THẦN CHIẾN TRIỀU TRẦN

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thần chiến triều trần - Chương 11 - Chương 15

Quyển 1 - Chương 11: Bạc Nương

- Là… là em sao? - Vi Mai ngạc nhiên kêu lên.

Duật quay mình lại theo hướng nhìn của Mai, phát hiện ra một thân hình mảnh khảnh đứng thập thò sau gốc cây.

- Mèo... mèo già chạy mất rồi! - Bạc Nương lắp bắp nói, ngôn ngữ nàng dùng là tiếng dưới xuôi chứ không phải tiếng của người Man.

Nhật Duật thấy cô gái nhỏ thì rất bất ngờ. Chàng liền gắng sức đứng dậy nhưng vì chân tay vẫn còn tê dại nên loạng choạng suýt ngã.

- C…ẩn thận. - Bạc Nương thấy vậy vội chạy lại đỡ.

- Ta không sao. - Nhật Duật bối rối gỡ tay Bạc Nương ra rồi cúi xuống đỡ Vi Mai vẫn đang nằm dưới đất.

- Mặc kệ tôi. - Đến lượt Mai gạt Duật ra. Nàng tuy bị thương khá nặng nhưng vẫn kiên quyết tự mình đứng lên.

Duật bị Mai đẩy ra thì thành lúng túng. Chàng đành quay sang hỏi Bạc Nương:

- Em không những không câm mà lại còn nói được cả tiếng dưới xuôi ư?

Bạc Nương nghe thế thì gật đầu. Duật lại hỏi tiếp:

- Vậy sao em cứ giả câm mãi thế?

- Ta… ta không muốn lừa… lừa các ngươi. Chỉ…ờ là từ khi mẹ… mẹ mất, bố luôn bắt ta phải giả câm. Chỉ đến tối bố… bố mới nói chuyện với ta. Khi nói chuyện bố cũng không dùng tiếng dân tộc, mà… mà toàn bắt ta học tiếng dưới xuôi. Lâu dần ta cũng không còn… nhớ tiếng dân tộc nữa. - Bạc Nương nói không thật sõi. Nàng vừa nói vừa nghĩ, nhiều chỗ lại còn ấp úng nhưng điệu bộ thì rất đáng yêu.

Nhật Duật gật gù, đưa tay xoa đầu nàng:

- Ta hiểu rồi. Bố em luôn lo sợ dân bản giết em để nhổ cỏ tận gốc nên mới bắt em giả câm, rồi lại còn dạy em tiếng dưới xuôi. Chắc ông dự định khi thuận lợi bỏ trốn xuống đồng bằng, sống lẫn với người Việt.

- Nhổ… cỏ tận gốc là gì, ta không biết. - Bạc Nương nói xong lè lưỡi ra trêu Nhật Duật. - Sao… sao ngươi lại xoa đầu ta? Ngươi có phải bố đâu?

Nhật Duật cười:

- Không cứ là bố mới có thể xoa đầu. Ta thấy em là cô gái ngoan nên mới xoa đầu thôi.

Vi Mai nghe thế thì phản đối:

- Cô ta mà ngoan cái gì?

Đoạn nàng quay sang Bạc Nương nói:

- Ta hỏi em đã tỉnh lại từ khi nào mà vẫn giả vờ mê man?

Bạc Nương nở nụ cười bẽn lẽn:

- Tại… tại vì ta nằm im, các ngươi… các ngươi rất tốt. Ta ít… ít được tốt như vậy. Nên thích. Ta cũng… cũng chỉ giả vờ mới đây thôi.

Nghe nàng ta nói vậy, Nhật Duật chợt cảm thấy xót xa. Bạc Nương dù sao vẫn chỉ là một cô bé, không những thiếu tình yêu của mẹ từ sớm mà còn phải sống trong sự thù địch của mọi người xung quanh. Nàng lại luôn phải giả vờ tật nguyền và ngay cả bố cũng không dám thể hiện tình yêu thương đối với nàng một cách trọn vẹn.

- Mà bố đâu? - Bạc Nương tròn mắt hỏi.

Nhật Duật nghe vậy thì đưa mắt nhìn Vi Mai khó xử. Lát sau, chàng mới trả lời:

- Bố vì bảo vệ cho em nên kiệt sức mà chết rồi.

Việc Bạc Luông bị hổ vồ, Nhật Duật nghĩ không nên nói cho cô gái biết. Bạc Nương nghe thế thì khóc òa lên:

- Bố… sao bố chết… ta… làm sao?

Nhật Duật vội vàng dỗ dành cô:

- Không sao đâu, bố em tuy đã mất nhưng từ giờ em có thể đi với ta. Ta sẽ nhận em làm em gái.

Bạc Nương nghe thế thì gục đầu vào ngực Nhật Duật, tiếp tục khóc lóc ầm ĩ. Một lúc sau, Bạc Nương thôi khóc, ngẩng đầu nhìn lên. Mặt nàng đọng lại các giọt nước mắt như sương sớm trên lá sen, mang một vẻ đẹp tinh khiết vô cùng.

- Em gái… em gái là gì?

- Em gái là người được ta luôn quan tâm chăm sóc.

Bạc Nương nghe thế liền ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu:

- Được… ta làm… em gái ngươi.

- Hay lắm, vậy ta sẽ đưa em về Đà Bắc sống chung.

- Không được. - Vi Mai bất ngờ chen ngang cuộc đối thoại của đôi anh em.

- Cô ta có thể là người cuối cùng của bản Phù Cọp, huyền lực cũng không tầm thường. Nhất định cô ta phải cùng tôi về phủ Cao Sơn. Mà những việc xảy ra vừa rồi có phải do em làm không? – Mai nói xong với Duật thì quay sang Bạc Nương hỏi.

- Ta thấy… các ngươi đi lâu... không về. Mới sốt ruột đi tìm. Ai ngờ các ngươi lại bị con mèo… mèo già đó bắt nạt. - Bạc Nương vừa nói vừa sụt sùi.

- Không phải bị bắt nạt, mà là suýt bị nó giết chết. Cả linh hồn cũng bị nó nuốt mất. - Nhắc lại chuyện vừa rồi, Mai rùng mình ớn lạnh. - Dù sao chúng ta cũng phải cám ơn em nhiều. Em có khả năng khống chế con mèo già đó đúng không? Nếu không nó đâu có dở điên dở khùng như vậy.

- Mèo già đó… tuy rất khôn nhưng cũng chỉ là… mèo thôi mà. Ta chỉ cố dạy nó chơi… ngoan thôi. - Bạc Nương nói xong thì nở nụ cười chúm chím. Nàng vừa khóc vừa cười, mặt trông đến là ngộ.

- Vậy Một Mắt cũng là do em dạy ư? - Giọng Vi Mai đột nhiên đanh lại.
- Một… Một Mắt là con nào. Ta… không hề biết.

- Chính là con mèo đã cứu em ý.

- Mèo… mèo chột đấy thuộc về Mây. Ta… không dậy nó được.

- Mây là ai? Em không định lừa bọn ta tiếp đấy chứ?

- Mây… Mây là bạn ta. Lúc nào cũng ở xung quanh chơi đùa với ta. Nhưng… nhưng mấy ngày nay Mây đi đâu mất rồi. - Bạc Nương đột nhiên lại òa khóc lớn.

- Ngoan nào, ngoan nào. - Nhật Duật thấy vậy liền vỗ về nàng an ủi. Bạc Nương gục đầu vào vai chàng khóc to hơn.

- Anh em các người tình cảm quá. - Vi Mai trông thấy thế thì nổi giận, đùng đùng bỏ đi.

- Mai! - Nhật Duật gọi với theo nhưng nàng đã đi mất dạng. Trong khi đó Bạc Nương vẫn gục đầu vào vai chàng khóc ác liệt khiến Nhật Duật không biết phải làm sao. Một lúc sau, cuối cùng Bạc Nương cũng nín.

- Ta… nhớ Mây quá. - Bạc Nương vẫn chưa thôi sụt sùi.

- Không sao, ta sẽ đi tìm Mây cho em. Thế Mây là trai hay gái, già hay trẻ?

Bạc Nương lắc đầu:

- Ta…không biết. Chỉ biết Mây trắng lắm, lại vừa…êm vừa mềm nữa. Lúc nào Mây… cũng ở bên ta mà.

Nhật Duật cau mày:

- Sao lại trắng, rồi lại còn êm với mềm nữa? Thế chắc Mây là con gái hả?

Bạc Nương lại lắc đầu:

- Ta… đã bảo không biết rồi mà. Ta quen Mây từ lâu… lâu lắm rồi. Từ khi ta còn bé tí kia. Mây lúc nào cũng trắng, cũng mềm…mềm lắm.

Nhật Duật chợt nghĩ đến một điều, chàng thấy trong lòng chấn động. Phải chăng Mây chính là oan hồn của Ban Nương?

- Có phải… em nhờ Mây gọi Một Mắt về bản không?

- Không, ta trước giờ có biết Một...Mắt là gì đâu?

- Ý ta là mèo chột í. Có phải em nhờ Mây gọi mèo chột về bản không?

Trong mắt Bạc Nương chợt ánh lên tia tinh quái:

- Ta chả nhờ gì Mây cả. Ta chỉ kể lại chuyện… chuyện bọn trai trong bản ức hiếp ta. Mọi việc còn lại là do Mây đấy chứ.

Nhật Duật nghe thế thì sa sầm nét mặt:

- Như vậy việc giết chóc trong bản, em cũng có liên quan không ít đâu.

Bạc Nương nghe thế thì tỏ ra tức giận đỏ hồng cả mặt. Ngay cả lúc tức giận trông cô cũng rất đáng yêu.

- Tại bọn trai đó rất… không tốt. Khoảng nửa năm trở lại đây chúng luôn… luôn có ánh mắt lạ với ta. Lại có lần chúng vây ta lại rồi giở trò… xấu nữa, may mà ta chạy thoát. Với cả ta có làm gì bọn chúng đâu. Ta… chỉ kể lại với Mây thôi mà. - Mây có phải là một linh hồn không?

- Linh… linh hồn là gì ta không biết.

- Linh hồn là thứ tồn tại trong mỗi người, chi phối mọi suy nghĩ, hành động, cử chỉ của bọn họ. Vừa nãy thứ em dạy chính là linh hồn của mèo già.

Bạc Nương gật đầu:

- Đúng rồi, vậy Mây là… linh hồn. Chỉ có điều mọi người đều có một màu trắng nhỏ bên trong…thân thể, riêng Mây chỉ có mỗi màu trắng thôi mà không có thân thể. Còn con mèo già thì màu trắng của nó rất to. Có điều màu trắng đấy đơn giản, dễ dạy lắm.

- Em có thể dạy được cả Mây đúng không.

Bạc Nương lè lưỡi:

- Ta có dạy Mây đâu. Chỉ là ta bảo gì Mây đều làm ngay.

Nhật Duật tự nhiên thấy toàn thân nổi gai ốc. Theo lời Vi Mai nói thầy phục hổ chỉ có thể điều khiển linh hồn của hổ, nhưng dường như Bạc Nương còn có cả khả năng điều khiển linh hồn của người đã mất. Cô gái này ăn nói ngây ngô là do bị cấm trò chuyện với mọi người từ bé chứ thực ra tính tình nàng ta không hề đơn giản chút nào.

- Hay lắm, con nhãi kia. Hóa ra ngươi là kẻ dám vuốt râu hùm, đem ta ra làm trò đùa. - Trên không trung hiện ra một bóng đen thẫm, không ai khác chính là Hắc Hổ.

* * * * *

Hắc Hổ tính vốn rất gian xảo. Khi thấy không thể chống lại sự điều khiển bí ẩn, y liền giả vờ bỏ chạy. Sau khi chạy xa tới nơi an toàn, Hắc Hổ kiểm tra lại thân thể để thật chắc chắc không còn bị thuật điều khiển của đối phương khống chế. Sau đó y biến thành khói đen, vận lực dấu hết yêu khí, rón rén quay lại rình mò kẻ địch. Nếu luận về rình mồi thì trong các loài không loài nào vượt được hổ. Hắc Hổ lại là bậc thầy về rình rập của loài hổ. Quả thật nếu nói về tuyệt kỹ lén lút rình mò thì Hắc Hổ mà nhận làm thứ hai trong toàn loài hổ cũng chẳng có con nào dám tự xưng thứ nhất. Vì thế khi Hắc Hổ hóa khí quay trở lại, y nghe trọn cuộc trò chuyện giữa Nhật Duật và Bạc Nương mà hai người không hề hay biết.

- Các ngươi dám làm nhục ta. Tất cả đều phải chết! - Hắc Hổ gầm lớn đoạn bắn một chùm khí đen về phía hai người.

- Mèo già ngoan nào.

Bạc Nương tập trung tinh thần, cố gắng khống chế màu trắng trong người Hắc Hổ. Tuy thế Hắc Hổ lần này quay lại đã có chuẩn bị sẵn, y giấu sâu linh hồn dưới mấy tầng huyền lực. Bạc Nương tuy có năng lực kỳ diệu nhưng nàng làm sao có thể so sánh tài phép với con yêu tinh đã hóa Thần được. Lần trước nàng thành công là do Hắc Hổ đang tập trung nuốt linh hồn của Nhật Duật và Vi Mai nên không đề phòng.

- Cẩn thận! - Duật hét lớn rồi xô Bạc Nương sang một bên. Tiếng nổ lớn vang lên, đất cát bay tung tóe.

- Con nhãi ngươi chết với ta.

Hắc Hổ móng to vuốt nhọn chộp tới Bạc Nương. Bạc Nương nằm im dưới đất, không cách tự vệ, mắt ánh lên những tia hãi hùng. Đúng khi chiếc móng nhọn sắp xé xác người đẹp ra làm hai phần thì đột nhiên Hắc Hổ lại hóa vuốt thành tay, xách Bạc Nương bay bổng lên cao. Thì ra Hắc Hổ tuy cực kỳ căm phẫn Bạc Nương chỉ muốn phanh thây nàng ngay lập tức, nhưng đột nhiên y nghĩ ra một chuyện liền thay đổi quyết định. Hắc Hổ về bản chất là cực kỳ gian xảo chứ không hề lỗ mãng. Y đang định xé xác Bạc Nương thì nghĩ ra khả năng của nàng có thể giúp y khống chế một kẻ mà bản thân y luôn căm thù. Vì thế y mới chuyển sang bắt sống.

- Ha ha, lần này ta nổi lòng từ bi tha cho con nhóc. Có điều ngươi phải ngoan ngoãn nghe lời. - Hắc Hổ vừa cắp Bạc Nương trên tay, vừa buông lời đầy xảo quyệt.

- Thằng nhóc nhà ngươi chết đi. - Hắc Hổ nói xong liền phất tay phóng ra luồng khí đen tanh tưởi thẳng về phía Nhật Duật. Còn bản thân y mượn lực luồng khí bay lên cao.

Ánh sáng vàng ấm áp hiện lên. Tống Thiết Phật Châu vốn lúc trước bị Hắc Hổ vô hiệu hóa giờ đã khôi phục thần lực trở lại liền bay tới che chắn cho Nhật Duật, phát ra ánh sáng hóa giải hết đòn tấn công của Hắc Hổ.

Hắc Hổ sức lực không còn nhiều, huống hồ trong tay y đã có được hai thứ quan trọng là chiếc hộp chữ Long và Bạc Nương. Vì vậy tuy đòn thế bị hóa giải, Hắc Hổ chả buồn tấn công tiếp mà chỉ vác Bạc Nương bay đi mất.

* * * * *

- Có chuyện gì vậy? - Vi Mai hớt hải chạy lại.

Ánh sáng màu vàng đã tắt, tràng hạt đen bay về rơi vào lòng Nhật Duật. Chàng liền cất nó vào trong ngực áo.

- Hắc Hổ quay trở lại bắt Bạc Nương đi rồi.

- Mau đuổi theo y. - Vi Mai nói giọng cương quyết.

- Đuổi theo bằng cách nào?

Vi Mai nở nụ cười bí hiểm:

- Lúc nãy khi Hắc Hổ bị Bạc Nương dọa cho bỏ chạy, tôi có ngầm cài Rắn Bạc theo y. Rắn Bạc do một ít huyền khí đặc biệt của tôi tạo ra, khi bị cài trên người thì dù có là ma hay thần cũng không thể phát hiện. Đối phương di chuyển đến đâu, Rắn Bạc sẽ để lại dấu vết đến đó.

- Thảo nào lúc nãy bị Hắc Hổ lấy mất hộp báu mà nàng vẫn bình thản, hóa ra là đã có cách truy tìm.

- Chúng ta mau lên đường thôi kẻo mất dấu.

- Nhưng Hắc Hổ tài phép cao siêu thế, nàng lại đang bị thương, đuổi theo hắn liệu có nguy hiểm quá không?

- Chúng ta sẽ không đối đầu với hắn, chỉ bám theo rồi nhân lúc hắn sơ hở sẽ ra tay đoạt lại vật báu. Hơn nữa còn phải cứu Bạc Nương chứ, dù sao chúng ta vẫn nợ nàng ta ơn cứu mạng.

- Nàng nói đúng lắm. À nhưng còn Vi Ban, ta cũng nên chôn cất nàng ấy cho cẩn thận.

Nghe nhắc tới Vi Ban, Mai lắc đầu buồn bã:

- Tôi vừa dùng phép thuật lập tạm ngôi mộ bên bờ suối cho chị Ban rồi. Chúng tôi đã quyết định theo đuổi con đường thầy phép thì luôn chấp nhận có thể bỏ mạng bất kỳ lúc nào. Mà cứu người là quan trọng, ta mau đi thôi.

Nhật Duật gật đầu đồng ý. Hai người không nói thêm lời thừa, vội vã trở lại chỗ khu trại lấy tay nải hành lý rồi lên đường đuổi theo Hắc Hổ và Bạc Nương.

* * * * *

Quyển 1 - Chương 12: Ngã ba Trung Hà

Hai người trèo đèo lội suối, đi cả ngày lẫn đêm. Tuy Hắc Hổ tài phép cao cường nhưng vì cắp theo Bạc Nương nên y không thể bay quá nhanh. Khinh công của Vi Mai và Nhật Duật đều vào loại xuất chúng, họ lại nghỉ ngơi rất ít nên vẫn theo kịp Hắc Hổ. Nhật Duật dần dần nhận ra Rắn Bạc lưu lại dấu vết bằng các vệt sáng rải rác trên đường. Vệt sáng đó cứ theo hướng Đông mà tới, dẫn hai người ra khỏi đạo Đà Giang. Càng ngày vệt sáng càng rõ, cả hai thấy vui mừng vì sắp bắt kịp tên yêu quái.

Nhật Duật và Vi Mai đều là người từng trải. Duật được triều đình giao trọng trách trấn thủ đạo Đà Giang và đã có hơn hai năm ở trên vùng Tây Bắc. Mai thì khỏi nói, nàng vốn trưởng thành tại nơi miền ngược. Thế nhưng lần này vượt rừng vượt núi cả hai đều thấy lo lắng bất an, lúc nào cũng có cảm giác như yêu ma quỷ quái đang rình mò xung quanh.

Vất vả đã ba hôm, đến chiều hôm thứ tư Nhật Duật và Vi Mai bỗng nhiên nghe thấy tiếng sóng nước ầm ầm.

- Lẽ nào chúng ta đã đến bờ sông Thao?

Mai và Duật đều thấy ngạc nhiên. Tuy hành trình bất kể ngày đêm nhưng cả hai không thể ngờ tốc độ của mình mau đến vậy. Vượt qua đỉnh núi, hai người thấy dòng sông mềm mại, uốn lượn dưới chân. Khác với sông Đà nổi tiếng là con sông dữ tợn nhất Đại Việt, sông Thao tuy cũng chảy từ phía Bắc xuống nhưng lại hiền hòa, yên ả hơn nhiều. Con sông có chiều ngang hàng trăm trượng, trải dài hàng mấy chục dặm nằm kẹp giữa hai dãy núi lớn là dãy Hoàng Liên và dãy Con Voi. Duật và Mai đều không hề xa lạ gì với con sông này. Trông thấy dòng sông mơ màng chảy trước mặt, hai người có cảm giác như chợt thấy người bạn thân lâu ngày không gặp.

Vi Mai và Nhật Duật đi xuống bờ sông, dấu vết của Rắn Bạc vẫn còn thấy thấp thoáng ở những bãi lau sậy cao ngang thân người mọc rậm rạp ven bờ. Duật và Mai cứ theo bãi lau sậy mà đi. Trải qua thêm một ngày vất vả nữa, lau sậy thưa dần, dòng sông mở rộng ra rồi hòa vào dòng sông Đà đoạn chảy ngược từ phía Nam lên. Nơi giao nhau của hai con sông lớn tạo thành một hồ nước tự nhiên nhìn bao la không thấy bến bờ. Nơi đây chính là ngã ba Trung Hà.

Đứng trước ngã ba Trung Hà mênh mang, nước và trời như hòa làm một, Vi Mai và Nhật Duật đều cảm thấy trong lòng khoáng đạt. Tuy nhiên đến đây họ cũng chính thức mất dấu Rắn Bạc.

- Nơi này sóng nước mênh mông, đi thêm một đoạn đến ngã ba Bạch Hạc lại càng là nơi giao thông tụ hội. Thật không biết nên tìm ngả nào. - Nhật Duật cau mày, nói.

- Chúng ta sang bờ bên kia dòng sông Thao tìm thử xem. Nếu vẫn mất dấu thì có thể Hắc Hổ đã xuôi dòng Nhị Hà(1) về phía Thăng Long rồi. Tôi không nghĩ y dám đi về phía Nam, nơi địa phận núi Tản Viên. - Vi Mai lập luận.

Núi Tản Viên là nơi ở của đức thánh Tản Sơn Tinh. Hắc Hổ chỉ là một trong Ngũ Hổ Thần cai quản vùng núi Tây Bắc còn đức thánh Tản là thần linh cai quản toàn bộ các núi đồi lớn nhỏ của Đại Việt. Hắc Hổ gặp phải đức thánh cũng như quỷ đầu trâu, mặt ngựa gặp Diêm La Địa Đế vậy, y không quỳ xuống vái lạy mới là chuyện lạ. Huống hồ Hắc Hổ đã bỏ thiện theo ác, lại còn bắt Bạc Nương mang theo. Bất kể trong trường hợp nào y gặp người của núi Tản thì đều như yêu quái hoành hành bắt cóc dân lành. Hắc Hổ dù gan hùm chính hiệu cũng quyết không dám mon men vào địa phận Tản Viên.

- Được, vậy chúng ta cứ vượt ngã ba Trung Hà sang bờ bên kia của dòng sông Thao rồi tiếp tục tìm kiếm. - Nhật Duật quyết định, Vi Mai gật đầu đồng ý với chàng.

Hai người liền đi chặt cây kết bè. Nhưng chặt cây kết bè là việc làm rất tốn sức, Vi Mai bị thương chưa khỏi hẳn nên công việc tiến hành rất chậm. Đến khi hoàng hôn bắt đầu xuống, trời tối dần mà hai người vẫn chưa hoàn thành nổi chiếc bè. Mai và Duật đang bàn tính tạm thời nghỉ tay, hạ trại trú qua đêm ở ven sông thì chợt thấy có bóng thuyền chèo ở nơi mênh mang nước, cùng giọng thơ phú trầm trầm vang tới:

“ Vui thay! Ngã ba Trung Hà ; Vui thay! Ngã ba Trung Hà.

Dưới họp một dòng ; trên chia ba ngác.

Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào;

Lênh lang dễ biết sâu nông, nước đen pha nước bạc.

Nhớ xưa: Vũ trụ mơ màng, càn khôn xếch xác.

Vua Bàn cổ khai lò tạo hóa, hồng mông đà phơi phới hơi xuân ;

Họ Hữu Ngu khơi mạch sơn hà, cương giới vẫn rành rành dấu tạc.

Vậy có: Nắm đất Đoài phương ; cạnh giời Nam quốc.

Ba góc bờ chia vành vạnh, huyệt kim qui hẻm đá rộng hông hênh ; "(1)

Nhận ra đó là một con đò nhỏ, Mai giục Duật vẫy gọi. Chiêu Văn Vương nghi ngờ nghĩ thầm giữa vùng hoang vu sao tự dưng lại có người đi đưa đò, nhưng Mai liên tục giục giã khiến chàng phải miễn cưỡng làm theo. Sau một hồi hò hét, người lái đò đã thấy bọn họ. Con đò từ từ quay đầu rồi nhằm phía bờ sông tăng tốc lướt tới. Khi đò cập bờ, Nhật Duật đỡ Vi Mai bước lên.

- Phiền quý anh cho chúng tôi đi nhờ sang bên kia bờ sông Thao. – Nhật Duật hướng tới người lái đò nước da đen bóng, đội nón lá sùm sụp che kín mặt nói.

Người lái đò nghe thế không đáp chỉ gật đầu. Đoạn y nhảy xuống, đẩy đò ra khỏi bãi cạn ven sông, sau đó leo lại lên trên, dùng chèo đưa đò lướt nhanh ra vùng sóng nước. Đò chèo mát mái, thoáng chốc đã xa bờ, lướt đến đoạn giữa ngã ba sông. Xung quanh mênh mang, bốn bề đặc màu hoang sơ nguyên thủy, tịnh không thấy dấu vết của làng xóm nào. Sương khói nổi bảng lảng mặt sông, mọi người trên đò phóng tầm mắt ra xa thấy mờ ảo hiện ra dấu vết nơi hai con sông lớn yên ả nhập chung một nguồn. Và ở nơi đó, là cảnh vầng Thái Dương đỏ dịu treo lơ lửng ngang trời như một chiếc mâm đồng lớn. Sông nước bị ánh hoàng hôn nhuộm một màu đỏ quạnh, hợp cùng những cánh rừng rậm rạp âm u hai bên bờ khiến cho quang cảnh khoác lên người tấm áo thê lương khôn cùng. Ngắm nhìn cái cảnh buồn thảm đó, Nhật Duật lại nhớ tới đoạn phú vang lên lúc trước. Chàng thở dài rồi nói với người lái đò.

- “Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào. Lênh lang dễ biết sâu nông, nước đen pha nước bạc”. Hai câu này không chỉ mô tả dòng sông mà còn mô tả dòng đời. Những câu phú quý anh đọc lúc trước thật sâu sắc. Nhưng dường như bài phú vẫn còn đoạn sau nữa, có thể cảm phiền quý anh ngâm nốt cho tôi được mở rộng tầm mắt?

Người lái đò không ừ không hữ, chỉ húng hắng giọng rồi cất tiếng ngâm:

“ Hai bên cỏ mọc lâm dâm, hang anh vũ giữa dòng sâu huếch hoác.

Mọi thú mọi vui ; một chiều một khác.

Lơ thơ đầu ông Lã thả cần ;

Trần trụi mặc Chử đồng ngâm nước.Bè khách thương bạ bến, cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi;

Thuyền ngư phủ thuận dòng, giương nách khom lưng chèo tếch ngược.

Dùi điểm thùng thùng trống gọi, cửa tuần ty rộn rã khách chen vai;

Chày đâm văng vẳng chuông đưa, nền Phật tự lao xao người rén bước.

Khác gì: Những chốn Tiêu Tương ; đồ Tranh thủy mặc.

Ai hữu tình ngắm lại mà coi, kể làm cực nhân sinh chi khoái lạc. ”

- “Ai hữu tình ngắm lại mà coi, kể làm cực nhân sinh chi khoái lạc”. - Nhật Duật vừa lim dim mắt, vừa ngâm lại câu cuối. - Hay thật. Vừa trữ tình, vừa triết lý mà cũng rất phóng khoáng. Có điều chắc bài phú được làm đã lâu. Hiện giờ cảnh nơi đây đâu còn phồn thịnh như xưa.

Ngã ba Trung Hà dù không được như ngã ba Bạch Hạc là nơi linh thiêng của trời đất. Nhưng vào triều Lý, khu ngã ba Trung Hà này rất nhộn nhịp, chùa chiền, làng xóm vui vẻ, đông đúc xung quanh. Tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng niệm Phật luôn vang trên sông, không ngày nào là dứt. Tuy nhiên sau khi bị cuộc chiến tranh với quân Thát Đát lần thứ nhất tàn phá, chùa chiền, làng xóm dần chỉ còn tụ tập quanh khu ngã ba Bạch Hạc, ngã ba Trung Hà giờ chỉ còn lại cỏ lau và cây cối mọc um tùm.

- Chẳng hay quý anh tự sáng tác ra bài phú này hay học được của ai vậy? - Nhật Duật bình sinh rất thích kẻ sĩ có tài, nghe được bài phú hay chàng liền muốn tìm ra tác giả.

- Không phải ta. - Người lái đò lúc lắc đầu trông dáng vẻ rất buồn cười. Y chèo thêm hai cái nữa, chiếc đò đã ra giữa sông nước mênh mông, hơi khói mờ ảo dâng cao che kín hết bờ, bốn bề chỉ thấy sương mù và hơi nước.

- Bài này do một thư sinh trẻ, nhân dịp đến tham quan ngã ba Trung Hà tức cảnh sinh tình mà làm. - Người lái đò nói, giọng cao dần lên. Y khoát thêm cái nữa, đò lại lao đi vun vút.

- Chẳng hay quý tính đại danh thư sinh đó là gì. Qua nhiều năm liệu quý anh còn nhớ không? - Nhật Duật nghe vậy thì tiếp tục hỏi.

- Không biết, không nhớ. - Người lái đò lắc, không chỉ mỗi đầu mà cả thân mình.

- Vậy quý anh có nhớ sau khi tham quan ngã ba Trung Hà, người thư sinh đó đã đi về đâu?

- Không đi về đâu cả, bị chìm đò mà chết rồi.

- Chìm đò mà chết ư? - Nhật Duật nghe thế thận trọng hỏi. - Sao lại bị chìm đò vậy?

- DO TA LÀM. - Giọng người lái đò lên cao vút. Người y giật liên hồi, miệng há ngoác ra đỏ lựng như chậu máu, hai bên tai y mọc ra hai cái mang cá, khắp người nổi đầy vẩy. Bất chợt y buông mái chèo, lộn một vòng ra sau rơi đánh ùm xuống nước. Chiếc đò con tròng trành liên tục như sắp lật tới nơi. - Không xong rồi. - Nhật Duật và Vi Mai thấy vậy liền tái mặt.

Chợt nghe ầm ầm dưới sông, có thứ gì khổng lồ từ dưới sâu đáy nước trồi lên, xô con đò lật hẳn sang một bên.

- Gã thư sinh kia đã nằm trong bụng ta từ lâu rồi. Các ngươi mốn nghe thơ phú của y thì cùng chui vào đây mà thưởng thức.

Một thân mình khổng lồ ngoi lên mặt nước. Vẩy của cá tinh to như chiếc mâm bạc ánh lên trong ánh chiều trông cực kỳ ma mị. Sương khói đã tan hết nhưng sự tăm tối của đất trời hợp cùng những đợt sóng lớn biến tất cả thành một khối tù mù. Cá tinh quẫy đuôi như chiếc chầy khổng lồ đập ầm ầm xuống nước. Dòng sông đang yên ả bỗng sôi lên sùng sục.

* * * * *

Do chuẩn bị sẵn tâm lý đề phòng từ lúc mới lên đò nên khi con đò sắp lật, Nhật Duật không hoảng loạn. Chiêu Văn Vương chủ động nhảy xuống sông rồi lặn sâu để tránh bị va vào thân đò. Nhà Trần vốn xuất thân nghề chài lưới, ngay cả tên trong dòng họ Trần ban đầu cũng thường lấy tên các loài cá. Ông tổ của nhà Trần có tên Trần Lí tức là cá chép, tiếp nối Trần Lí là Trần Thừa tức cá dưa, sau Trần Thừa là Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều Trần và cũng là vua cha của Trần Nhật Duật có tên húy Trần Cảnh có nghĩa là cá lành canh. Tuy nhà Trần ở ngôi đã được gần năm mươi năm nhưng đất nước liên miên dính khói lửa chiến tranh nên các vương gia, hoàng tử luôn được luyện rèn rất nghiêm khắc. Việc rèn thủy quân và thủy chiến vẫn được tiến hành đều đặn hàng năm tại bến Đông Bộ Đầu. Nhật Duật không những là một tướng tài về thủy chiến mà ngay cả ngón nghề bơi lội chàng cũng không hề thua kém bất kỳ một ai trong Chiêu Văn Quân.

Lại nói về sự tình trên ngã ba Trung Hà, sau khi Nhật Duật lặn xuống nước mới cảm thấy hết sự khủng khiếp của con cá tinh. Con cá này không hiểu đã sống mấy trăm năm rồi, thân hình nó dài cả trăm trượng trông lừng lững như quả đồi nhỏ dưới đáy sông. Cá tinh quẫy mình, đập đuôi, cả ngã ba Trung Hà liền dậy sóng.

Nhật Duật biết ở dưới nước chả chóng thì chầy cả chàng và Mai đều sẽ sớm rơi vào bụng cá. Duật nhìn lên trên thấy Mai đang cố bám vào mạn chiếc đò vừa lật. Mai sống trên núi đã lâu, ít khi vào chốn sông nước nên dù nàng phép thuật cao siêu nhưng cũng rơi vào cảnh sống dở chết dở. Huống hồ Mai trọng thương chưa khỏi, thành ra mỗi lần sóng to đánh tới làm nàng khốn khổ vô cùng.

- Theo tôi mau lên, đừng ở gần đò dễ bị con yêu tinh nhìn thấy. - Nhật Duật trồi lên gần Vi Mai, kéo nàng ra khỏi chỗ chiếc đò.

Mai đang mắt mũi đầy nước, được Nhật Duật kéo thì vội vã bơi theo. Hai người vừa rời đi khỏi thì nghe “ẦM” một tiếng, chiếc đò đã lĩnh nguyên cái đuôi của cá tinh đập vào tan thành trăm mảnh. Con yêu một đòn thất bại liền lặn sâu xuống nước.

- Mau lên, cởi đồ ra.

- CÁI GÌ? Đã như thế này mà vương còn định giở trò sao? - Mai sặc một ngụm nước lớn nhưng nàng mặc kệ, tay cuống cuồng ôm lấy ngực đề phòng.

- Khổ quá, chúng ta phải mau gài quần áo vào mấy tấm gỗ này, sau đó ném sang hướng khác. Hy vọng có thể kéo dài thời gian và đánh lừa được con yêu, với cả cũng đỡ vướng víu, bơi lội thuận tiện hơn. Nàng mau nhanh lên không con yêu nó trồi lên bây giờ.

Chiếc khăn vấn đầu của Mai từ khi rơi xuống nước đã trôi đi đâu mất. Nàng chỉ còn phải tháo dây lưng, cởi bỏ chiếc váy ra trao cho Nhật Duật. Phía trong Mai mặc một bộ quần áo làm bằng vải mỏng, nước sông thấm đẫm khiến y phục bó sát vào da thịt. Dù trong cơn nguy hiểm nhưng Nhật Duật vẫn thấy mê mẩn vì những đường cong trước mắt mình.

- Vương nhìn cái gì?

- Không, không có gì. - Nhật Duật khỏa lấp. Chàng cũng vội cởi bỏ áo dài giao lĩnh rồi quơ hai mảnh gỗ văng ra từ chiếc đò gần đấy vắt hai cái áo lên.

“Ùm, ùm” Nhật Duật dùng sức ném hai mảnh gỗ ra xa.

- Bơi theo tôi. Bơi theo kiểu sải, lướt thân mình thật xa vào, hạn chế đập chân tay nhiều vừa đỡ tốn sức vừa khó bị con yêu phát hiện.

Nhật Duật bơi trước, Vi Mai theo sau. Dù trong sóng to gió lớn thì khả năng định hướng của Duật vẫn rất tốt. Triều đình quả thật đã có được một vị tướng toàn tài. Mai về ngộ tính(2) thì rất cao, lại sẵn căn cơ huyền thuật nên sau khi được Duật chỉ dậy sơ sơ, nàng cũng lĩnh hội được các yếu tố cơ bản của thuật bơi lội. Nhật Duật lướt đi như cá, Vi Mai lấy lại được bình tĩnh sử dụng huyền thuật hỗ trợ cũng không thua kém là bao.

Đúng lúc đấy lại nghe “ẦM” một tiếng lớn, bọt nước văng tung tóe như mưa rào. Cá tinh há miệng khổng lồ đớp vào miếng gỗ có bộ váy của Vi Mai. Thân mình nó tung hẳn lên không óng bạc dưới ánh chiều vừa lung linh vừa kinh hãi. Lại nghe hàng loạt các tiếng ầm ầm nữa vang lên, cả người cá tinh như hòn núi nhỏ rơi trở lại mặt sông. Khắp không gian ngập tràn bọt nước.

- Hay lắm, mau tận dụng cơ hội này.

Duật nói đoạn lôi tay Mai, tựa theo đợt sóng khổng lồ do cá tinh vừa tạo nên lướt như bay trên mặt nước. Thoáng chốc hai người đã rời xa chỗ cá tinh gần nửa dặm. Cá tinh sau khi đớp nát thanh gỗ mới biết là mình bị lừa. Tâm trí của nó rất linh mẫn, lập tức phát hiện ra Nhật Duật và Vi Mai ở phía đằng xa liền quay người đuổi theo.

Duật và Mai lúc này đã nhìn thấy bờ, sau lưng lại bị cá tinh đuổi riết nên hai người cắm cổ bơi thục mạng. Cũng may bơi thêm một hồi đã tới chỗ nước nông, hai người biết cá tinh có hung dữ mấy cũng không thể vào nơi này nhưng vẫn không dám lơi tay, ngừng chân chậm lại. Cá tinh đuổi theo thêm một lúc thì biết là không thể bắt kịp hai người. Nó điên cuồng quẫy mình đập đuôi, gây ra trận sóng gió bão tố ầm ĩ giữa ngã ba sông nước.

* * * * *

* Chú thích

(1) Đây là bài “Ngã ba Hạc Phú” của Nguyễn Bá Luân (1700-1786) một viên quan lớn dưới thời vua Lê, chúa Trịnh. Bài phú vốn viết về ngã ba Bạch Hạc nhưng tôi đã mạo muội sửa lại thành ngã ba Trung Hà cho phù hợp với diễn biến của truyện. Thành thật xin lỗi cụ tác giả.

(2) Ngộ tính: là khả năng giác ngộ hoặc học hỏi những điều mới.

Quyển 1 - Chương 13: Lâm Thần thổ địa

Chiêu Văn Vương cho thêm củi, lửa cháy ngày càng đượm hơn. Ánh bập bùng hắt lên làm khuôn mặt nữ nhân càng thêm hồng thắm.

- Nàng ăn đi cho lại sức. – Nhật Duật vừa nói vừa đưa cho Vi Mai con cá nướng.

Tuy đã bị một phen khiếp vía tại ngã ba Trung Hà nhưng chờ sau khi con cá tinh bỏ đi, Duật vẫn ra bờ sông bắt cá. Chàng vốn quen thuộc nghề sông nước hơn nữa đánh bắt chỗ cạn nên không ngại cá tinh quay trở lại. Hoàng hôn xuống lâu nên Duật kiếm được khá nhiều thức ăn về chuẩn bị bữa tối.

Mai uể oải cắn được vài miếng.

- Sao thế không ngon à? - Duật hỏi.

Mai không trả lời, mặt đỏ bừng lên. Nàng buông xiên cá rồi từ từ đổ gục xuống. Duật nhanh tay với lại, Mai liền ngả luôn vào ngực chàng. Người Mai mềm mại, da dẻ mịn màng, má đỏ hồng, lại còn mùi thơm tỏa ra từng đợt đưa lên không dứt. Chiêu Văn Vương đang lơ mơ thưởng thức diễm phúc thì nhận ra thân thể Mai nóng rực. Chàng vội vàng đặt nàng dựa vào gốc cây rồi kiếm lá rừng, phủ vải lên làm thành chiếc nệm cho nàng nằm.

Nhật Duật lục trong người tìm lọ Cải Tử Hoàn Sinh. Đây là lọ thuốc trị thương cực kỳ quý giá của quán Thái Thanh, ngay cả các vương tôn triều đình cũng ít người có được. Cải Tử Hoàn Sinh không những có công dụng trị thương thần kỳ mà còn có thể phục hồi sức lực nên đi đâu Duật đều mang theo. Chàng còn cẩn thận may một túi nhỏ đựng lọ thuốc và Tống Thiết Phật Châu ở áo trong. Vì thế dù tay nải đã chìm xuống đáy sông nhưng Nhật Duật vẫn giữ được những đồ quý giá.

Duật đổ mấy viên thuốc vào miệng cho Mai uống. Thấy nàng vẫn rên hừ hừ, chàng liền cởi chiếc áo lót đang mặc ra, cắm cành củi phơi cạnh gốc cây cho chóng khô. Khi áo khô rồi, chàng mới đắp lên người nàng.

Vi Mai vốn huyền thuật cao thâm nhưng lần này để chống lại Hắc Hổ đã phải sử dụng tới phép gọi hồn quan đệ ngũ Tuần Tranh. Phép này vốn có tên “Thỉnh Triệu Tôn Quan”, bản chất là một phép lên đồng. Mục đích của phép chính là thỉnh cầu linh hồn của một trong Ngũ Đại Tôn Quan nhập vào người để thi triển phép thuật. Một khi được Tôn Quan nhập vào thì phép thuật liền tăng tiến, người được nhập có thể sử dụng nhiều chiêu thức mà lúc bình thường không làm được. Tuy thế linh hồn của Ngũ Đại Tôn Quan rất mạnh, bản thân người lên đồng nếu không có căn cơ huyền thuật vững chắc rất dễ bị trọng thương. Do vậy phép Thỉnh Triệu Tôn Quan chỉ trừ khi nguy cấp nếu không người của phủ Cao Sơn rất ít khi dùng đến.

Lần này Vi Mai đã dùng “Thỉnh Triệu Tôn Quan” để thỉnh cầu linh hồn của quan đệ ngũ Tuần Tranh vốn là tôn quan mạnh mẽ nhất trong Ngũ Đại Tôn Quan. Sau đó nàng còn dùng đến chiêu “Quan Bạch Ra Oai” để gọi ra Bạch Xà cũng là phép tổn hao rất nhiều huyền lực. Vì vậy sau khi gọi Bạch Xà một lúc, Vi Mai liền trọng thương không còn đủ sức lực duy trì rắn trắng.

Sau khi bị thương, Mai tiếp tục cùng Duật ngày đêm không nghỉ đuổi theo Hắc Hổ. Lần này rơi xuống nước ở ngã ba Trung Hà, nàng hệt như ngọn đèn khô dầu, không còn gắng gượng được nữa. Sau một hồi ngâm nước, Mai đã bị cảm lạnh, sốt cao.

Mai rên thêm mấy tiếng, nằm mê man một lúc đến giờ Tý(1) thì dậy. Nàng mồ hôi mồ kê đầm đìa nhưng thần sắc có vẻ tỉnh táo hơn. Nhật Duật vội đi nướng con cá khác cho nàng.

- Vương làm cái trò gì thế? - Vi Mai nhìn Nhật Duật trừng trừng. Áo lót của Duật giờ đang ở trên mình Mai nên nửa thân trên của chàng trần trùng trục, chỉ có mỗi tràng hạt đen đeo ở cổ.

- À, thấy nàng rên rỉ khiếp quá, tôi đành phải làm người tốt cởi áo ra cho nàng mượn tạm.

- Này, trả lại vương. Tôi không sao. - Vi Mai cầm áo đưa lại cho Nhật Duật. Nhìn bờ vai và vùng ngực săn chắc, nở nang của chàng, Mai chợt đỏ mặt.

- Nàng sao thế, lại lên cơn sốt nữa à? - Nhật Duật lo lắng tiến lại gần.

- Tôi không sao, không sao. Vương đừng lại gần đây. - Mai luống cuống, mặt lại càng đỏ hơn.

Duật thấy nàng thế thì cười hì hì, vừa mặc áo vào vừa nói:

- Nàng không sao là tốt rồi. Thôi ngủ đi, mai chúng ta xem xét tình hình rồi tính tiếp.

Nhật Duật nói đoạn đi gom lá rừng về chuẩn bị chỗ ngủ.

- À, vương… vương lại đây tôi nhờ tí. - Vi Mai nói. Giọng nàng có chút ngập ngừng pha lẫn ngượng ngùng.

- Sao vậy? - Nhật Duật hỏi. Chàng nghĩ thầm trong bụng sao con gái lắm điều phiền phức thế, vừa bảo đi giờ đã gọi lại. Tưởng chỉ mỹ nhân chốn đô thành mới phức tạp ai dè người đẹp vùng sơn cước cũng không hề đơn giản. Nghĩ vậy nhưng chàng vẫn tiến lại chỗ Mai.

- Vương ngồi xuống đây.

Nhật Duật tò mò không hiểu nàng ta định làm gì nhưng vẫn hăm hở ngồi xuống.

- Đám lá này nằm ngứa lắm! Vương chịu khó ngồi đây cho tôi mượn vai dựa một tí, tôi… tôi rất cảm ơn! - Vi Mai càng nói càng lí nhí, câu cuối tựa hồ không nghe thấy gì.

Duật bật cười, hóa ra người đẹp dù miền nào đều ưa sạch sẽ.

- Có gì đâu, chuyện nhỏ. Được nàng tựa là diễm phúc của tôi, không cần phải khách sáo cám ơn thế. - Tôi chỉ nhờ vương một chút thôi, cấm không được nghĩ linh tinh đấy.

- Không, không tôi nào có nghĩ linh tinh gì. - Nhật Duật chối bay chối biến.

- Việc này cũng cấm vương kể cho ai biết. - Mai lại đỏ mặt. Duật đầu gật lia lịa cơ hồ như sắp rơi ra khỏi cổ.

Ánh lửa bập bùng, soi tỏa bóng hai người êm ả trên nền cỏ.

* * * * *

Nhật Duật và Vi Mai thiếp đi được một lúc, đến đầu giờ Dần(2) thì chợt thấy có tiếng người xôn xao:

- Đây, bọn chúng ở đây.

- Ngươi chắc chứ.

- Bẩm bề trên, đúng vậy.

Duật và Mai nghe tiếng ồn ào thì tỉnh dậy. Chỉ thấy trước mặt họ xuất hiện một đoàn không hiểu là thần, người hay quỷ đứng lố nhố. Dẫn đầu đoàn là một kẻ thân thể béo tốt, cả người tròn quay, và điều đặc biệt nhất là chính giữa khuôn mặt của kẻ này có chiếc mũi to đùng, lỗ mũi không ngừng hếch lên hít khụt khịt trong không khí. Kẻ to béo đầu đội mũ phốc đầu(3), thân mặc áo bào màu xanh lá, mình đeo đai ngọc. Trang phục của y Nhật Duật trông rất quen mắt, rất giống với thường phục mà văn võ bá quan triều đình thường dùng. Chỉ có điều áo bào của y được làm từ hàng ngàn mảnh lá cây xếp thành. Đai ngọc của y là dây tầm gai đính ngọc lục bảo.

- Hừ đêm khuya thanh vắng, trai gái đầu tựa vai ấp giữa chốn rừng hoang, quần áo thì mỏng manh. Đúng là đôi thanh niên dâm ô. - Kẻ mặc quan phục nói. Cổ y phập phồng một đống mỡ, mặt tròn quay, béo húp, mắt thì híp lại như đường chỉ ngang.

- Ngươi là giống gì sao dám nói xằng! - Vi Mai đứng dậy, rút gươm từ trong cánh tay áo mỏng ra, chĩa thẳng vào mặt kẻ mặc quan phục. Tuy nàng đang bị nội thương nặng nhưng nghe người khác mắng chửi mình thì liền nổi giận.

Nhật Duật thấy sự tình căng thẳng thì nhẹ nhàng cản Mai lại. Đoạn chàng hướng đến gã mặc quan phục đường hoàng nói:

- Chúng tôi là người phàm trần bị cá tinh săn đuổi dưới ngã ba Trung Hà nên phải chạy lên đây lánh nạn. Tính mạng và sức khỏe là quan trọng, lễ nghĩa nam nữ nơi rừng sâu không cần cứng nhắc. Các vị đây chắc là thần cai quản khu vực này, không hiểu xưng hô thế nào?

- Ta là Lâm Thần, thổ địa(4) nơi này. Đây vốn là vùng đất linh thiêng do thần linh chia nhau coi giữ. Bọn người phàm trần các ngươi từ đâu đến dám quấy nhiễu vùng đất, lại còn cả gan trêu chọc hà bá(5) của ngã ba Trung Hà.

Nhật Duật nghe thế thì ngạc nhiên, nói: - Bọn tôi nào có trêu chọc hà bá đâu? Chúng tôi vừa tới ngã ba Trung Hà thì bị con cá tinh lừa ra giữa sông để ăn thịt, may mà chạy kịp.

Thổ địa Lâm Thần nghe Nhật Duật nói thế thì đột nhiên tức giận, rít lên the thé:

- Bọn láo xược, dám mạo phạm vùng đất thiêng lại còn đặt điều vu họa cho hà bá. Hà bá Lý Đà đâu mau ra đối chất.

Gã thổ địa vừa nói xong sau lưng y liền có một kẻ bước ra, chính là gã lái đò biến thành cá tinh mà Nhật Duật và Vi Mai vừa chạy thoát. Tên lái đò ở trên cạn điệu bộ tỏ ra không thoải mái, người cứ giật giật liên hồi. Tuy nhiên y vẫn cố gắng rặn ra từng tiếng:

- Bọn này đến ngã ba Trung Hà làm… làm loạn, lại còn dám chống lại lệnh... chết từ hà bá ta. Như vậy là cãi lại mệnh… trời. Chúng bay đâu mau phanh thây xẻ thịt chúng.

Bọn lính vệ theo hầu nghe tay hà bá nói thế thì hùng hổ tiến tới trước. Bọn này đi được vài bước thì chân tay teo lại, bụng phình to ra, mặt tóp vào, hiện nguyên hình là lũ quỷ đói.

- Bọn yêu quái dám giả danh thần thánh, thật đáng chết. - Vi Mai tức giận vung gươm chém tới. Chỉ thấy đất cát bay lên tung tóe, một gươm của Mai khoét thành lỗ sâu trên mặt đất, dọa cho bọn quỷ bỏ chạy tán loạn.

Thấy tài phép của Mai, tên thổ địa Lâm Thần biết gặp phải đối thủ khó xơi. Mắt y vằn lên đỏ ngầu, đoạn y ngửa cổ lên trời rống lên hai tiếng “ụt ụt” vang vọng khắp núi rừng. Tiếng rống vừa dứt, cơ thể của tên thổ địa liền biến đổi không ngừng. Người y bỗng chốc mọc đầy lông lá, đầu to lên, mõm dài ra, hai cái răng nanh nhe hẳn ra ngoài. Bộ quan phục trên người thổ địa rách tả tơi rơi xuống đất hóa thành đống lá khô. Tên thổ địa hai tay chống xuống biến ra hai chân trước. Cả người y to ra, hiện nguyên hình là con lợn tinh khổng lồ. Lợn tinh dậm chân thình thịch, mũi thở phì phò, giương đôi răng nanh sắc nhọn lên nhằm về phía Nhật Duật và Vi Mai.

Thấy lợn tinh chuẩn bị tấn công, Mai định giơ gươm lên nghênh chiến nhưng lại bất chợt nôn ra một ngụm máu tươi. Thì ra Mai trọng thương chưa khỏi hẳn đã vội vàng dùng tới gươm Thanh Bạch nên huyền khí trong người nàng chạy loạn lên, không còn điều khiển được nữa.

Nhật Duật thấy tình thế như vậy thì vội vàng cởi tràng hạt đen đeo trên cổ ném về phía trước. Tràng hạt bay lên cao, tỏa ra ánh vàng lấp lánh trên đầu lợn tinh.

Lợn tinh tuy e ngại tràng hạt nhưng nhìn thấy hai con mồi ngon trước mặt thì đâu chịu dễ dàng bỏ qua. Con tinh rống lên một tràng rồi hùng hục lao tới. Tràng hạt đen thấy con lợn tấn công thì từ trên cao bay xuống, đánh thẳng vào trước mặt nó. Ánh sáng vàng tỏa ra từ tràng hạt trở nên nóng bỏng hơn hẳn. Và khi tràng hạt chạm vào chiếc mõm dài của con lợn liền gây ra vết sưng phồng lớn. Lợn tinh rống lên “eng éc”, chiếc đầu lông lá lắc lư dữ dội, cả người con tinh giãy nảy lên. Do bị bỏng ngay đầu mõm là chỗ nhạy cảm nhất nên con lợn mất phương hướng lao thẳng vào gốc cây gần đấy gây nên trận rung động ầm ĩ.

Chiêu Văn Vương thấy một đòn thành công thì vui mừng, liền phất tay ra hiệu cho tràng hạt bay về gần bên mình để bảo vệ cho chàng và Vi Mai.

Lợn tinh tuy bị bỏng ở mõm nhưng không phải vết thương chí mạng. Sau một hồi giãy giụa đau đớn, con lợn lấy lại bình tĩnh. Nó quay đầu về phía Duật và Mai, mắt long lên song sọc, chuẩn bị cho đòn trả thù tàn khốc.

Nhật Duật thấy tình hình không ổn. Chàng vội vã giơ tay, chỉ huy tràng hạt đen tấn công con lợn trước để chiếm lấy thế chủ động. Tràng hạt bay tới, tiếp tục phát ra ánh sáng vàng, tuy nhiên ánh sáng lần này không còn được chói lọi như lúc trước. Lợn tinh biết tràng hạt lợi hại, nó không hung hăng nữa mà hếch mõm lên, rùn người lại rồi phun ra đám khí đen từ mồm. Đám khí bay tới cuốn lấy tràng hạt, bao phủ hết toàn bộ ánh sáng vàng. Tràng hạt vốn đã bị Hắc Hổ làm tổn hại từ trước, nay lại bị khí đen của lợn tinh tấn công thì cạn kiệt pháp lực, rơi thẳng xuống đất.

Khí đen từ mồm con lợn vô hiệu hóa tràng hạt xong vẫn lừ lừ bay tới, phủ lên người Duật và Mai. Nhật Duật biết khí đen nguy hiểm, chàng vội vã nằm đè lên người Mai, lấy thân mình để che chắn khí độc cho nàng. Qua một lúc khí độc tan đi, Mai cũng đã tỉnh táo hơn. Nàng đẩy Nhật Duật sang một bên thì thấy mặt chàng xạm lại chứng tỏ trúng độc rất nặng.

- Chiêu Văn Vương… chàng có sao không? - Vi Mai cuống quít hỏi. Tuy nhiên Nhật Duật mắt nhắm nghiền, hôn mê bất tỉnh, không thể trả lời nàng được.

Tiếng phì phò như kéo bễ đưa Mai về thực tại. Nàng ngẩng đầu nhìn lên thì thấy đôi mắt long song sọc và đôi răng nanh dài sắc nhọn của lợn tinh đang chĩa về phía mình. Xung quanh con lợn, bọn quỷ đói đã quay trở lại với gươm giáo tua tủa. Được bọn quỷ hộ tống, lợn tinh hầm hè bước tới, quyết tâm phanh thây xé xác hai con mồi ngon chẳng may lạc vào địa bàn của nó.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Giờ Tý: Tức khoảng từ 11h đêm đến 1h sáng.

(2) Giờ Dần: Tức khoảng từ 3h đến 5h sáng.

(3) Mũ phốc đầu: Là một loại mũ đội đầu của quan lại thời xưa, hai bên có cánh như cánh chuồn chuồn nên còn gọi là mũ cánh chuồn.

(4) Thổ địa: Là vị thần cai quản đất đai một vùng.

(5) Hà bá: Là vị thần cai quản sông nước một vùng.

Quyển 1 - Chương 14: Lão Đầu Tử

- Quái lạ, Tống Thiết Phật Châu sao Phật lực yếu thế? Có con lợn tinh tép riu cũng không hạ được.

Người mới đến tăng chẳng ra tăng đạo chả ra đạo, trông vẻ bề ngoài thì là một ông lão. Tuy ông lão râu tóc bạc phơ nhưng khuôn mặt lại hồng hào tươi nhuận. Trên mình ông khoác một cái áo nâu sồng của sư, đầu ông lão đội chiếc nón lá, tay chống gậy gỗ. Không ai biết ông xuất hiện từ khi nào.

Lợn tinh đang trong lúc say máu chuẩn bị kết liễu con mồi tự nhiên bị phá đám thì mười phần giận dữ. Nó rống lên điên cuồng, không nhằm vào Nhật Duật và Vi Mai nữa mà nhằm thẳng vào ông lão lao tới.

Ông lão thấy lợn tinh ầm ầm xông đến thì chỉ cười khà khà, nói:

- Con lợn này dám tấn công cả ta, thật hỗn láo quá.

Ông nói xong tay cầm gậy liền hất lên một cái, đột nhiên có cơn gió to nổi lên. Lợn tinh đang đà chạy gặp phải cơn gió thì cả người bị cuốn lên cao, đầu ngửa ra sau rơi đánh rầm xuống đất, bốn vó chổng lên trời. Bọn quỷ đói thấy thủ lĩnh bị đánh hạ thì nhao nhao tức tối, nhất loạt xông đến. Ông lão thấy vậy liền cởi nón lá tung lên không. Nón lá bay lên trên, biến hóa thành một cái phễu khổng lồ. Cái phễu xoáy tròn tạo ra lực hút khủng khiếp, bắt nhốt hết bọn quỷ vào trong. Hút xong nón lá bé lại, rơi xuống yên ổn trên đầu ông lão. Con cá tinh trông thấy vậy biết là tình thế không ổn, hấp tấp tìm cách bỏ trốn.

- Cá lên bờ còn đòi chạy sao? - Ông lão vừa nói vừa cười rồi tung mình lên không nhằm hướng cá tinh mà tới.

Cá tinh vừa cuống cuồng chạy được vài bước thì đã bị một bàn tay hồng hào đặt lên đỉnh đầu. Y ngáp ngáp mấy cái rồi cả người teo lại, chỉ lát sau đã biến thành con cá chép con nằm yên ổn trên tay ông lão. Ông lão vung tay, con cá chép lượn một vòng cầu vồng trên không trung rồi rơi trở lại ngã ba Trung Hà.

- Còn con lợn đần này nữa. - Ông lão vừa nói vừa tiến lại phía lợn tinh.

Lợn tinh biết là tình thế chẳng hay ho gì. Bốn chân nó chổng lên trời quẫy đạp, miệng rống eng éc ầm ĩ. Nhưng tất cả đều vô ích, ông lão tiến lại gần lợn tinh khẽ đặt tay lên đầu nó. Lợn tinh teo dần, teo dần, lát sau biến thành con lợn con bé xíu.

- Biến đi nào.

Ông lão vỗ mông con lợn, nó liền ba chân bốn cẳng chạy biến vào trong rừng.

- Sao ông lại thả bọn yêu quái đi thế? - Vi Mai thấy thế thì cất tiếng hỏi.

Ông lão cười khà khà, đáp:

- Ta đã phá hết yêu khí ngàn năm tu luyện của chúng. Giờ chúng chẳng khác nào con lợn rừng, con cá sông bình thường. Thả đi chứ giết làm gì lại mắc thêm tội sát sinh.

Nói đoạn ông lão sầm mặt lại, mắng:

- Con nhóc nhà ngươi ăn nói với người lớn tuổi phải biết lễ phép chứ.

Thấy ông lão trổ thần thông thu phục bọn yêu quái hung hãn, Mai biết đây nếu không phải thầy phép cao tay thì cũng là thần thánh một phương. Vì thế nàng không dám cãi lại, chỉ ấp úng đáp.

- Tôi… tôi… là người miền ngược, thường không quá câu nệ phép tắc. Ông đã nói vậy thì coi như tôi xin tạ lỗi.

Ông lão nghe thế cười khà khà:

- Được được, Lão Đầu Tử ta không chấp trẻ con. Mà thằng nhóc kia bị sao vậy?

Nghe ông lão nói, Mai vội quay lại phía Duật thì thấy chàng mặt mày xạm hẳn đi, hiển nhiên đã trúng độc nặng.

- Ông… ông xem có cách gì cứu được chàng không? – Vi Mai nói như khóc. Chiêu Văn Vương và nàng tuy quen biết chưa được bao lâu nhưng trong thời gian mấy ngày vừa rồi hai người đã trải qua nhiều phen sinh tử. Lúc nãy, Nhật Duật còn hy sinh thân mình để chắn khí độc cho nàng nên Vi Mai vô cùng cảm động.

- Để ta xem nào. - Lão Đầu Tử nói đoạn tiến tới, dựng người Nhật Duật dựa vào gốc cây rồi đưa tay bắt mạch cho chàng.

- Gã bị trúng độc, chất độc đã lan ra khắp người.

- Lão Đầu Tử… lão thần tiên, ông có cách gì chữa trị cho chàng? - Vi Mai mở miệng cầu khẩn.

Lão Đầu Tử nghe Mai cầu xin thì mềm lòng. Ông dựng Duật lên theo kiểu ngồi xếp bằng, tay đặt vào huyệt Phế Du sau lưng chàng, truyền khí vào kiểm tra một lượt kỳ kinh bát mạch. Lát sau Lão Đầu Tử dời tay ra, nói:

- Chà chà, độc này thật không hề tầm tường. Nó chính là độc tính trấn môn của con lợn tinh. Độc được tạo ra từ phế(1) của con yêu, khi thâm nhập vào cơ thể con mồi liền làm phế của con mồi nhiễm độc. Phế của con mồi bị nhiễm độc nhưng hoàn toàn không bị tổn thương mà lại biến thành nơi sản xuất ra chất độc mới. Những chất này sau đó mới đi tàn phá toàn bộ cơ thể. Chính vì thế khi nhiễm độc của lợn tinh sẽ rất khó giải trừ, cách khả dĩ nhất là hủy phế.

Vi Mai nghe thấy vậy thì ngạc nhiên hỏi:

- Hủy phế ư? Nhưng hủy phế thì còn hô hấp thế nào được, khác nào tự tử?

Lão Đầu Tử gật gù, đáp:

- Quả đúng vậy.

Nghe thế, Vi Mai phát cáu:

- Ông chữa bệnh kiểu gì thế, bắt bệnh nhân tự tử mới hết bệnh thì còn nói chuyện làm gì?

Lão Đầu Tử cười hì hì, nói:

- Không cần hủy phế, ta nghĩ ra cách rồi.

Nói đoạn ông lão cởi nón lá đặt xuống đất rồi thò tay vào bên trong khua khoắng lôi ra một cái bọc. Vi Mai trố mắt ngạc nhiên, trông cái nón rách có vứt đi cũng chả ai thèm nhặt hóa ra lại là bảo bối có phép thuật thần thông.

- Hà hà, có tên ngốc Hứa Tông Đạo vừa tìm ta xin tầm sư học đạo. Ta gật gù giả vờ đồng ý rồi cuỗm luôn bịch kim đan của gã. Thứ này giờ sẽ có ích đây.

- Kim đan ư? Thứ đó chẳng phải là đan dược luyện tiên của các đạo sĩ sao? Làm sao giúp Chiêu Văn Vương trị độc được?

- Được chứ, thứ này là kim đan làm bằng loại đá Tử Chu Sa cực hiếm, chỉ trên đất Đại Việt mới có. Hiệu quả của nó cũng rất độc đáo. Ngươi cứ chờ đấy xem ta chữa trị. Chà chà xem nào, hai viên, không đủ, bốn viên, vẫn không đủ, thôi cho gã mười viên luôn.

Lão Đầu Tử nói xong liền móc trong túi ra một nắm kim đan, viên to viên nhỏ, viên dẹt, viên tròn nhìn rất không vừa mắt. Tất cả đều có màu đỏ tía.

- Nhóc con há mồm ra! – Ông lão nói đoạn bóp mồm Nhật Duật rồi tống luôn cả đống kim đan vào. Mai đang định lên tiếng phản đối nhưng đã không kịp.

- Hà hà, ngươi trước đây chắc phải tu mấy kiếp mới được đích thân Lão Đầu Tử ta chữa bệnh cho. - Nói vừa dứt lời, ông đánh mạnh vào lưng làm Nhật Duật phun ra một vòi máu.

- Ông sao lại đánh chàng? - Vi Mai trông thấy thế thì hét lên giận dữ, vung gươm nhằm Lão Đầu Tử chém tới.
Lão Đầu Tử thấy Mai tấn công thì vội vã nhảy ra xa để tránh đòn rồi trừng mắt nhìn nàng, quát:

- Con nhóc nhà ngươi nhìn cho kỹ vào, chưa gì đã tấn công ta.

Vi Mai nghe thế thì quay sang Nhật Duật, thấy chàng mồm miệng rỉ máu nhưng sắc mặt đã bớt xạm đen hơn trước.

- Chưởng vừa rồi của ta không những đẩy hết chất độc ra ngoài, làm cơ thể không bị tổn hại. Nó còn giúp phân hóa kim đan, làm kim đan hòa nhập vào bên trong cơ thể của thằng nhóc. Kim đan Tử Chu Sa là loại cực kỳ đặc biệt không giống các loại kim đan thông thường. Kim đan thường thì chỉ làm tăng công lực của người sử dụng còn kim đan này khi tan vào trong cơ thể lại biến thành các hốc trữ khí. Các luồng khí dù bên trong hay bên ngoài đều có thể được đem về trữ ở các hốc này, khi cần thì vận công ra để sử dụng mà không ảnh hưởng đến thân thể. Ngay cả khí độc cũng có thể được trữ ở đây.

- Nói vậy thì bất cứ chưởng lực nào đánh vào người đều có thể sử dụng các hốc do kim đan này tạo ra mà trữ lại ư? Như vậy thành ra vô địch thiên hạ rồi còn gì?

Lão Đầu Tử gật gù:

- Con nhóc này thông minh thật, nói cái là hiểu ngay. Nói là các hốc thì chỉ là hình tượng thôi, thực ra kim đan Tử Chu Sa tạo ra các xoáy khí trong Đan Điền. Vì thế một lực vừa phải từ bên ngoài tác động vào thì sẽ bị hút vào xoáy này, giúp cơ thể tránh tổn thương. Nhưng nếu một lực quá lớn đánh vào thì sẽ phá tan các xoáy khí, tạo ra cơn bão lốc trong Đan Điền. Lúc đấy cơ thể sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, thất khiếu chảy máu. Khí độc trong người thằng nhóc do phế tạo ra liên tục, tuy là những luồng khí nhỏ nhưng lại được tích tụ lâu dài nên rất dễ ngấm vào lục phủ ngũ tạng. Chỉ có cách dùng kim đan Tử Chu Sa, tự động đem các khí đó đi trữ trong Đan Điền thì mới có thể trị tận gốc.

- Nói vậy là Chiêu Văn Vương phải sống cả đời với khí độc ư?

- Kim đan Tử Chu Sa ta truyền cho hắn có thể sử dụng được ba năm. Sau đó lại phải tìm loại đá Tử Chu Sa luyện thành kim đan mà dùng tiếp. Nếu không luyện được kim đan thì chỉ sống được ba năm thôi chứ không phải cả đời đâu.

- Vậy ông cho bọn tôi luôn cái túi kia đi.

Lão Đầu Tử lắc đầu quầy quậy:

- Duyên chỉ đến thế, ta không muốn cho thêm.

- Mai, nàng đừng làm khó lão thần thánh nữa. - Nhật Duật đã tỉnh lại. Tuy khắp người chàng đổ mồ hôi đầm đìa nhưng ánh mắt đã trở nên linh hoạt.

- Đa tạ lão thần thánh cứu giúp, Nhật Duật tôi ngàn lần đội ơn. Nếu lão thần thánh có gì cần hỗ trợ, tôi quyết không từ chối.

- Đừng vội đa tạ ta, tính mạng ngươi vẫn còn nguy hiểm lắm. - Lão Đầu Tử vừa nói vừa cười hề hề, coi chuyện tính mạng nguy hiểm chỉ như việc mọc nhọt ở mông.

- Lão thần thánh nói vậy là sao? - Vừa nói xong mặt Nhật Duật đã xạm đen trở lại, chàng loạng choạng ngã ngồi xuống đất.

- Yên nào, yên nào! - Lão Đầu Tử nói đoạn vỗ nhẹ xuống vai Chiêu Văn Vương. Chàng liền cảm thấy một luồng khí ấm áp tràn vào thân thể. Luồng khí này đè bẹp luồng khí độc trong người chàng, ép luồng khí độc chạy lại vào Đan Điền rồi tất cả hòa tan biến mất không vết tích.

- Như vậy là sao? - Duật mở mắt ra ngơ ngẩn hỏi.

- Ngươi phải học một phương pháp gọi là “Nghịch Chuyển Khí” để đưa các dòng khí huyết chạy ngược trở lại Đan Điền. Nội công bình thường mà ngươi được học thì chỉ có cách truyền khí từ Đan Điền đi các bộ phận khác trong cơ thể. Nhưng khí độc của ngươi xuất phát từ phế, muốn giải trừ được nó thì ngươi phải nghịch chuyển khí độc này trở lại Đan Điền để các xoáy khí do kim đan Tử Chu Sa tạo ra hấp thu hết. Giúp người thì giúp cho trót, ta sẽ dạy cho ngươi phương pháp tự nghịch chuyển khí.

Nhật Duật nghe thế thì nói:

- Lão thần thánh giúp cho như vậy, quả thật tôi không biết phải báo đáp thế nào.

Lão Đầu Tử cười hì hì, đáp:

- Chỉ cần ngươi bảo lũ người trong quán Thái Thanh thôi quấy rầy ta thì có cứu mạng ngươi thêm bao nhiêu lần ta cũng không tiếc.

- Không hiểu người trong quán Thái Thanh đã mạo phạm gì lão thần thánh. Có gì hiểu lầm giữa hai bên thì để tôi giảng hòa.

Lão Đầu Tử nghe thế thì lại xua xua tay, nói:

- Không có, không có, thôi ngươi chỉ cần đừng cho ai biết là đã gặp ta là được. Mà giờ ta có việc gấp phải đi ngay kẻo muộn, hai ngươi đi cùng ta vậy. - Chuyện này…

Vi Mai và Nhật Duật còn đang lưỡng lự đã thấy Lão Đầu Tử tung nón lá lên không trung. Cái nón lá bay lên cao, nhanh chóng dài ra ở hai đầu, chốc lát sau đã biến thành một chiếc thuyền lá. Lão Đầu Tử tay hữu móc đầu gậy vào người Vi Mai, tay tả nắm cổ tay Nhật Duật, vèo phát nhảy lên thuyền.

- Nơi sắp tới rất linh thiêng. Các ngươi nên ăn mặc nghiêm chỉnh một chút, hở hang thế này thật không tiện.

Lão Đầu Tử nói xong liền lôi từ hốc trên sàn thuyền ra hai bộ trang phục đưa cho Nhật Duật và Vi Mai. Không chờ cho hai người mặc quần áo cho chỉnh tề, ông lão đã gõ nhẹ chiếc gậy vào thuyền lá. Chiếc thuyền liền lướt đi trên không veo veo. Vi Mai và Nhật Duật lần đầu biết đến cảm giác đằng vân(2), ngạc nhiên trố mắt ra nhìn cảnh vật phía dưới bé tí teo trôi qua tầm mắt.

Đi được một hồi khí độc trong người Duật lại phát tác, Lão Đầu Tử chữa trị rồi giảng giải phương pháp Nghịch Chuyển Khí, Nhật Duật liền y lời làm theo. Cũng may chàng vỗn sẵn tính thông minh, cùng với anh trai Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc vẫn được đánh giá là hai người có ngộ tính cao nhất của họ Trần. Thành ra chỉ sau một hồi được thầy giỏi chỉ điểm Nhật Duật đã lĩnh hội được các điểm cốt yếu của thuật Nghịch Chuyển Khí.

Nên biết người bình thường luyện nội công đều phải hấp thu khí thiêng của trời đất, rồi chuyển hóa khí này vào trữ trong Đan Điền để tăng cường sức lực cho bản thân. Việc hấp thu khí thiêng là cực kỳ khó khăn, và mỗi lẫn luyện công cũng chỉ có một phần nhỏ khí thiêng chuyển hóa thành công vào trong Đan Điền. Do vậy để có được nội công thâm hậu là cả quá trình gian khổ, phải trải qua hàng chục năm trời. Tuy nhiên phép Nghịch Chuyển Khí lại là một phương pháp thần kỳ có khả năng tăng cường hiệu quả của cả việc hấp thu lẫn chuyển hóa khí thiêng lên rất nhiều lần.

Vì thế nếu biết phép Nghịch Chuyển Khí thì việc luyện tập nội công sẽ có bước tiến triển thần tốc. Tuy nhiên điểm cốt yếu của phép Nghịch Chuyển Khí là phải cải tạo được sự vận hành của luồng khí trong Đan Điền thành một vòng xoáy khổng lồ, qua đó tăng cường khả năng hút khí từ bên ngoài lẫn bên trong. Việc cải tạo này cực kỳ khó khăn và nguy hiểm, vì nếu chỉ cần làm sai phương pháp một chút thì Đan Điền sẽ bị phá nát khiến cho võ công bị phế bỏ hoàn toàn. May sao Nhật Duật được Lão Đầu Tử cho uống cả vốc kim đan Tử Chu Sa vốn có dược tính tự tạo các xoáy khí trong Đan Điền. Vì thế bước gian nan nhất của phép Nghịch Chuyển Khí, Nhật Duật không cần luyện cũng đã tự thành. Các bước khác đơn giản hơn nhiều, Chiêu Văn Vương say mê tập một hồi là thành thục.

Trong lúc Nhật Duật loay hoay với Nghịch Chuyển Khí thì Lão Đầu Tử tranh thủ thời gian xem xét nội thương cho Vi Mai. Cũng chả biết ông lão sử dụng biện pháp gì mà chỉ cần vỗ nhẹ một chưởng vào lưng, nội thương của nàng đã gần như khỏi hẳn. Mai ngạc nhiên tột cùng tròn xoe mắt nhìn ông, cả lời cám ơn cũng quên mất không nói.

* * * * *

Trời hửng sáng thì cũng là lúc thuyền lá bay vào một nơi trắng toát những mây và sương. Mây hững hờ trôi, gió hiu hiu thổi, ánh nắng bình minh hồng nhạt đậu nhẹ nhàng lên mình mây trắng như dải lụa đào cuốn eo người thiếu nữ. Vi Mai ngỡ ngàng ngắm cảnh đẹp, cảm thấy như đang ở trong giấc mộng thần tiên.

- Kẻ nào xâm nhập địa bàn núi Tản Viên? - Tiếng nói uy nghiêm bất chợt cất lên từ trong sương mờ.

Lão Đầu Tử nghe vậy thì cười khùng khục, đáp:

- Là bạn cũ của chủ tướng các ngươi tới chơi, không cần dở thói uy vũ trước mặt ta.

- Ra là lão Đạo, đã thất lễ rồi.

Vi Mai nhìn về hướng tiếng nói vừa phát ra, chỉ thấy ẩn sau đám mây mù có một đỉnh núi cao. Trên đỉnh núi lờ mờ bóng cờ xí, lại hình như loáng thoáng có bóng người mặc giáp trụ nhưng vì sương khói dày đặc nên không thể trông rõ được. Tuy nhiên khí thế của người trên đỉnh núi vẫn âm thầm tỏa ra làm Mai thấy nghẹt thở.

“Đây là thần tiên ư? Thật đáng sợ. Ngay cả Thượng Thiên Thanh Đồng khi được Thượng Thiên Thánh Mẫu nhập vào chắc cũng không có được khí thế mạnh mẽ như vậy”, Mai khiếp hãi nghĩ thầm.

Thực ra đứng đầu phủ Cao Sơn là ba vị Thanh Đồng thờ cúng và mượn sức mạnh của Tam Tòa Thánh Mẫu là Thượng Thiên Thánh Mẫu, Thượng Ngàn Thánh Mẫu và Thoái Phủ Thánh Mẫu. Còn bốn chữ “Ma Thị Cao Sơn” là mượn hình tượng bà Ma Thị để hù dọa người dân tộc vốn vô cùng kính sợ bà mà thôi.

- Lão thần tiên, ông rốt cục là thần thánh phương nào? - Nhật Duật đã tạm dừng việc luyện công, quay sang Lão Đầu Tử hỏi.

Lão Đầu Tử lắc đầu lia lịa, nói:

- Thần thánh quái gì, ta chỉ là một kẻ đa sự đi khắp Đông Tây Nam Bắc. Rốt cục chỉ hay chuốc phiền toái vào người.

Vi Mai nghe lão thần tiên nói thế tự nhiên nảy sinh lòng kính ngưỡng. Nàng hiểu rất rõ phép thuật càng cao thì càng có khí thế mạnh mẽ. Nhưng cao đến mức che dấu toàn bộ khí thế, nhìn qua chỉ như người thường thì phải đạt đến mức thực lực tương thông với trời đất, hòa nhập vào thiên nhiên. Lúc đó bản thân muốn biểu hiện thế nào thì sẽ ra thế đấy như Lão Đầu Tử đang cười hề hề trước mặt đây.

“Thần linh Đại Việt đúng là không thể xem thường. Bảo sao phủ Cao Sơn tài phép như vậy nhưng chỉ quanh quẩn hoạt động ở vùng rừng núi Tây Bắc chứ ít khi xuống đồng bằng.” – Vi Mai tặc lưỡi nghĩ thầm.

* * * * *

Thuyền ra khỏi đám mây mờ, trước mặt mọi người hiện ra một ngọn núi rộng có ba đỉnh. Bên dưới núi là vùng thung lũng trù phú và các dãy núi con thấp hơn uốn lượn xung quanh hệt như đám quần thần quy tụ chầu chực dưới chân ngai báu của đấng quân vương. Ngọn núi ba đỉnh không quá cao nhưng to lớn, vững chãi. Sườn núi được sương mờ bao phủ, đỉnh núi tựa như chạm vào mây khiến cho ngọn núi mang vẻ linh thiêng khôn tả. Thực đúng như hai câu thơ vịnh:

Châu hình đẩu tiển thiên hoành không

Hạo khí quan mang vạn cổ tồn

(* Dáng hình sừng sừng ngang trời rộng

Hạo khí mênh mang vạn thuở còn.)

- Đây chính là ngọn Tản Viên sao? – Nghe Vi Mai hỏi, Nhật Duật lặng lẽ gật đầu.

Núi Tản Viên có vị trí cực cao trong tâm linh của người dân Đại Việt. Núi Tản Viên, núi Nghĩa Lĩnh và núi Tam Đảo chính là ba ngọn núi linh thiêng tồn tại từ thuở hồng hoang. Trong ba ngọn núi trên thì núi Tản luôn có vị trí cao nhất. Đây là nơi ở của đức thánh Tản, vị thánh đứng đầu Tứ Bất Tử, người luôn hiển linh giúp chúng sinh trừ yêu diệt họa. Núi Tản Viên còn hợp với dãy Trường Sơn hùng vĩ tạo thành hình con rồng khổng lồ phun châu nhả ngọc hướng về phía biển. Khi Cao Biền nhà Đường qua xâm chiếm Đại Việt, trông thấy núi Tản Viên có linh khí đặc biệt bao trùm liền ra tay trấn yểm. Nhưng dù cho y dùng đủ loại phương cách thì vẫn chuốc thất bại nặng nề.

Hàng năm vào đầu xuân, vua tôi nhà Trần đều lên núi Tản Viên lễ tế vì thế Nhật Duật cũng thường xuyên lui tới nơi này. Nhưng tất cả người phàm, dù cho có là vua quan khi lên đến đỉnh núi chỉ thấy khung cảnh mờ ảo hơi sương, cổ thụ âm u tỏa bóng chứ nào thấy hình dáng của bất kỳ vị tiên nào.

Con thuyền lá bay qua đỉnh núi, lướt thẳng lên trên, đâm đầu vào trong một đám mây lớn. Nhật Duật và Vi Mai chỉ thấy xung quanh toàn màu trắng đặc. Lát sau, thuyền lá bay vọt hẳn lên trên đám trắng đó, đưa mọi người tới nơi chỉ có Mặt Trời rực rỡ và một biển mây mênh mông không thấy bến bờ. Ở nơi biển mây vô tận, có một hòn đảo xanh ngắt đang lững lờ trôi. Con thuyền di chuyển lại gần rồi cập vào bờ hòn đảo xanh.

- E rằng hòn đảo này chỉ có thần tiên thực sự mới tới được. Lần này may mắn đi trên thuyền của Lão Đầu Tử, lần sau dù có lên đỉnh Tản Viên mà tìm kiếm cũng không chắc thấy lại được đảo tiên. - Nhật Duật đang nghĩ thầm trong lòng thì nghe ông lão cất tiếng.

- Đã đến nơi rồi, mấy đứa nhóc nhà ngươi chịu khổ tí vậy.

Chưa nghe hết câu thì Nhật Duật đã thấy huyệt Phong Trì bị điểm trúng. Ở bên cạnh chàng cũng có tiếng Vi Mai ngã gục xuống sàn thuyền.

- Các ngươi ở lại ngoan nhé, ta đi có việc tí. - Lão Đầu Tử vừa nói vừa nhảy ra khỏi thuyền, chốc lát đã biến mất dạng sau làn sương.

* * * * *

* Chú thích:

- (1) Phế: tức là phổi theo tên gọi của Đông y.

- (2) Đằng vân: có nghĩa là lướt đi trên mây.

Quyển 1 - Chương 15: Tứ Bất Tử Hội

Vầng Thái Dương rót những tia nắng óng ả, vàng thắm như mật lên cái mái ngói hình vẩy cá, khiến cho một tảng đỏ càng trở nên nổi bật rực rỡ. Ánh nắng từ trên đỉnh tràn xuống, lan ra toàn bộ mái điện, rồi bị chặn lại một cách phũ phàng bởi mảng sương trắng xóa phủ giăng tràn trên khoảnh sân phía dưới.

Trước cửa điện Chính Cung trên đảo thánh Tản Viên bất kể tiết trời mưa nắng ra sao, lúc nào cũng được phủ kín bởi một màn mờ ảo như thế. Lão Đầu Tử bước vào cái sân ngập tràn sương trắng mà lòng vẫn canh cánh thắc mắc “Tại sao đức thánh Tản lại triệu tập Tứ Bất Tử khẩn trương như vậy? Ắt hẳn có sự gì trọng đại vừa xảy ra”.

Ông lão ngẩng đầu nhìn lên, ở chính giữa sân lờ mờ hiện ra bốn trụ đá cao dễ đến chục trượng. Trên đỉnh ba trên bốn trụ đều thấp thoáng có bóng người ngồi. Lão Đầu Tử cười khà, cất giọng nói lớn:

- Xin lỗi các vị, tôi đến trễ.

Ông nói xong liền nhảy lên đỉnh trụ đá còn trống duy nhất. Ở phía trên này sương mù không ngập tới, chỉ có bầu trời xanh ngát phủ đầy nắng vàng hợp cùng cái mái ngói đỏ tươi và các đám mây nhỏ lãng đãng trôi tạo ra một quang cảnh thần tiên.

- Lão Đạo sao lần nào ông cũng đến muộn thế? - Giọng trẻ con tinh nghịch, nghe vang và trong như tiếng chuông đồng cất lên.

Lão Đầu Tử cười hề hề, đáp:

- Đổng Thiên Vương trách oan tôi rồi. Tại thân già này hay thích đi ngao du khắp chốn, thành ra lần nào nhận được tin hội họp đều quay về chậm hơn một chút.

- Lão Đạo, ông đã sống cả nghìn năm rồi mà vẫn còn tính ham vui. Rốt cục tu Phật không xong, theo Đạo chả đến. - Người vừa lên tiếng ngồi trên trụ đá phía Đông là một nhà sư. Nhà sư mặc áo nâu sồng, chân đi giày cỏ, trang phục cực kỳ đơn sơ. Thế nhưng khuôn mặt to lớn và đặc biệt ánh mắt đầy sự nghiêm khắc khiến nhà sư toát ra một vẻ oai hùng kỳ lạ.

Nghe nhà sư lên tiếng, Lão Đầu Tử vừa cười vừa đáp:

- Tôi chỉ thích ngao du thiên hạ, không muốn thành Phật cũng chẳng muốn là Tiên. Tuy kiêm tu cả hai đường Phật, Đạo đều không đến nơi đến chốn nhưng cũng vẫn còn hơn lão sư già, chỉ vì tính cố chấp mà Phật pháp cao siêu vẫn không thể nhập Niết Bàn. Đúng là Không Tăng, quanh đi quẩn lại vẫn là Không.

Nhà sư nghe thế thì cười ruồi, nói:

- Bần tăng tu luyện mới hơn được trăm năm tuy chưa có thành tựu gì nhưng cũng kể như xếp ngang hàng với lão Đạo đạo hạnh trải hàng ngàn năm.

- Các vị… - Người ngồi trên trụ chính Bắc lên tiếng cắt ngang màn đấu khẩu. Chỉ thấy đây là một ông già râu tóc bạc phơ, quần áo mặc trên người trắng toát. Ông già thân thể rõ nét nhưng khi nhìn trực diện lại như hòa lẫn vào quang cảnh đằng sau. Ông già áo trắng vừa lên tiếng, mọi người liền im lặng chú ý lắng nghe. - Hôm nay Tứ Bất Tử chúng ta tụ họp là có chuyện quan trọng, xin các vị bớt chút thời gian bàn việc chính đã.

- Theo lệ cứ mười năm chúng ta mới họp một lần. Cuộc họp trước cách nay có hai năm. Lần này đức thánh Tản cho triệu tập chúng tôi vội vàng như vậy, hẳn là phải có sự việc vô cùng hệ trọng xảy ra. - Nhà sư lo lắng nói.

Ông già áo trắng, tức chính là đức thánh Tản Viên thở dài, đáp:

- Thưa các vị, Tứ Bất Tử chúng ta đại diện cho toàn bộ thần tiên phương Nam cai quản vùng đất này về mặt tâm linh. Hiện tại tình hình phương Nam đang rất hỗn loạn. Không hiểu sao trong vòng một năm nay, yêu quái đột nhiên nổi lên hoành hành khắp chốn. Chúng ngày càng táo tợn và hung hăng. Thậm chí mấy tháng gần đây, yêu quái còn đánh đuổi cả thổ địa, hà bá, thành hoàng ở nhiều nơi để chiếm địa bàn, ngang nhiên tác quái.

Giọng trẻ con cất lên lảnh lót:

- Lạ thế, yêu quái dù có hung tợn đến đâu nhưng từ trước đến nay chỉ hoạt động trên một khu vực nhất định. Thổ địa, hà bá, thành hoàng trên đất này đều có từ thời Thượng Cổ. Tuy các vị ấy chỉ là hạ đẳng thần nhưng tu luyện không yếu, sao lần này lại đồng loạt bị yêu quái đuổi đánh là thế nào? Việc này đúng là không bình thường.

- Tôi đến đây qua đường ngã ba Trung Hà, cũng chứng kiến thổ địa và hà bá ở đó đã bị đuổi đi. Con lợn tinh và cá tinh chiếm đóng địa bản, tự xưng làm thổ địa, hà bá, lừa người vào đánh chén. Ngã ba Bạch Hạc là chốn linh thiêng chưa thấy gì, nhưng việc đã xảy ra ở ngã ba Trung Hà thì có thể lây lan đến ngã ba Bạch Hạc bất cứ lúc nào. - Lão Đầu Tử suy tư nói, khác hẳn cái vẻ tưng tửng thường thấy.

- Các vị, sự việc lần này ta đã suy nghĩ nhiều rồi, rất có thể là do ảnh hưởng của Thần Chiến lần thứ mười tám. – Đức thánh Tản nói với giọng nghiêm trọng.

- Thần Chiến thứ mười tám ư? - Cả ba vị còn lại kêu lên lo lắng.

- Đúng vậy, thời gian gần đây Thần Chiến liên tục có chuyển biến, gây xáo trộn lớn đến sự cân bằng của cả sáu cõi Luân Hồi.

Nhà sư nghe vậy thì vội vàng hỏi:

- Thần Chiến là cuộc chiến dai dẳng hàng vạn năm giữa Cõi Trời và Cõi Tu La. Mười bảy Thần Chiến trước đây đều gây ảnh hưởng nặng nề lên các cõi. Thần Chiến thứ mười tám này chắc không phải ngoại lệ. Thưa đức thánh, người có tin tức gì mới về Thần Chiến sao?

- Chư Thiên(1) trên Cõi Trời bất ngờ thất bại liên tiếp. Thành Tây Thượng Thiên đã chính thức thất thủ, còn Bắc Thượng Thiên thì bị quân Tu La(2) vây hãm gắt gao. – Đức thánh Tản vừa dứt lời, ba vị còn lại đều tỏ ra vô cùng kinh hãi.

Chúng ta nên biết thế gian có sáu cõi là Cõi Trời, Cõi Tu La, Cõi Người, Cõi Quỷ, Cõi Súc Sinh và Cõi Địa Ngục. Sáu cõi này còn được gọi dưới cái tên Lục Đạo Luân Hồi. Tại sao lại gọi là Lục Đạo Luân Hồi, gọi như vậy là vì chúng sinh trong sáu cõi bất kể là Chư Thiên, Tu La, người, quỷ hay súc sinh đều có sinh có diệt. Chúng sinh kiếp này ở cõi này, dựa vào tu hành và chứng quả, kiếp sau sẽ được đầu thai vào cõi khác. Những kẻ tàn ác thì bị đày xuống Địa Ngục để chịu phạt chứ không được đầu thai. Các vị phật thì ở Cõi Phật tồn tại độc lập và không nhập vào Lục Đạo Luân Hồi. Vì thế Phật Giáo vẫn luôn coi mình là con đường sáng duy nhất để thực sự giải thoát còn Đạo Giáo chỉ là đường đi nửa chừng, giúp người ta lên Cõi Trời nhưng vẫn phải nhập vào Luân Hồi. Đạo Giáo thì lại cho rằng Phật Giáo hoàn toàn đứng ngoài Luân Hồi, thực tế là chịu kiếp vô vi không dứt là con đường không đúng. Còn Đạo Giáo sau khi tu luyện sẽ được đầu thai vào Cõi Trời. Một khi đã là Chư Thiên trên Cõi Trời thì vạn vạn kiếp sau sẽ luôn là Chư Thiên, hưởng cuộc sống sung sướng vĩnh viễn. Vì thế Đạo Giáo mới là con đường chân chính để theo đuổi. Đạo, Phật không ai chịu ai, tranh luận ngàn đời không dứt.

Trong sáu cõi Luân Hồi thì Cõi Trời được xem là hùng mạnh nhất. Tại Cõi Trời, khu vực trung tâm được gọi là Ngọc Hoàng Ngự, chính là nơi ở của Ngọc Hoàng Thiên Đế, vị vua đứng đầu toàn bộ thần tiên. Xung quanh Ngọc Hoàng Ngự là vùng Tam Viên, cũng là chốn dung thân của rất nhiều thần tiên quan trọng trên Cõi Trời. Và để bảo vệ Ngọc Hoàng Ngự cũng như cả vùng Tam Viên, Chư Thiên cho đặt bốn thành lớn là thành Bắc Thượng Thiên, Nam Thượng Thiên, Đông Thượng Thiên và Tây Thượng Thiên. Khu vực đặt bốn thành này được gọi là Nhị Thập Bát Tú vì mỗi nơi đều có bảy vì tinh tú trấn thủ xung quanh.

Và từ xưa đến nay, bốn thành Thượng Thiên luôn được coi là thành trì bất khả xâm phạm của Cõi Trời. Bên ngoài vùng Nhị Thập Bát Tú lại có hàng nghìn thành trì lớn nhỏ khác nhau, tạo nên vùng Thiên Cương Địa Sát là khu vực rìa của Cõi Trời. Tu La và Chư Thiên qua hàng vạn năm tồn tại đã xảy ra hàng nghìn cuộc chiến lớn nhỏ. Các cuộc chiến lớn và có ảnh hưởng lên toàn bộ sáu cõi thì được gọi là Thần Chiến. Tuy nhiên từ trước đến nay, ngay cả đối với các Thần Chiến dữ dội nhất, quân Tu La cùng lắm chỉ chiếm được các thành trì vùng Thiên Cương Địa Sát chứ chưa bao giờ hạ gục nổi một thành Thượng Thiên nào. Vì thế, khi nghe đức thánh Tản nói thành Tây Thượng Thiên đã bị hạ, Bắc Thượng Thiên thì bị bao vây, cả ba vị còn lại đều cảm thấy ngạc nhiên không thốt nên lời.

- Không thể thế được, quân Tu La tuy hung hăng, thiện chiến nhưng từ trước đến nay Thần Chiến luôn cân bằng. Từ khi tôi đắc đạo tới nay chưa bao giờ nghe nói Tu La có thể vượt qua được vùng Thiên Cương Địa Sát. Cách đây hơn một năm tôi còn nhận được thông tin quân Tu La đánh mãi không chiếm nổi chục thành ở vùng này. Tại sao chỉ trong thời gian ngắn mà chiến sự đã biến đổi nhanh chóng vậy? - Lão Đầu Tử cau mày, hỏi.

Đức thánh Tản nghe vậy thì thở dài, đáp:

- Nguyên nhân Chư Thiên liên tục thất bại thì ta không rõ. Có thể Tu La tìm ra được cách thức gì đó hoặc trong nội bộ Chư Thiên có vấn đề để Tu La tận dụng được.

- Nếu Tu La chiếm được Cõi Trời, thì kết quả… sẽ như thế nào đây? - Giọng trẻ con sợ hãi kêu lên.

Đức thánh lắc đầu, đáp:

- Thì trật tự của toàn bộ sáu cõi Luân Hồi sẽ bị đảo lộn. Tuy nhiên chưa cần tới mức đấy, ngay bây giờ đây khi cuộc chiến giữa Chư Thiên và Tu La vào hồi căng thẳng đã gây ảnh hưởng lớn tới toàn bộ sáu cõi rồi.

Lão Đầu Tử nghe thế thì gật đầu:

- Đức thánh nói phải lắm, khi Chư Thiên và Tu La bận đánh nhau sống chết thì cả Cõi Quỷ lẫn Cõi Người đều bị bỏ mặc kệ không ai quản lý. Tại Cõi Người, bọn yêu ma bắt đầu trỗi dậy làm loạn. Còn tại Cõi Quỷ, lũ khát máu lúc nào cũng nhăm nhe tìm cơ hội mò lên Cõi Người để phá phách. Thần Chiến càng kéo dài thì sự hỗn loạn trong sáu cõi càng thêm mạnh mẽ.

Nghe Lão Đầu Tử nói, cả ba vị không ai bảo ai cùng đồng loạt thở dài. Tại sáu cõi Luân Hồi, ngoài Địa Ngục hoàn toàn tách biệt so với các cõi khác, đóng vai trò là nơi trừng phạt chúng sinh tạo nghiệp ác và luân chuyển linh hồn kẻ đã chết, năm cõi còn lại có mối tương quan phụ thuộc, cai quản và tranh đấu lẫn nhau. Cõi Súc Sinh bị Cõi Người chăn dắt, Cõi Người lại chịu sự quản lý của Cõi Trời, Cõi Tu La thì ra lệnh được cho Cõi Quỷ. Tu La với quỷ cũng có ảnh hưởng như Chư Thiên với người vậy. Do vậy cuộc chiến giữa Chư Thiên và Tu La nếu kéo dài và khốc liệt, ngay lập tức sẽ ảnh hưởng rõ rệt lên các cõi còn lại của Lục Đạo.

- Ta còn nhận được một tin quan trọng là đức Long Đế đã dẫn quân Bát Hải lên Cõi Trời cứu nguy. Và trước khi đi, người đã cho truyền Gươm Rồng xuống phương Nam. - Đức thánh vuốt chòm râu bạc, trầm ngâm nói.

- Gươm Rồng được truyền xuống phương Nam rồi sao? - Ba vị còn lại thêm một phen sửng sốt.

- Mỗi lần Gươm Rồng xuất hiện là y như rằng sắp có biến cố lớn xảy ra. - Nhà sư thở dài, khuôn mặt nghiêm nghị đã bắt đầu hằn lên các nét lo âu. - Đúng thế, đức Long Đế hiện giờ chính là Bố Rồng Lạc Long Quân, thủy tổ của đất phương Nam. Người lúc nào cũng lo lắng, quan tâm cho con cháu mình. Vì thế mỗi lần đoán trước phương Nam sắp xảy ra kiếp nạn, Bố Rồng liền cho truyền Gươm Rồng xuống để giúp con cháu vượt qua cơn sóng gió bão tố.

- Thưa đức thánh, ngài có thông tin gì về địa điểm cụ thể hạ phàm của Gươm Rồng không?

- Chưa có thông tin gì! - Đức thánh lắc đầu, đoạn lại nói. - Chúng ta từ trước đến nay tuy khước từ bổng lộc và chức tước của Cõi Trời, tự mình cai quản phương Nam nhưng khi Cõi Trời lâm nguy thì ảnh hưởng đến phương Nam không phải là nhỏ. Việc lần này chúng ta không thể hỗ trợ Cõi Trời còn Chư Thiên cũng không đủ người để quản đến phương Nam nữa. Chúng ta phải tự mình giải quyết những rắc rối trên đất này. Các vị có cao kiến gì xin mời đưa ra.

- Tôi nghĩ chúng ta nên phân ra để dẹp yên tình hình các nơi, tránh để yêu quái ngày càng lộng hành. - Lão Đầu Tử nói.

- Lão Đạo ít khi nói gì có lý, có điều lần này bần tăng hoàn toàn đồng ý với ông ta. - Nhà sư cất lời.

Ngay sau đó giọng trẻ con lanh lảnh cất lên:

- Thưa đức thánh, ngài đã sớm có bố trí cả rồi đúng không? Ngài cứ nêu ra đi bọn tôi sẽ chấp hành. Tứ Bất Tử về hình thức là ngang hàng với nhau nhưng chúng tôi luôn theo chỉ đạo của ngài.

Lão Đầu Tử và nhà sư đều gật gù, hướng về phía đức thánh. Chủ nhân núi Tản trầm ngâm một lúc rồi cất lời.

- Các vị, như đã biết phương Nam có bốn vùng đất vô cùng quan trọng, tụ tập linh khí của đất trời được đặt tên theo các bộ phận trên thân thể loài rồng bao gồm: Đầu Rồng, Tim Rồng, Ngọc Rồng và Đuôi Rồng. Đầu Rồng nằm ở phía Bắc chính là ngọn Phiên Tây Lung tập trung linh khí toàn bộ núi rừng. Ngọc Rồng ở phía Đông là kinh đô Thăng Long nơi sông ngòi tụ hội. Đuôi Rồng ở phía Nam nằm tận cùng dãy Trường Sơn, tọa lạc trong kinh đô Đồ Bàn của người Chiêm. Cuối cùng là Tim Rồng, nơi linh thiêng nhất của phương Nam, chính là ngọn Tản Viên này đây. Bốn vùng đất này có các long mạch(3) cung cấp khí thiêng cho phương Nam, nuôi dưỡng thánh thần, bảo vệ cư dân, là các pháo đài quan trọng chống lại yêu ma quỷ quái. Dù có bất kỳ chuyện gì xảy ra, chỉ cần giữ vững long mạch tại bốn vùng đất là phương Nam sẽ trường tồn. Tim Rồng là nơi quan trọng nhất nên ta phải định cư ở đây, trấn giữ hàng nghìn năm trời, hiện tại lại càng cần bảo vệ nghiêm ngặt. Còn lại ba nơi là Đầu, Ngọc và Đuôi, các vị phân chia nhau cùng coi sóc.

Đức thánh vừa dứt lời, Lão Đầu Tử đã cười khà khà, nói:

- Đầu Rồng nằm trên đỉnh Phiên Tây Lung vùng Tây Bắc. Mấy trăm năm gần đây các thầy phép dân tộc có lập một phủ tên là Cao Sơn trấn giữ vùng ấy. Tôi có chút ít cơ duyên với Cao Sơn, Đầu Rồng xin giao cho tôi đi.

- Vậy nhờ lão Đạo cất công lên Tây Bắc một phen. - Đức thánh gật đầu đồng ý.

- Thành Thăng Long là nơi tôi ở hàng chục năm, cố nhân tại đấy không ít. Vùng Ngọc Rồng xin để lại cho Không Tăng này. – Nhà sư lên tiếng.

- Hì hì, hai lão này xí phần nhanh quá. Còn lại Đuôi Rồng, Đổng Sóc tôi đành nhận nốt.

Đức thánh Tản vuốt chòm râu bạc ra vẻ hài lòng:

- Được, có các vị trấn giữ ba vùng đất còn lại thì dù tương lai có xảy ra chuyện gì cũng không quá đáng lo. Lần họp này kết thúc tại đây, các vị mau lên đường càng sớm càng tốt. Có vấn đề gì Tứ Bất Tử chúng ta sẽ liên lạc theo cách thức thường dùng.

Đức thánh vừa dứt lời, trời đột nhiên chuyển mây đen, sấm chớp ầm ầm kéo tới tạo thành cơn dông lớn. Nhìn thấy sắc trời mù mịt, đức thánh Tản tái mặt giận dữ, quát:

- Kẻ nào to gan dám xâm phạm bẫy sấm sét của ta!

Sấm chớp rạch nhì nhoằng mấy đường trên nền trời đã chuyển ra màu xám tro. Rồi nghe đùng một tiếng, tia sét như mũi tên khổng lồ xuyên nát nền trời u ám, nhằm thẳng hướng hậu điện của đảo thánh mà đánh tới. Khi tia sét bay qua đầu, Tứ Bất Tử với tài phép cao siêu vẫn cảm nhận được luồng nóng bỏng và cái uy doanh tột cùng của trời đất. Một tiếng nổ lớn vang lên, cát bụi bay mù mịt, đảo thánh rung lên bần bật như gặp phải trận động đất.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Chư Thiên: tức là các thần tiên trên Cõi Trời.

(2) Tu La: tức là các ác thần, có sức mạnh, có phép thuật nhưng luôn đối chọi với các Chư Thiên.

(3) Long mạch: là địa điểm tụ tập tinh hoa và khí lành của cả một khu vực rộng lớn. Người xưa tin khi xây mộ, dựng nhà hoặc thành trì, kinh đô đúng long mạch thì sẽ thu hút được khí tốt, có thể làm thịnh vượng cho cả dòng họ hoặc quốc gia.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau