tử hắng giọng hỏi :

- Này tiểu huynh đệ! Chẳng hay Hầu bang chủ còn ở đây không?

Gã hán tử cụt tay chiếu ánh mắt nghi ngờ hỏi lại :

- Tôn giá là ai mà lại hỏi thăm tệ Bang chủ?

Họ Quách nghiêm giọng :

- Lão phu là Quách Tàn Bôi, bái huynh của Tần công tử, vừa từ Tứ Xuyên đến!

Gã cụt tay dường như có biết việc này, vội đứng lên cung kính nói :

- Thì ra là Quách đại gia! Mời chư vị đi theo tiểu nhân! Hai gã kia mê cờ chắc chẳng chịu đứng lên đâu!

Tám người xuống ngựa, giao cho đám tiểu cái rồi nhập trang. Trong tòa khách sảnh hình lục giác ở vườn hoa đang hiện diện đầy đủ những gương mặt thân yêu của Nhương Thư, chỉ thiếu bốn vị Chưởng môn Tãng đạo mà thôi!

Sắc diện bọn họ cực kỳ sầu héo, u ám, nhất là ba cô gái họ Điền. Giờ đây, mặt hoa hốc hác, mắt sưng vù vì than khóc. Gã hóa tử cụt tay vào trước để bẩm báo :

- Bẩm Bang chủ! Có bái huynh của Tần công tử là Quách đại gia xin đến chia buồn!

Vô Ưu Cái gật đầu :

- Mời lão ta vào đây!

Gã cụt tay trở ra, và bọn Nhượng Thư bước vào. Họ Tần hoan hỉ nhìn từng gương mặt thân yêu, nhận ra ai cũng khổ đau, kể cả hai gã Tào Ưng và Hoàng Nghi Tuyệt. Mặt họ đầy râu, mắt đỏ ngầu, đang uống cạn từng bát rượu đầy chẳng cần thức nhắm. Hầu bang chủ giới thiệu phe mình, và theo đúng lễ, ba ả họ Điền phải ra chào bái huynh của người chồng quá cố!

Vô Ưu Cái rầu rĩ nói :

- Quách lão đệ đến rất đúng lúc! Sáng mai bọn lão phu sẽ xuống vực thẳm tìm xác Nhương Thư và Thúy Sơn! Tuyết tan, nước chảy thành thác tất đáy vực sẽ không thiếu dưỡng khí!

Bất Trí thư sinh bỗng nghiêm giọng!

- Này Quách Tàn Bôi! Vì sao lão lại đưa những kẻ bại hoại như Tiểu Thám Hoa, Xú Diện Khuyển đến đây? Cả năm gã Tô Châu ngũ tặc kia cũng chẳng có tốt lành gì?

Cao Tường Toản kiến vãn như biển lại ở Tứ Xuyên nên đâu lạ gì những gương mặt mốc của giới Hắc đạo! Lúc này Nhương Thư mới biết năm gã họ Đồng kia không phải là Ngũ kiếm mà là Ngũ tặc, còn gương mặt rỗ của Thúy Sơn vốn là của gã Xú Diện Khuyển nào đấy! Quách Tàn Bôi chẳng hề bối rối, cười khanh khách đáp :

- Lão phu xuất thân Hắc đạo tất phải đồng hành với Hắc đạo, có gì là lạ?

Vô Ưu Cái cằn nhằn :

- Nhưng Tiểu Thám Hoa là dâm tặc, tuyệt đối chẳng thể chấp nhận được! Ngươi không đuổi gã ấy thì có chuyện đấy!

Quách Tàn Bôi xua tay :

- Hầu bang chủ lầm rồi! Chính cái gã dâm tặc này lại là truyền nhân duy nhất của Dạ Lang đại pháp sư. Gã ta sẽ dùng phép thuật hồi sinh cho Nhương Thư và Thúy Sơn!

Vô Ưu Cái giận giữ nạt :

- Cuồng ngôn! Ngươi tưởng bọn ta là con nít chãng?

Hoàng Nghi Tuyệt lạnh lùng lên tiếng :

- Lão hãy đi đi! Đừng để ta lỗi đạo với Nhương Thư vì đã giết lão!

Thúy Sơn nhận ra ánh mắt đầy hy vọng của ba cô gái họ Điền, liền khàn giọng bảo :

- Ba nàng muốn ở góa hay muốn thử một phen? Pháp thuật của bọn ta cao siêu nhất thiên hạ đấy!

Mã Lan không còn kềm chế được nữa, rời ghế bái Vô Ưu Cái và khóc ròng :

- Quách lão là nghĩa huynh của chuyết phu, lẽ nào lại dám lộng ngôn! Xin Bang chủ cho phép họ làm thử, biết đâu thành công thì sao?

Dạ Quân Tử cũng nói :

- Lão phu xin lấy đầu mình ra để đảm bảo!

Vô Ưu Cái thở dài :

- Thôi được! Các ngươi đã tin tưởng thì lão phu cũng không cản!

Thúy Sơn cười khanh khách nói thêm :

- Tốt lắm! Nhưng chư vị phải trả công chứ!

Mã Lan gạt lệ đáp :

- Giá cả không thành vấn đề!

Thúy Sơn gằn giọng :

- Nghĩa là nàng chấp nhận bất cứ giá nào!

Mã Lan gạt lệ :

- Đúng vậy!

Thúy Sơn tủm tỉm nói :

- Rẻ thôi! Chỉ cần nàng hôn gã Tiểu Thám Hoa kia một cái là xong!

Tào Ưng giận giữ gầm lên :

- Đồ đốn mạt! Ngươi muốn chết chãng?

Nhưng Bất Trí thư sinh lại gạt đi và bảo Mã Lan :

- Tức muội cứ việc làm theo lời của Xú Diện Khuyển!

Cả nhà kinh hãi, không ngờ lão hồ ly này lại xử sự quái đản đến mức khuyên em dâu thất tiết!

Mã Lan run rẩy, chẳng biết phải làm sao, nước mắt tuôn như suối!

Gã Tiểu Thám Hoa kia đã chủ động bước đến, khiến nàng sợ hãi lùi lại. Tên dâm tặc lên tiếng :

- Lan muội! Ta đã trở lại với các nàng!

Giọng nói trầm ấm, dịu dàng kia như tiếng sét giáng vào tâm thức Mã Lan và mọi người. Nàng tròn mắt nhìn ngơ ngác, và rú lên khi Tiểu Thám Hoa lột mặt nạ. Điền nhị tiểu thư lập tức xỉu đi, được Nhương Thư ôm trong vòng tay rắn chắc! Hai cô em cũng chạy ra, ôm chàng khóc lóc.

Nhưng bọn nam nhân thì reo hò như sấm dậy, nước mắt ràn dụa. Bất Trí thư sinh nạt :

- Thúy Sơn! Ngươi còn định trốn nữa sao?

Xú Diện Khuyển vuốt mặt, ngượng ngùng bảo :

- Nhãn lực của Cao huynh quả là đáng sợ!

Mã Lan đã hồi tỉnh, ngỡ ngàng vuốt ve gương mặt tình quân, tỉnh táo khi bị Nhượng Thư hôn lên má!

Nhượng Thư buông thê thiếp bước đến ôm các nam nhân. Họ vỗ lưng nhau bồm bộp, cười vang đến nỗi rung rinh cả những mảnh pha lê quanh vách.

Văn trang chủ nghe tin vui vội chạy đến mừng Nhương Thư và Thúy Sơn!

Đương nhiên lão cho dọn ngay tiểu yến để mọi người quây quần nghe kể về kỳ tích thoát chết của hai gã Tần, Bạch!

Ba ả họ Điền đã lôi Nhương Thư vào phòng tắm, chẳng chút thẹn thùng, ra sức kỳ cọ cho chàng. Nhương Thư động tình, hôn hít họ rất nồng nhiệt. Bạch Cúc nhìn chàng say đắm và bộc bạch :

- Nếu không bị mọi người ngãn cản thì bọn thiếp đã lao xuống vực chết theo tướng công rồi!

Nhương Thư mỉm cười :

- Ta biết! Nhưng cũng may là ba nàng không làm thế! Dưới vực chỉ có vài chục con cá, lấy gì mà ăn để chờ đến lúc Quách đại ca đến tế?

Mã Lan ấp úng :

- Bọn thiếp rất hối hận vì không sớm hầu hạ chãn gối cho tướng công, may ra có được giọt máu họ Tần mà an ủi đời góa bụa.

Nhương Thư gật gù :

- Cũng chưa muộn! Tối nay ta sẽ sang tìm nàng!

Uyển Xuân cười khúc khích :

- Phòng của chị em thiếp gần nhau đấy!

Họ đùa giỡn hỏi lâu nên khi ra đến thì cả nhà đã hiện diện, cơm rượu cũng sẵn sàng. Nhương Thư vừa ãn được hai chén đã buông đũa kể lể vì biết mọi người đang nóng ruột.

Vô Ưu Cái tấm tắc khen :

- Thân thể ngươi đúng là bằng thép nên không bị dập nát khi bị đập vào mấy chục tàn cây trên vách!

Bất Trí thư sinh thì hỏi kỹ :

- Tần hiền đệ! Chẳng hay những con cá đen bổ dưỡng dưới vực còn có đặc điểm gì nữa không?

Thúy Sơn làm cá nên rõ hơn :

- Nó có hình dạng của cá chép nhưng không vẩy, lưng đen tuyền mà bụng đỏ như son, đuôi vây có mấy sọc vàng óng!

Cao lão cau mày suy nghĩ, mỉm cười đắc ý và chẳng nói ra! Nhương Thư hỏi đến cục diện võ lâm. Vô Ưu Cái tư lự đáp :

- Trinh sát Cái bang báo về rằng lực lượng Chính Khí trang đã sát nhập vào Tứ Phạn Thiên cung! Và dường như cả Độc Biển Thước cũng có mặt ở Càn Sơn. Có khả nãng đối phương sẽ tập kích Hoa Sơn trước tiên!

Nhương Thư cau mày :

- Vì sao vậy?

Vô Ưu Cái đáp :

- Năm xưa, chính tiền nhiệm Chưởng môn Thần Y Tử, sư phụ của Ngọc Tâm Tử, đã là người vô hiệu hóa được chất kỳ độc của Tả Nho Quan nên lão mới bị khống chế. Hai là, vị trí núi Hoa Sơn cách xa huyện thành, không sợ quan quân đến tiếp ứng! Nội gián của chúng ta ở Càn Sơn cũng đã xác nhận ý đồ này!

Bất Trí thư sinh bàn rằng :

- Chắc đối phương chưa đánh Hoa Sơn ngay! Chúng ta cứ đến Ly Sơn điều tra lai lịch Nhương Thư, khi có biến thì đi hỗ trợ phái Hoa Sơn!

Cử tọa đều khen phải. Hăng hái nhất là ba ả họ Điền, làm dâu kẻ cướp chẳng vinh dự gì nên hy vọng gốc gác chồng mình sớm sáng tỏ. Nhưng Nhương Thư trầm ngâm hỏi :

- Hầu lão ca! Hạ lạc của Trác Thiên Lộc thế nào?Họ Hầu kể :

- Vì nghe tin hền đệ đã bỏ mạng dưới vực sâu nên họ Trác chẳng còn phải trốn tránh, ngang nhiên xuất hiện ở Lạc Dương, phụ trách một Phân đà bí mật của Tứ Phạn Thiên cung! Nhờ có nội gián nên lão phu biết được việc này!

Nhương Thư cười nhạt, mắt lóe hào quang :

- Tốt lắm, sau khi đi Hoa Sơn, tiểu đệ sẽ đến Lạc Dương tìm lão ta!

Bất Trí thư sinh nghiêm giọng :

- Thực ra! Việc tiêu diệt Trác Thiên Lộc cần phải tiến hành sớm! Và nếu Độc Biển Thước biết hiền đệ còn sống sẽ bắt họ Trác tiết lộ Phật Đăng kiếm pháp. Khi lão đã nắm vững sở học Ngũ Đài sơn thì hiền đệ sẽ nguy đấy!

Nhương Thư nghe sống lưng lạnh toát, thở dài đáp :

- Đa tạ Cao lao huynh cảnh tỉnh! Sang mai đệ sẽ đi Lạc Dương!

Bất Trí thư sinh chợt hỏi :

- Hiền đệ và Thúy Sơn mang mặt nạ này từ lúc rời Sáp Vân Phong chứ? Nếu đúng thế thì rất tốt, và đây sẽ là đòn bất ngờ cho đối phương!

Quách Tàn Bôi đắc ý cướp lời nghĩa đệ :

- Phải đấy! Lão phu sẽ biến Nhương Thư thành một người hoàn toàn khác, làm cho tà ma phải điên đầu.

Tan tiệc, Nhương Thư gặp riêng Vô Ưu Cái để hỏi tin tức Bạch Ngọc Tiên Tử! Hầu bang chủ chớp mắt trấn an :

- Ngươi cứ yên tâm! Phân đà Sơn Tây báo về rằng Lâm trang chủ bị bệnh nên Đại Ngọc phải ở lại chăm sóc! Sau vụ Hoa Sơn chúng ta sẽ đến đấy thăm họ!

Nhương Thư là người đôn hậu, lại tuyệt đối tin tưởng Vô Ưu Cái nên không phát hiện ra ánh mắt của họ Hầu. Chàng an lòng quên đi mối lo về Bạch Ngọc Tiên Tử.

Trăm hoa đua nở trong vườn Văn gia trang, cảnh chiều xuân đẹp lạ lùng. Bọn người trẻ tuổi bày bàn trà ngoài hoa viên mà trò chuyện. Năm gã Tô Châu ngũ tặc rụt rè bước đến Đồng Đại nói ấp úng nhưng giọng vẫn oang oang như chuông bổ :

- Bẩm công tử! Mong người phát lương cho, bon thuộc hạ chẳng còn xu nào cả.

Điền Mã Lan là người giữ tiền nên lên tiếng :

- Thế chư vị định ấn định mức lương tháng là bao nhiêu?

Đồng Đại hạ giọng nhũn nhặn :

- Dạ bẩm phu nhân! Bọn thuộc hạ chẳng dám xin nhiều! Chỉ đủ những khoản đã trình bày với công tử thôi ạ!

Mã Lan ngơ ngác hỏi Nhương Thư, Thúy Sơn đã mau miệng đáp thay. Nghe kể xong cử tọa ôm bụng cười sặc sụa. Tào Ưng nói đùa :

- Thế năm lượng có đủ không?

Đồng Nhị nhăn nhó :

- Bẩm Tào công tử, năm lượng chỉ đủ cho khoảng vào thanh lâu rẻ tiền thôi ạ!

Nhương Thư vẫn xem Tào Ưng là bằng hữu nên bắt Ngũ tặc xưng hô là công tử, cũng như đối với Thúy Sơn, Nghi Tuyệt vậy!

Uyển nhi cười nắc nẻ :

- Các ngươi đã có vợ con mà mở miệng ra là nhắc đến kỹ viện, thật đáng xấu hổ!

Đồng Đại phổi bò nhất bọn gân cổ cãi :

- Tứ phu nhân không biết đấy thôi! Tài nghệ của các kỹ nữ hơn hẳn các mụ vợ ở nhà, khiến người đàn ông khoan khoái như lạc vào cõi tiên. Nếu không tin, phu nhân cứ hỏi ba vị công tử đây sẽ rõ!

Bạch Cúc rất nhạy cảm, máu ghen bốc lên ngùn ngụt, cắm móng tay vào hông Nhương Thư và đay nghiến :

- Có đúng như vậy không tướng công?

Nhương Thư không hề đau đớn, cười đáp :

- Ta có đến chốn ấy bao giờ đâu mà biết?

Song Thúy Sơn lại gật gù :

- Đồng Đại nói đúng đấy! Bản lãnh bọn kỹ nữ cao cường đến nỗi hầu bao của khách phong lưu đều lép kẹp, mỗi khi rời kỹ viện! Lợi hại nhất là các tiểu cô nương ở Bắc Kinh, mỗi đêm kiếm được cả ngàn lượng bạc.

Bạch Cúc trợn mắt trách móc :

- Ngươi hư hỏng đã đành, còn định lôi kéo cả tướng công của bọn ta xuống bùn nữa sao?

Thúy Sơn cười khanh khách :

- Tiểu đệ chưa nói hêt! Thực ra họ chỉ là hạng liễu rủ hoa tàn, thua xa ba nàng tiên họ Điền!

Bạch Cúc chưa nguôi nhưng cố nhịn vì sau lần Thúy Sơn tự sát chết theo Nhương Thư, các nàng vô cùng khâm phục và yêu mến gã!

Nàng lạnh lùng bảo Ngũ tặc :

- Tần gia sẽ trả cho các ngươi mỗi người trăm lượng, song từ nay cấm tuyệt không được nhắc đến thanh lâu!

Năm gã họ Đồng mừng rỡ vái dài, lui ra. Chúng nói nhỏ với nhau :

- Tần công tử thật là xui xẻo, lấy được ba ả La Sát, chẳng được tự do như anh em mình!

Tối hôm ấy, Nhương Thư sang phòng Thúy Sơn, thấy gã đang đọc sách, liền ngồi vào bàn, bộc bạch tâm sự :

- Sơn đệ! Ta rất xấu hổ mà thú nhận rằng dục tính trong người rất vượng, không thể cầm lòng trước ba chị em họ Điền! Nhưng ta lại ngại ngùng, không dám đến gần gũi họ vì chưa có lễ nghi hôn phối!

Thúy Sơn mỉm cười nhưng ánh mắt thoáng buồn :

- Có lẽ là do tác dụng của loài Hắc ngư dưới đáy vực! Nếu đại ca cố kiềm chế e sẽ có hại, chi bằng cứ thuận theo duyên mà hành động. Chúng ta là khách giang hồ, sống chết mong manh hơi đâu mà giữ lễ nghĩa của đám hủ nho!

Nhương Thư thấy lòng nhẹ nhõm, vui vẻ bảo :

- Ta quả là có diễm phúc khi có được đứa em chí tình như hiền đệ!

Chàng đi rồi Thúy Sơn khóa chặt cửa thở than :

- Tần đại ca quá trung hậu nên hơi ngốc! Chẳng lẽ ta phải chịu mãi cảnh oái ăm này!

Gã thẫn thờ bước đến giường, thay áo để đi ngủ. Bất giác Thúy Sơn lõa thể hoàn toàn, để lộ thân hình thon dài, sãn chắc. Trên giường ngủ mọi bộ phận đều đẹp, chỉ trừ đôi vú! Thúy Sơn vuốt ve bộ ngực lép, nước mắt chảy dài trên gò má trắng mịn. Chính vì khuyết điểm này mà Thúy Sơn chôn chặt mối tương tư, dù đã trao thân cho Nhương Thư.

Gã nhớ đến ba bộ ngực đầy đặn, kiêu hãnh của mấy ả họ Điền mà lòng tủi thân, vai gầy run bần bật. Và cảm giác mãnh liệt của những trận ân ái mê muội dưới đáy vực hiện về làm da thịt Thúy Sơn xao xuyến. Gã khát khao được kề cận Nhương Thư ngay lúc này, dâng hiến cho chàng và nhận lấy khoái cảm ngút ngàn. Có tiếng chân người nện trên hành lang phía trước. Thúy Sơn sợ hãi, mặc nhanh áo ngủ rồi lên giường.

Phần Nhương Thư, được sự khuyến khích của nghĩa đệ, mạnh dạn đến gõ cửa phòng Mã Lan. Điền nhị tiểu thư mở cửa, e lệ mời chàng vào. Tất nhiên chẳng thể lôi nhau lên giường ngay, nàng ngượng ngùng rót trà, cùng chàng nhấp nháp.

Mã Lan hiền lành, nhu mì nhất nhà và mang nét đẹp não nùng, quyến rũ. Ngọc Trâm rực rỡ nhưng nhiều nam tính nên kém phần yểu điệu.

Đêm nay, Mã Lan xõa tóc, mặc áo ngủ bằng the mỏng màu hồng, yếm đào bó sát đôi gò bồng đảo nở nang. Nàng thẹn thùng cúi mặt vì biết tình lang đang nhìn mình đắm đuối. Nhương Thư vốn vụng về trong ngôn ngữ, chẳng biết mở lời thế nào, ngồi im một lúc rồi nói :

- Thôi ta về phòng đây!

Mã Lan mỉm cười, rủa thầm đức ông chồng khờ khạo, chủ động rời ghế, ngồi lên lòng chàng mà thủ thỉ :

- Ai cho phép tướng công về?

Mùi hương da thịt cộng với chút tinh dầu hoa lan khiến Nhương Thư ngây ngất, cúi xuống hôn lên má nàng, rồi bồng lên, đặt xuống giường. Xiêm áo rơi xuống sàn, và thân hình tuyệt đẹp của Mã Lan làm bỏng mắt Nhương Thư. Chàng đã có kinh nghiệm với Bạch Ngọc Tiên Tử, nên thủ pháp thuần thục, điêu luyện, khiến da thịt ngọc ngà kia run rẩy, gọi mời.

Nhương Thư nhẹ nhàng đưa ái thê lên đỉnh vu sơn, bồng bềnh mãi trên sóng tình dạt dào, nhấp nhô. Mã Lan rên xiết đến hiệp thứ ba thì đình chiến, dù Nhương Thư vẫn còn háo hức. Chàng ngượng ngùng biện bạch :

- Ta vốn chẳng phải kẻ háo sắc, nhưng từ ngày ăn mấy chục con Hắc ngư dưới đáy vực, không còn dữ được cái tâm thanh tịnh nữa! Mong Lan muội lượng thứ!

Mã Lan đưa bàn tay búp mãng bịt miệng chàng, tình tứ nói :

- Tướng công nồng nhiệt, dũng mãnh là đại phúc cho bọn thê thiếp, nào có gì đáng trách. Chàng có đến ba vợ chứ nào phải một! Sao chàng không sang an ủi Tam muội và Tứ muội?

Nhương Thư hổ thẹn :

- Ta ngượng lắm!

Mã Lan hăng hái khoác áo ngủ, mặc y phục cho Nhương Thư, dẫn chàng sang gõ cửa phòng Bạch Cúc. Cửa vừa mở, nàng đã xô Nhương Thư vào rồi bỏ đi!

Hành động tốt hơn lời nói, Nhương Thư bồng ngay nữ nhân lên giường. Té ra Bạch Cúc nồng nàn hơn hẳn Mã Lan, lúc đầu còn ngượng ngùng nhưng sau đó chủ động vuốt ve Nhương Thư, đem lại nhiều lạc thú. Tính nàng thẳng thắn, cương trực nên không rụt rè như chị gái.

Nhương Thư cười hỏi :

- Nàng học ở đâu ra những trò tuyệt diệu này?

Bạch Cúc đỏ mặt, hờn dỗi đáp :

- Thiếp chỉ muốn chứng minh cho tướng công biết vợ nhà cũng biết chiều chuộng chồng chẳng kém đám kỹ nữ lầu xanh. Tình thư bán khắp nơi, ai mà chẳng học được!

Nhương Thư hài lòng, vuốt ve bờ mông tròn trịa, sãn chắc của nàng nữ hiệp và nói :

- Có được những người vợ như các nàng, ta thề suốt đời không bước chân vào chốn ây!

Bạch Cúc hân hoan trườn lên hôn chàng rồi hỏi :

- Tướng công còn đủ sức sang phòng tứ muội không?
Nhương Thư nheo mắt gật đầu! Gần sáng chàng mới rời Uyển Xuân, sảng khoái trở về phòng, ngủ vùi đến giờ Thân thì bị đánh thức để ãn sáng rồi lên đường.

Sáng ngày sau, có hai cỗ xe song mã mui kín, được hộ tống bởi chín kỵ sĩ đội nón rộng vành, vào thành Lạc Dương. Đoàn nhân mã đi thẳng vào phòng sau cùng của Hà Nam đệ nhất lữ điếm, nơi dành cho những quý khách ưa thích yên tĩnh và bí mật. Khu vực này được ngãn cách với phần còn lại bằng một hàng rào Đông Thanh rậm rạp, luôn xanh tốt.

Chủ nhân lữ điếm đã được báo trước nên chờ sẵn ở đây để đón chào khách. Hai cỗ xe mở cửa, mỗi cỗ ba người trước nam sau nữ gồm ba ả họ Điền và Vô Ưu Cái, Bất Trí thư sinh, Dạ Quân Tử!

Điếm chủ kính cẩn vòng tay thi lễ :

- Tiểu đệ mừng Hầu lão ca giá lâm!

Lão điếm chủ thấp bé ấy có tên là Phàm Nghĩa Thống, bái đệ của Bang chủ Cái bang. Một nửa vốn liếng của cơ sở kinh doanh này cũng là của Cái bang, tất nhiên, người ngoài chẳng phép biết! Hầu Mộ Thiên giới thiệu bọn Nhương Thư với họ Phàm. Chào hỏi xong, Phàm lão đưa mọi người đến phòng.

Tô Châu ngũ tặc tròn mắt xuýt xoa trước những cãn phòng trang trí hoa lệ, sạch sẽ đến mức không còn một hạt bụi. Khu phòng trọ thượng hạng này có cả sảnh ãn và tiếp khách riêng, hoàn toàn biệt lập. Cơm nước sẽ được bưng từ nhà bếp của lữ điếm xuống! Còn khung cảnh thì tuyệt đẹp vì chung quanh vườn hoa nhỏ ngạt ngào hương sắc của những loài hoa nở theo mùa!

Tường sau có cánh cửa, thông với một căn nhà bên ngoài. Do vậy, việc xuất nhập hoàn toàn được giữ kín! Bọn Khất Cái đã đi bằng lối ấy vào liên lạc, báo cáo với Bang chủ những tin tức về Phân đàn bí mật của Tứ Phạn Thiên cung ở Lạc Dương. Chiều xuống mọi người quây quần bên bàn tiệc thảo luận việc tấn công sào huyệt đối phương, tiêu diệt Trác Thiên Lộc!

Họ đã biết ổ cướp kia được ngụy trang thành một xưởng làm nhang trên phố Bạch Mã. Con đường này có chùa Bạch Mã tự, ngôi chùa cổ kính nhất Trung Hoa, nên mang tên ấy!

Vô Ưu Cái trải sơ đồ vị trí nhà cửa của xưởng nhang lên bàn, để Bất Trí thư sinh hoạch định chiến thuật tấn công!

Vô Hình Chi độc của Thiên cung cực kỳ lợi hại nên trừ Nhương Thư ra, những người còn lại sẽ phải bịt mặt bằng ba lớp, gồm hai lớp vải và một lớp bông tẩm thuốc ở giữa. Không phải là thuốc giải độc mà là một loại bột than có tác dụng hấp thụ, ngãn cản phấn độc đi vào phổi. Tuy hơi khó chịu nhưng đây là biện pháp hữu hiệu nhất!

Thủ hạ Trác Thiên Lộc đông đến bốn mươi tên nên phe Nhương Thư phải tận dụng hết quân số. Nghĩa là cả ba nữ nhân họ Điền cũng được tham gia. Họ vô cùng hân hoan vì đây là lần đầu tiên được thi thố sở học sau bao năm rèn luyện Tích Lịch kiếm pháp!

Tổng đàn Cái bang cũng nằm ở Lạc Dương nên các cao thủ hạng nhất của bang hội này sẽ khép kín vòng ngoài, tuyệt đối không để Trác Thiên Lộc đào thoát!

Đầu canh ba thì xưởng nhang Hương Ký đã bị vây chặt. Nhương Thư, Nghi Tuyệt, Thúy Sơn, Tào Ưng nhảy qua tường rào tiến vào tòa nhà hai tầng ở giữa vườn hoa.

Thanh kiếm trong tay Nhương Thư không có sọc đỏ nhưng lại chính là thanh Huyết kiếm. Nó đã rơi theo chàng xuống đáy vực, bị tuyết lở chôn vùi, đến khi tuyết tan mới lộ ra!

Thiết Kình Ngư Tào Ưng đã mài sạch hai đường chỉ máu trên bản kiếm để Nhượng Thư sử dụng. Tuy không sắc bén như thần binh thời Xuân Thu, song Huyết kiếm nước thép rất tốt. Hồ Linh Cấu là chuyên gia giết người nên vũ khí chẳng thể nào dở được!

Bọn Nhương Thư đều mặc Hắc Y, mặt bịt kín, kể cả đầu tóc. Đêm nay sẽ không một tên đệ tử Thiên cung nào được quyền sống sót để tiết lộ việc Nhương Thư và Thúy Sơn hồi sinh! Phần phía trước cơ ngơi này là ba dãy nhà dài vây lấy sân gạch, xây theo lối Tam Hợp Thiện, chính là nơi sản xuất nhang, và cũng là chỗ ngủ của bọn đệ tử Thiên cung. Còn tòa lâu các hai tầng ở phía sau là nơi cư trú của Phân đàn chủ Trác Thiên Lộc và mấy ả tỳ thiếp.

Họ Trác phá giới chẳng phải để tiếp tục ãn chay mà là để tận hưởng lạc thú trần gian.

Sự có mặt của lão trong hàng ngũ Tứ Phạn Thiên cung đã chứng tỏ Độc Biển Thước cũng thu phục xong Báo Ứng hội đất Thiểm Tây. Sự bành trướng thần tốc của Tả Nho Quan đã khiến Vô Ưu Cái vô cùng lo ngại!

Tuy Hầu Mộ Thiên mang danh Vô Ưu mà thực ra lại là người lao tâm khổ trí gánh vác chuyện võ lâm. Mặt lão luôn tươi cười nhưng trong lòng nặng trĩu ưu phiền. Khi có người thắc mắc về hai chữ Vô Ưu thì lão giải thích :

- Lão phu suốt đời hành sự thận trọng, đúng như câu “Cẩn tắc vô ưu” nên mới có danh hiệu ấy!

Trở lại với cuộc xâm nhập, ta sẽ thấy bọn Nhương Thư không đi chung mà cách nhau vài trượng, dàn hàng ngang tiến lên. Lý do là vì mé tường sau có bốn tên kiếm thủ canh giữ. Xuân về cây cối đâm chồi nảy lộc, cành lá xum xue, nên bọn Nhương Thư có thể nhờ những bụi cây, chậu hoa che chở mà áp sát mục tiêu.

Bởi không biết sào huyệt bị lộ nên việc canh phòng chẳng nghiêm mật, tinh thần cảnh giác cũng lõi lỏng. Đêm mùa xuân ở vùng Hoa Bắc rất lạnh, bốn gã kiếm thủ kia co ro trong áo choàng lông, đi qua đi lại những quãng ngắn cho ấm người.

Bọn Nhương Thư nhất tề xuất thủ, từ sau chỗ ẩn nấp nhảy xổ đến, đao kiếm tìm cần cổ nạn nhân mà chặt. Kẻ mất đầu thường chết lặng lẽ, thanh thản, khồng hề lên tiếng oán trách bao giờ! Bốn người lập tức áp sát đại Lâu, tung mình lên lan can lầu, chia nhau trấn giữ bốn mặt.

Tầng trên của tòa lâu các trổ cửa chính tứ phương, và khá nhiều cửa sổ. Dĩ nhiên, giờ đây tất cả đều khép kín, cài then cẩn thận. Phần trước là thư phòng, phần sau bố trí vài phòng ngủ và nhà vệ sinh. Trong lúc ấy, lực lượng do Vô Ưu Cái thống lĩnh đã tràn ngập vườn hoa, phía sau đại Lâu, chỉ chờ động tĩnh của bọn Nhương Thư là khởi sự. Nhưng Nhương Thư vẫn chưa ra tay, chàng nhìn qua khe cửa nhận ra kẻ thù đang ngồi ãn cháo đêm, bên cạnh có hai nữ nhân tuổi đôi mươi nhan sắc mặn mà, phong vận lẳng lơ, chỉ khoát hờ một mảnh áo ngủ bằng the mỏng. Cạnh đấy có chậu than hồng đỏ rực nên họ không sợ thịt da lạnh lẽo. Một ả tình tứ nói :

- Trác lão gia ãn nhanh lên đừng bỏ phí đêm xuân đáng giá ngàn vàng! Thủy Lão rất sủng ái lão gia nên mới ban chị em thiếp cho người đấy!

Trác Thiên Lộc húp nốt muỗng cháo cuối cùng, cười nhạt :

- Âu Dương Lãng đã chán chê hai nàng nên mới nhường cho ta, nào có tốt lành gì! Chẳng qua y muốn học Phật Đăng kiếm pháp nên mới trọng dụng ta đấy thôi. Thần Quang chưởng pháp tuy lợi hại nhưng chắc gì hơn được kiếm pháp thượng thừa của Phật môn? Nếu công lực lão phu được tròn hoa giáp thì ngay cả lão Tả Nho Quan kia cũng chẳng đáng sợ.

Hai nữ nhân không hề giận, tò mò hỏi :

- Thực thế ý? Sao giang hồ vẫn truyền tụng Thần Quang chân nhân lợi hại hơn Phật Đăng Thượng Nhân!

Trác Thiên Lộc lộ vẻ đắc ý :

- Chẳng qua tiên sư là người khiêm tốn, chưa bao giờ để lộ bản lãnh chân chính của mình. Thực ra, với công lực tròn hoa giáp thì luyện Nhiên Đăng thần công có thể tạo ra luồng kiếm khí nơi mũi kiếm, thừa sức xé tan chưởng kình của Thần Quang. Nay Tần Nhương Thư đã chết, lão phu là người duy nhất sở đắc Phật học của Phật Đăng Thượng Nhân, nên Thanh Linh Thủy Lão Âu Dương Lăng mới hết lòng o bế! Gã là người có dã tâm lớn, chẳng chịu làm nô lệ cho Độc Biển Thước, trước sau gì cũng phản lại. Do vậy, gã rất cần lão phu!

Ả thứ hai lên tiếng :

- Thế Trác lão gia đã truyền tuyệt học cho Cung chủ chưa?

Thiên Lộc cười dâm đãng :

- Chưa! Lão phu ra điều kiện rằng Tứ Phạn Thiên cung phải bắt được ba ả họ Điền, giao cho lão phu mà đổi lấy võ công! Năm xưa lão phu dâm sát vợ của Tần Tử Chính, giờ đến lượt con dâu của lão ta, thế mới thỏa lòng thù hận!

Nhương Thư chưa nổi giận mà bên kia Hoàng Nghi Tuyệt và Tào Ưng đã đạp bung cửa xông vào.

Dĩ nhiên hai gã Hoàng, Tào tấn công liền, một đao một kiếm chụp lấy mục tiêu, Trác Thiên Lộc phản ứng cực kỳ thần tốc, vung chân hất chiếc bàn cản đường Tào Ưng, tay thì xô một ả tỳ thiếp vào lưỡi đao của Nghi Tuyệt, sau đó lão lướt nhanh về hậu sảnh. Nhưng Thúy Sơn đã phá cửa sau vào đến nơi múa kiếm uy hiếp. Trác Thiên Lộc nghe kiếm kình vo vo không dám dùng nhục chưởng tiếp chiêu, đề khí bốc lên cao, định phá ngói đào tẩu. Song Nhương Thư đã có mặt, bay vút theo, xuất chiêu “Diệm Sơn Phún Hỏa”, trường kiếm hóa thành chiếc tán lung linh ngàn đốm lửa, chụp lấy thân dưới họ Trác. Lão ác tặc chưa kịp chạm nóc thì nghe hai chân đau đớn khủng khiếp. Lão rú lên thảm khốc, rơi xuống sàn lầu, ngơ ngác nhìn đôi chân cụt đến đầu gối. Nhươn Thư lột nhanh mặt nạ, lạnh lùng nói :

- Trác Thiên Lộc! Lão nhận ra ta chứ?

Họ Trác kinh hoàng như gặp quỷ, lắp bắp nói :

- Ngươi... chết rồi cơ mà?

Nhương Thư gật đầu và bất ngờ vung kiếm đâm thủng tim kẻ thù. Nghĩ tình đồng môn, Nhương Thư đã giúp lão chết êm thắm, không kéo dài cảnh đau đớn.

Lúc này, bọn Vô Ưu Cái ở dưới đang ra sức tàn sát bọn đệ tử Thiên cung, tiếng rên la,quát tháo vang trời. Nhương Thư vội đốc thúc ba người kia xuống đất trợ chiến. Phần chàng lục soát thi thể và phòng ngủ Trác Thiên Lộc. Chàng sợ lão viết lại khẩu quyết Nhiên Đăng tâm pháp và Phật Đăng kiếm pháp.

Quả nhiên, khi phá tủ gỗ trong ngọa phòng, chàng tìm thấy một quyển sách chép tay, tựa là Phật Đăng bí kíp. Sau khi xem sơ qua, chàng bỏ vào ngực áo, tiện tay sách luôn tay nải nhỏ cùng chỗ vì chẳng có thời gian mở xem.

Hai ả tỳ thiếp đã bị Nghi Tuyệt và Tào Ưng giết chết, chẳng còn ai làm nhân chứng nữa. Nhương Thư yên tâm buộc lại khãn che mặt, tung mình xuống tham gia cuộc chiến! Chàng vừa ra đòn vừa quan sát trận địa, lo ngại cho ba ái thê. Ba con cọp cái này chẳng hề có chút đỉnh kinh nghiệm giao đấu, e rằng sẽ sơ xuất. Song chỉ lát sau chàng nhận ra kiếm pháp của họ rất lợi hại, chẳng thua kém chị cả là Hổ Hồng Nhan.

Thì ra, dẫu là tỷ muội, các nàng cũng có dạ ganh đua, âm thầm khổ luyện. Ngọc Trâm thường xuất trang đến các cơ sở kinh doanh của nhà họ Điền ở Sơn Đông và các phủ lân cận, va chạm nhiều nên nổi danh. Còn ba cô em lo việc trong nhà, lại có dư thời gian để luyện tập. Nghĩ là nếu có dịp chị em đấu đá thì chưa chắc mèo nào ãn mỉu nào!

Nhương Thư an tâm hơn khi thấy Tào Ưng, Nghi Tuyệt và Thúy Sơn luôn theo sát ba nàng để đề phòng bất trắc.

Chàng mỉm cười hài lòng vì bản lãnh Tô Châu ngũ tặc cũng khá cao cường. Năm gã họ Đồng thi triển một kiếm pháp là lạ, có những đòn đánh bằng cả hai tay tương tự đao pháp. Lợi hại nhất chính là Đồng lão đại, rồi nhị vì họ thấp lùn, thi thố được những chiêu độc đáo ôm kiếm lãn vào hạ bàn đối phương!

Có thể pho kiếm của nhà họ Đồng liên quan đến Địa Đường đao pháp đã thất truyền. Nhờ lực lượng hùng mạnh và yêu tố bất ngờ nên phe Nhương Thư đã kết liễu trận chiến rất nhanh chóng, giết sạch bốn chục gã môn đồ Tứ Phạn Thiên cung. Họ rút đi trước khi quan quân trong thành kéo đến. Do không có khói lửa nên dân chung quanh chẳng tội gì báo cho mệt xác, bởi thế nha môn cũng châm chạp làm theo!

Về đến lữ điếm, toàn khách dạ hành lãn ra ngủ vùi, cuối giờ Thìn mói mò dậy. Sau bữa điểm tâm, Nhương Thư trở lại phòng, mở tay nải ra xem. Chàng hổ thẹn khi thấy xấp ngân phiếu trị giá đến bốn ngàn lượng vàng, và một số châu báu khá lớn.

Nhương Thư quen giữ giới nên không thể chiếm đoạt tài sản của người khác, dẫu đó là kẻ thù. Chàng đang phân vân thì Thúy Sơn bước vào. Nghe chàng kể lể nỗi lòng, gã cười bảo :

- Đại ca đã không giới sát thì còn lưu ý gì đến bốn giới kia nữa?

Nhương Thư cười buồn :

- Giết người là vì bất khả kháng, còn trộm cắp thì không thể biện minh được!

Thúy Sơn nghiêm giọng :

- Trác Thiên Lộc rời Ngũ Đài sơn với vài bộ tãng phục mà bây giờ sở hữu hàng vạn lượng vàng, vậy thì đây chính là của phi nghĩa do lão cướp đoạt của ai đó! Đại ca vô tình lấy được, cứ đem bố thí cho kẻ bần cùng là xong!

Và gã tủm tỉm cười nói tiếp :

- Kẻ nghèo nhất chính là đại ca đấy! Nhà cửa không có, vợ lại đông, sau này lấy gì mà nuôi con?

Nhương Thư phì cười :

- Ngươi đúng là kẻ xảo quyệt, mồm mép trơn như bôi mỡ. Thực ra Sơn đệ còn nghèo hơn ta vì đến vợ cũng chẳng có! Bởi vậy, ta tặng hết cho ngươi là phải đạo.

Nói xong, chàng nhét tay nải vào tay gã! Thúy Sơn cười bảo :

- Đại ca định trút hết tội lỗi lên đầu tiểu đệ đấy sao? Thôi được, xem như tiểu đệ giữ giùm!

Gã thản nhiên mang số của cải ấy về phòng!

Cuối tháng hai, bọn Nhương Thư đã có mặt ở huyện thành Lâm Đồng, dưới chân núi Ly Sơn!

Ngọn núi xinh đẹp này cách thành Trường An hai chục dặm về hướng Đông nam. Ly Sơn và Phong Hỏa đài là hai thắng cảnh nổi tiếng của đất Lâm Đồng. Nhưng do cội rễ trong lịch sử nên được xem là thuộc về đất Trường An.

Phong Hỏa đài được nhà Chu xây dựng để đốt lửa triệu tập chư hầu đến cứu khi có giặc đến đánh. Tại nơi đây, U Vương đã vì Bao Tự mà phóng hỏa gọi tiếp viện, để mỹ nhân cười vào những gương mặt ngơ ngác vì bị lừa! Dĩ nhiên sau này U Vương đã mất nước!

Còn Ly Sơn nổi tiếng nhờ người đẹp thứ hai Dương Quý Phi! Năm bảy trăm bốn mươi bảy, Đường Huyền Tông Lý Long Cơ đã cho xây Hoa Thanh cung ở Ly Sơn để cùng Dương Quý Phi đùa giỡn trong làn nước ấm áp của Hoa Thanh Trì. Ao nước này thông với dòng suối nước nóng lừng danh của Ly Sơn.

Bọn Nhương Thư đến đây chẳng phải để du ngoạn. Trước tiên, họ tìm đến huyện đường Lâm Đồng, xỉa ra mười lượng vàng để bọn thư lại cung cấp tin tức về nhà họ Tần. Quả đúng là trong sổ có ghi nhận việc Tần gia sinh đôi, người anh là Tần Tử Trung, em là Tần Tử Chính. Vị trí của Tần gia trang nằm trong khu rừng mai, trên sườn Đông bắc núi Ly Sơn.

Đoàn người mừng rỡ đi đến đấy, mủi lòng khi thấy nhà cửa điêu tàn, cỏ cây mọc đầy. Họ dùng đao kiếm chặt phá các bụi rậm, cuối cùng tìm thấy ngôi mộ đã sụp lở, bia chỉ là mảnh gỗ đã mục nát gần hết, may mà còn sót lại một chữ Trung.

Sau khi thắp nhang, Bất Trí thư sinh ra lệnh quật mộ. Do quan tài đóng vội bằng những mảnh ván tạp, không khít với nhau và chẳng được sơn phết, hoặc trét nhựa cây, nên xương cốt tan gần hết, chỉ tóc và rãng còn nguyên vẹn. Ngoài ra, trong mộ còn một hũ sành nhỏ, miệng nắp được khằn cẩn thận.

Cao lão dùng đũa gắp hai hàm rãng bỏ vào túi lụa, bảo Nhương Thư mở hũ sành. Quả nhiên, trong hũ có một tấm bản đồ thuộc da dê thuộc. Bọn Nhương Thư xúm lại xem xét, ngạc nhiên khi thấy những nét vẽ trong biểu thị một dãy núi có bốn đỉnh, chắc chắn chẳng phải Ngũ Hành sơn.

Điều lạ thứ hai là dãy núi ấy nằm theo hương đông Tây, trong khi Thái Hằng sơn tức núi Ngũ Hành chạy từ Bắc xuống Nam. Có một chấm nhỏ trên lưng chừng ngọn núi thứ hai, tính từ Đông sang. Phần dưới họa đồ ghi bốn con số: Tam, Thất,Tứ, Cửu và dọc mé hữu là hai câu thơ :

Thần Quang phong cốt lăng tăng thậm

Thử địa trùy tri hữu địa thiên

Dịch thơ :

Thần Quang cốt cách ngang tàng quá

Đất ấy ai bay có địa tiên!

Bất Trí thư sinh nhăn vầng trán rộng, suy nghĩ rất lâu mới phân tích :

- Hai câu thơ có thể hiểu rằng Thần Quang chân nhân đã thành tiên, tức tọa hóa ở dãy núi vẽ trong bản đồ. Tuy nhiên, chúng ta lại biết rõ Chân nhân chết và để lại tuyêt học trong sơn cốc dưới chân núi Mộc Sơn! Vậy thì, ý nghĩa câu thơ đã đổi, tức ám chỉ một nhân vật khác, cùng thời với Thần Quang chân nhân. Người này có võ học cao hơn Chân nhân nhưng không hề xuất thế dương danh, khi sắp chết, ông ta mới vẽ lại họa đồ, trao tặng tuyệt học cho kẻ hậu sinh hữu duyên!

Mọi người đều khâm phục kiến giải cao minh, chí lư của Cao Trường Toản, song Vô Ưu Cái lại cau mày :

- Lão phu thuộc làu sử sách võ lâm mà không nhớ ai là người có thể giỏi hơn Thần Quang chân nhân! Quách lão đệ có biết không?

Dạ Quân tử cười ruồi :

- Bang chủ và Cao lão không biết thì làm sao lão phu biết được?

Bỗng Đồng Tam nói với Đồng Nhị :

- Nhị ca có nhớ câu chuyện mà nội tổ thường kể cho chúng ta nghe hay không?

Đồng Nhị thấy em nháy mắt, ra hiệu, liền hớn hở đáp :

- Nhớ chứ! Ông nội kể rằng họ Đồng nhà ta đã từng đánh bại Thần Quang chân nhân Công Tôn Khuê, nhưng vì khiêm tốn nên chẳng nói ra!

Đồng Đại phụ họa :

- Phải đây! Cụ cố nhà ta văn võ toàn tài, làm đến chức Ngự sử.

Bọn Nhương Thư biết chúng khoác lác vì cho rằng chẳng ai kiểm chứng được, liền tủm tỉm cười. Điền Uyển Xuân tinh quái hỏi :

- Thế lệnh tổ làm quan vào thời nào, Đường hay Hán?

Đồng Nhị đắc ý đáp :

- Tất nhiên là đời Đường rồi! Nghe nói gia Tổ cũng chính là người dẹp phản loạn An Lộc Sơn đấy!

Đến nước này thì chẳng còn ai chịu được nữa, ôm bụng cười sặc sụa, Quách Tàn Bôi mắng ngay :

- Nói khoác cũng phải có căn, ngu ngốc như anh em ngươi mà cũng học đòi nói láo hay sao? Từ thời Đường Huyền Tông đến nay đã bảy trăm năm, còn Thần Quang chân nhân mới chết độ sáu chục năm thôi!

Đồng Đại cười hì hì :

- Bọn tiểu đệ nhớ lộn vị cao tăng tổ khảo mấy chục đời! Còn ông cố thì quả đúng là người cùng thời với Công Tôn Khuê!

Uyển Xuân tức ói máu, hỏi với giọng mỉa mai :

- Thế lệnh tổ tướng mạo giống ai trong năm người các ngươi?

Đỗng Ngũ vỗ ngực :

- Tất nhiên gia tổ phụ cao lớn, oai phong như thuộc hạ chứ đâu thể nào lùn xủn được!

Đồng Đại bị chạm tự ái, nhảy đổng lên chửi :

- Mả cha ngươi! Lùn thì có gì xấu! Ngươi cao mà ốm như cây tre miễu, oai phong với ai?

Nhương Thư bỗng vỗ đùi nói lớn :

- Tại hạ nhớ ra rồi!

Thấy người chung quanh giật mình, chàng mỉm cười hạ giọng :

- Năm mười hai tuổi, tại hạ từng nghe tiên sư kể về Thần Quang chân nhân, và người nhận xét rằng Công Tôn tiền bối còn kém một vị phong trần dị nhân là Sấu Tiên Vương Hàn Lân! Họ Vương là một đạo sĩ, người gầy như que củi, từng dùng một thanh kiếm tre đả bại Thần Quang! Chính vì thế mà Công Tôn Khuê qui ẩn, lo việc tu tiên, không màng đến danh lợi nữa!

Bất Trí thư sinh gật gù :

- Sấu Tiên thì lão phu cũng nghe danh, nhưng không ngờ ông ta lại giỏi hơn Thần Quang chân nhân!

Năm gã họ Đồng bị lật tẩy, hổ thẹn đứng lên, giả đò siêng năng lấp lại lỗ huyệt!

Tào Ưng mừng rỡ nói :

- Hay lắm! Nhương Thư mà học được vài chiêu của Sấu Tiên thì đâu còn phải sợ Độc Biển Thước nữa?

Vô Ưu Cái thở dài :

- Trung Hoa có đến hơn trăm dãy núi bốn đỉnh, biết dãy nào mà tìm?

Nhương Thư vốn tôn sùng sư phụ cho rằng Phật Đăng kiếm pháp là đệ nhất, không ai hơn được, cho nên chẳng tha thiết với tuyệt học của Sấu Tiên. Chàng nói qua chuyện khác :

- Hàm rãng trên của người chết có hai chiếc rãng khểnh, khác với tiên phụ. Nay chỉ cần xác nhận Tần Tử Chính hay Tần Tử Trung có rãng khểnh là sự việc sẽ sáng tỏ!

Mọi người tán thành, xuống núi bủa đi hỏi thăm, đến chiều thì đã xác định được lai lịch của người chết. Tất cả những người cư trú lâu năm ở Ly Sơn, và quen biết Tần Tử Trung đều khẳng định ông có hàm rãng rất đều và đẹp, trong khi Tử Chính đúng là có hai chiếc rãng khểnh hàm trên!

Hôm sau, bọn Nhương Thư tiến hành việc xây mộ cho Tử Chính và nhờ nha môn lập vãn án về việc này! Nhương Thư được cấp thẻ đinh mới, tên cha là Tần Tử Trung! Họ lưu lại Lâm đồng ba ngày, thường xuyên có mặt ở Ly Sơn để ngoạn cảnh và trông coi việc xây mộ!

Trong thời gian này, Nhương Thư đã gặp một bằng hữu của cha mình. Hà lão gia cười bảo rằng :

- Tử Trung văn võ toàn tài, từ thuở thanh thiếu đã ngưỡng mộ vị danh tướng Điền Nhương Thư của nước Tề thời Chiến Quốc, nên đã đặt tên cho ngươi cái tên ấy!

Uyển Xuân ranh mãnh :

- Thật là may mắn! Nêu Tần lão gia ngưỡng mộ Tây Thi hoặc Bao Tự thì nguy to!

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau