THẦN CHIẾN TRIỀU TRẦN

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thần chiến triều trần - Chương 26 - Chương 30

Quyển 1 - Chương 26: Làng Mộc Miên

Làng Mộc Miên vốn do cụ tổ bốn đời của Nguyễn Phú và cụ ba đời Phạm Kháng lập nên. Do làng có vị trí gần kinh thành lại nằm ngay trên mỏ đất sét loại tốt, nên rất thuận tiện cho nghề gốm. Hai họ Nguyễn, Phạm nhờ mỏ đất sét mà giàu lên nhanh chóng, làng xóm cũng vì thế ngày càng trú phú, phát triển.

Tuy nhiên đến đời bố Phạm Kháng, thì ông phát hiện ra một bí mật động trời mà tổ tiên đã che giấu. Hóa ra làng tuy nằm trên mỏ đất sét nhưng nguồn nước lại nhiễm độc nặng. Nguồn nước của làng nhờ có đất sét khử độc, dân làng mới có thể sống yên ổn. Tuy nhiên khai thác đất sét càng nhiều, nước được khử độc càng ít, dân làng nguy cơ nhiễm bệnh càng cao. Vì thế ông nội Nguyễn Phú mới cho trồng cây gạo khắp làng nhằm tạo ra dược liệu giải độc. Vào lúc đấy, bố Phạm Kháng đã phát hiện ra việc nước nhiễm độc, mới đề nghị hội đồng hương chức dừng việc khai thác đất sét. Vì nếu cứ tiếp tục khai thác, thì cả làng có mọc đầy cây gạo cũng không thể cứu được mọi người.

Nhưng hội đồng hương chức do ông nội Nguyễn Phú đứng đầu vì kế sinh nhai đã bất chấp hết, dấu việc nhiễm độc nước sau đó còn hãm hại khiến bố Phạm Kháng chết bất đắc kỳ tử(1). Phạm Kháng là đứa con duy nhất cũng bị đầu độc, thân thể thành ốm yếu chỉ có thể đi ăn xin để sống qua ngày. Khi Phạm Kháng mất, linh hồn không siêu thoát được mới náu tại Mộc Miên Đại Thụ cho đến nay.

Đến đời Nguyễn Phú, tuy thấy nguồn nước đã ô nhiễm nặng, nhưng vẫn vì lòng tham không đáy mà tiếp tục khai thác đất sét không ngừng nghỉ, mặc cho bệnh tình dân trong làng càng lúc càng khó chữa.

- Khi chuột tinh tới chiếm cây cổ thụ, phong ấn linh hồn ta, dùng phép ma lừa phỉnh dân làng, thì các ngươi lại đi phong nó làm thành hoàng, hương khói và phục dịch quanh năm. Bây giờ xảy ra việc lại đến cầu xin ta. Các ngươi hãy nói cho ta nghe xem, các ngươi có đáng được cứu không? - Phạm Kháng mắng sa sả, nước bọt văng tung tóe, dáng vẻ hùng hổ, oai phong.

Ba vị hương chức nghe chửi thì im thin thít, cả thở cũng không dám chứ đừng nói cãi lại nửa lời.

Ngô Soạn thấy thế thì thở dài, nói:

- Cứu hay không tùy ngươi, quả thật không ai ép được.

Nói đoạn vị phán sự khoát tay, Phạm Kháng thân thể lại cử động được bình thường.

- Ha ha, ta tự do rồi. - Phạm Kháng nhảy lên hò reo mừng rỡ. Gã hò reo chán chê xong liền giơ tay chỉ mặt ba vị hương chức.

- Gieo nhân nào gặt quả nấy, các ngươi tự cứu mình đi. Ta không rảnh.

Dứt lời gã ăn mày quay người, dáng vẻ nhấp nhổm định bỏ đi. Ba vị hương chức thấy thế thì dập đầu lia lịa.

- Ăn mày quan lớn, là chúng con sai rồi!

Bọn Nhật Duật được thêm một phen dở khóc dở cười. Đã “ăn mày” lại còn “quan lớn”, ba vị hương chức đúng là sợ chết nên loạn hết trí lên rồi.

- Ăn mày quan lớn, tội lỗi của chúng con đúng là chết nghìn lần không gột hết. - Nguyễn Phú vừa dập đầu, vừa nói.

- Ngài không cứu chúng con là hợp tình hợp lý, mấy lão già bọn con không dám oán một câu. Nhưng ngài nhìn xem, hơn trăm đứa trẻ trong làng đều vô tội, chúng không đáng phải chịu tội nghiệt thay cho cha ông chúng. Và trong số bọn chúng cũng có không ít con cháu họ Phạm.

Như phụ họa cho lời Nguyễn Phú, tiếng gào khóc của trẻ con vang lên ầm ĩ. Trên sân đình, kẻ già người bé đều lăn lộn, nhất thời nhốn nháo cả vùng. Phạm Kháng nhìn qua một lượt. Góc này thì bà lão run rẩy, góc kia thì trẻ thơ kêu rên, chỗ khác thì lại vang lên tiếng ỉ ôi của mấy đứa con gái.

Phạm Kháng thấy tình cảnh thế thì thở dài, nói:

- Có thật là mọi người trong làng không qua được khi trời sáng không?

Lần này Vi Mai là người lên tiếng:

- Đúng vậy, bệnh tình của họ đã quá nặng rồi.

Phạm Kháng nhắm mắt lại, khi mở ra thì thần thái đầy kiên định, không còn có vẻ hèn hạ của một gã ăn mày nữa.

- Được, vậy nhờ các vị đưa tôi đi hồi sinh Mộc Miên Đại Thụ.

Ngô Soạn nghe gã nói vậy thì cười lớn:

- Hay lắm, ngươi quả thực xứng đáng làm thành hoàng của làng này.

Vị phán sự nói dứt lời liền xách bổng gã ăn mày lên chạy vào gian chính của đình. Phía sau Nhật Duật, Vi Mai và Bạc Nương bám theo ông sát gót.

* * * * *

Ngô Soạn ngồi xếp bằng giữa gian chính đình làng, tinh thần tập trung cao độ. Từ người ông phát ra ánh sáng màu xanh lá chiếu lên người Phạm Kháng và Mộc Miên Đại Thụ.

- Tụ Mộc Hóa Lâm. - Ngô Soạn hô lớn. Ánh sáng xanh tràn qua toàn bộ căn phòng, nhuộm khuôn mặt tất cả mọi người thành một màu mạ non.

Qua mất một lúc, ánh sáng xanh dần nhạt đi. Ngô Soạn thở ra hồng hộc, khắp người mồ hôi đầm đìa. Phạm Kháng giờ đây đã biến mất, thay vào chỗ gã ăn mày vừa ngồi là cành cây mục. Còn phía bên trên thân Mộc Miên Đại Thụ xuất hiện một bóng sáng trắng như cánh bướm khổng lồ.

- Không đủ lực… - Ngô Soạn nói đoạn nhắm mắt tĩnh dưỡng. Mồ hôi ông tuôn ra như suối ướt đẫm hết quần áo.
Mọi người nghe ba từ “không đủ lực” thốt ra từ miệng vị phán sự thì đều cảm thấy lo lắng, chăm chú quan sát cây cổ thụ. Chỉ thấy ánh sáng trắng chớp lên một cái, nhập vào bên trong thân cây rồi tắt hẳn. Ánh sáng xanh lá bao phủ xung quanh tuy có làm cho cây tươi hơn một chút nhưng cũng nhanh chóng nhạt dần rồi nối gót ánh sáng trắng mà tàn đi.

- Ân nhân, thế này là sao? - Ba vị hương chức hốt hoảng kêu lên. Nhìn tình hình hiện tại trẻ con cũng biết có điều không ổn.

Ngô Soạn không nói gì chỉ ngồi bất động, có lẽ ông không còn sức mà nói nữa.

- Lão ngốc ơi là ngốc! - Bạc Nương lúc lắc đầu. Điệu bộ của nàng rất đáng yêu nhưng Ngô Soạn đang nhắm mắt dưỡng thần chỉ nghe được lời trêu chọc. Ông tức giận suýt ộc máu mồm.

- Lão già thối đã biến thành cây khô rồi. Vui quá là vui!

Nhật Duật đang định cất tiếng bảo Bạc Nương đừng gây thêm rắc rồi thì nàng đã chạy lon ton lại phía Mộc Miên Đại Thụ.

- Lão già cây, chơi với ta nhé! - Bạc Nương nói đoạn giơ hai tay ấn mạnh vào cây. Ánh sáng xanh lá đã mất đột nhiên xuất hiện trở lại, thậm chí còn rực rỡ hơn lúc trước gấp mấy lần.

- Lão già cây, dậy này!

Ánh sáng xanh càng lúc càng chói, rồi trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, nó cuốn lên thân cây mục rỗng như dòng suối xanh tươi mát ôm núi cao diệu vợi rót xuống ruộng vườn. Gió bỗng thổi, ngân nga khúc nhạc vi vu vui tai. Ánh sáng xanh càng chói hơn, bao phủ hoàn toàn thân cây vào trong lòng nó để thỏa sức vỗ về, ôm ấp. Lát sau, ánh sáng dịu dần, trước mặt mọi người hiện ra một thân cổ thụ to lớn, vững chãi, tràn đầy sức sống thay thế cho cái cây mục nát lúc trước.

Gió xào xạc thổi, từ ngoài đình vọng vào những tiếng hò reo ầm ĩ. Ba vị hương chức ba chân bốn cẳng chạy ra ngoài, bọn Nhật Duật tuy không bị kiết lỵ đe dọa đến tính mạng nhưng cũng vội vã bám theo.

Trước đình làng ngập một màu đỏ, là sắc của hoa gạo tung bay đầy trời.

- Cảm tạ Mộc Miên Đại Thần! Cảm tạ Mộc Miên Đại Thần! - Toàn bộ dân làng đều quỳ xuống, hướng về phía đình làng vái lạy.

Trong không trung, trên nóc nhà, khắp sân đình, đâu đâu cũng thấy hoa gạo phủ kín.

- Chỗ này đủ để chế thuốc chữa bệnh rồi. Các ngươi đúng là cao số đấy. - Vi Mai quay sang ba vị hương chức nói.

Ba vị hương chức tuy nghe ra giọng điệu mỉa mai của nàng nhưng vẫn ngoác mồm cười. Dù gì thì tính mạng vẫn là quan trọng nhất.

- Việc này là sao? - Nhật Duật đột nhiên kêu lên. Mọi người ban đầu chưa hiểu gì nhưng dõi theo ánh mắt của chàng thì liền phát hiện ra sự lạ.

Số là chuột tinh sau khi chết thân thể đã mất đi màu đồng, trở lại nguyên hình là con chuột khổng lồ toàn thân trụi lông với nước da trắng ởn. Và hiện giờ phủ trên thân hình to lớn nằm thù lù một đống trên nền đất ẩm là hằng hà sa số các cánh hoa tàn héo.

Mọi người để ý quan sát kỹ thì thấy các cánh hoa gạo trong không trung bay lại gần xác của chuột tinh trong vòng mười thước đều bị tàn úa rồi rơi xuống đất.

- Trong người yêu tinh có vật lạ! - Ngô Soạn nói đoạn chạy vội về phía con chuột. Bọn Nhật Duật thấy vậy liền bám theo sau.Chỉ nghe “phập” một tiếng, Ngô Soạn đã ném cây bút lông cắm sâu vào bụng chuột tinh. Sau đó vị phán sự lại gần rút cây bút ra, trên đầu bút cắm theo hạt cây đen xì.

- Đây là thứ gì?

Ngô Soạn vừa giơ hạt cây lên đột nhiên người xiêu đi, thân mình loạng choạng suýt ngã.

- Tà vật! – Vị phán sự kêu to rồi vội vã ném cây bút ra xa. Trên trán ông lấm tấm mồ hôi.

Nhật Duật thấy vậy thì lo lắng lại gần, hỏi:

- Phán sự, có chuyện gì vậy?

Ngô Soạn đứng như trời trồng, trợn mắt nhìn vào hạt lạ trên đầu cây bút đang nằm chỏng chơ dưới đất, thốt lên đầy kinh hãi:

- Đây là thứ gì, sao nó có thể làm huyền lực trong người ta rối loạn một cách dễ dàng?

Gió lớn chợt nổi lên đầy trời, có bóng trắng như ánh chớp lướt qua chỗ cây bút. Bóng trắng tụ lại trên thân cây gạo đối diện rồi biến thành một thư sinh. Thư sinh mặt mũi sáng sủa, vóc dáng cao gầy nhưng không ẻo lả. Trang phục của thư sinh vô cùng đẹp đẽ, nhìn thoáng qua tương đối giống với các vương công quý tộc triều đình, nhưng trên áo của thư sinh lại có một số họa tiết kỳ lạ mà Nhật Duật chưa từng thấy bao giờ. Thư sinh cầm cây bút của Ngô Soạn trên tay, vừa ngắm nghía vật găm trên đầu bút, vừa điềm tĩnh cất lời:

- Thứ này cực kỳ nguy hiểm, các ngươi không nên đụng vào.

Ngô Soạn thấy vậy thì tức tối bước tới trước, hầm hầm nói:

- Nguy hiểm hay không tự ta suy xét được. Ngươi là thần hay là yêu? Ở phương nào tới? Vật kia rất quan trọng mau trả lại cho ta!

Thư sinh mặc kệ thái độ hùng hổ của Ngô Soạn, chỉ lắc đầu đáp:

- Ta bảo rồi vật này vô cùng nguy hiểm, tốt nhất là để ta giữ.

- Ngươi…

Ngô Soạn đang định động tay động chân thì bị Nhật Duật ra sức kéo lại.

- Phán sự cứ bình tĩnh đã, có gì nói chuyện thêm vài câu rồi hẵng hay.

Chiêu Văn Vương nói đoạn chắp tay về hướng thư sinh vái chào rồi hỏi:

- Chẳng hay quý anh tên họ là gì? Trông bộ dạng quý anh chắc là khách từ phương xa tới.

Trái với suy đoán của mọi người, thư sinh lại lắc đầu nói:

- Ta ở gần đây thôi. Tên ta… ờ, lâu lắm rồi không sử dụng. Trước đây ta ở một nơi gọi là Tiểu Thạch Sơn, vậy các ngươi cứ gọi ta là Thạch Sơn đi.

- Tiểu Thạch Sơn ư? Gần đây làm gì có nơi nào gọi là Tiểu Thạch Sơn? - Nhật Duật nghe thế thì cau mày. Chàng sinh trưởng tại thành Thăng Long, tính tình lại thích tìm hiểu, ham đi đây đó. Vùng kinh đô và ngoại ô xung quanh Nhật Duật đã ngao du chán chê nhưng chàng chưa bao giờ nghe thấy cái tên Tiểu Thạch Sơn cả.

- Ta có việc cần đi gấp, không rảnh đề trò chuyện với các ngươi. - Thạch Sơn nói đoạn nhảy xuống khỏi cành cây, tung mình chạy đi.

- Đứng lại, mau trả lại ta bút và hạt cây. - Ngô Soạn tức tối đuổi theo.

Nhật Duật thoáng ngỡ ngàng rồi cũng đề khí, chạy theo Ngô Soạn. Chỉ trong chốc lát ba người đã mất hút vào màn đêm tối.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Bất đắc kỳ tử: chết một cách bất ngờ, đột ngột.

Quyển 1 - Chương 27: Thạch Sơn

Hương trưởng Nguyễn Phú tiến lại chỗ mọi người, vòng tay cảm tạ:

- Tôi thay mặt dân làng xin cảm ơn các vị đã vất vả dốc sức cứu chữa.

Vi Mai lườm y sắc lẹm, đáp:

- Tạm thời dân làng không còn bị đe dọa đến tính mạng nữa. Thuốc ta chế biến còn rất nhiều, ngươi cứ sao lại thành viên cho mọi người uống. Nhưng nguồn bệnh là do nước, muốn trị dứt bệnh ta khuyên các ngươi nên tìm chỗ khác mà sinh sống.

- Việc này… - Nguyễn Phú suy nghĩ rồi lắc đầu.- Sau sự việc lần này tôi cũng muốn dời làng đi chỗ khác, có điều nơi này đã được ông cha tôi gây dựng bao nhiêu đời nên thực sự không nỡ bỏ.

Hai người đang nói chuyện đột nhiên có tiếng hét lớn chen ngang:

- Mộc Miên… Mộc Miên Đại Thụ bị làm sao kia???

Vi Mai và Nguyễn Phú nghe thế thì ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy các tán lá của cây gạo khổng lồ đang tàn héo đi nhanh chóng. Hoa gạo cũng không còn nở ra nữa.

- Đi mau! - Vi Mai nói đoạn chạy thẳng vào gian chính của đình. Nguyễn Phú và Bạc Nương vội vã theo sau.

Ở bên trong đình, mọi người ngỡ ngàng thấy Mộc Miên Đại Thụ đã lại héo chết thành một thân khô.

Vi Mai thở dài, nói:

- Mộc Miên Đại Thụ cố gắng nở hoa để cứu các ngươi. Nhưng huyền lực của cây mới được bổ sung từ Phạm Kháng vốn chẳng có nhiều vì thế sau khi tạo ra hoa thì cây lại chết héo.

Ba vị hương chức nghe thế thì khóc ròng:

- Là bọn tôi sai rồi. Sai lầm của bọn tôi đã hại chết Mộc Miên Đại Thụ.

- Ý lão già thối vẫn còn kìa! - Bạc Nương nói đoạn chạy lại phía Mộc Miên Đại Thụ rồi vớt ra một quầng sáng lập lòe từ cái hốc to trên thân cây.

- Mau, mang cho ta cái nồi kia! - Vi Mai chỉ tay vào góc nhà nơi có chiếc nồi đất nhỏ chắc của người giữ đình khi trước vứt lại. Chiếc nồi tuy không sứt sẹo gì nhưng phủ đầy bụi bẩn và mốc meo.

Nguyễn Phú ba chân bốn cẳng chạy đi lấy nồi rồi mang lại cho Vi Mai.

- Bạc Nương, em mang gã Phạm Kháng lại đây cho ta.

Bạc Nương nghe thế thì khum tay, ôm quầng sáng bước tới chỗ Mai. Quầng sáng so với lúc ban đầu đã nhạt hơn đôi chút. Vi Mai rút từ trong người ra một lá bùa màu vàng rồi hô lớn:

- Thu Hồn Nhập!

Quầng sáng trên tay Bạc Nương nghe lời chú của Vi Mai liền bay vèo lên không mấy vòng rồi chui tọt vào lá bùa vàng. Mai ném lá bùa vào trong chiếc nồi rồi đậy chặt nắp lại.

- Linh hồn Phạm Kháng đang ở trong này. Gã do giúp sức Mộc Miên Đại Thụ nên huyền lực bị ảnh hưởng nặng nề, linh hồn suýt bị tan thành mây khói. Ta tạm thời phong ấn gã vào trong chiếc nồi để giúp gã ổn định linh hồn, hồi phục huyền lực. Dù sao các ngươi đã thừa nhận Phạm Kháng là thành hoàng vì thế ta giao lại chiếc nồi cho các ngươi. Nhớ tuyệt đối không được tùy tiện mở ra.

Ba vị hương chức nghe thế thì vâng dạ luôn mồm, vừa nhận được chiếc nồi từ tay Vi Mai liền đè nghiến xuống đất, lấy dây mây sẵn có trong đình trói chặt từ miệng nồi xuống đáy ba bốn lần. Sau đó bọn họ cung kính nâng chiếc nồi mốc lên như nâng hộp châu báu.

- Còn nữa, nay Mộc Miên Đại Thụ đã héo khô, bệnh của các ngươi nếu phát tác không cách gì chữa được. Nên tính chuyện dời làng sớm đi.

- Chúng tôi biết rồi! - Ba vị hương chức nghe Mai nói vậy thì mặt buồn rười rượi, đáp.

- Mai, cô mau ra đây! - Giọng Ngô Soạn từ ngoài sân bất chợt vọng vào.

Vi Mai và Bạc Nương nghe ông ta gọi liền vội vã chạy ra.
* * * * *

Khi Vi Mai và Bạc Nương ra đến sân đã thấy Nhật Duật đang ngồi xếp bằng dưới đất, sắc mặt xanh tím biến đổi lẫn lộn. Ngô Soạn đứng sau lưng Chiêu Văn Vương, lắc đầu ra chiều ngán ngẩm:

- Ta đã bảo y nên sử dụng Địa Lôi Phục chưởng pháp một cách thận trọng. Vậy mà thằng nhóc này vẫn cứ dùng bừa bãi, hậu quả bị gã Thạch Sơn kia đánh trả một chưởng suýt tẩu hỏa nhập ma.

- Gã Thạch Sơn kia lợi hại lắm sao? - Vi Mai hỏi lại.

Ngô Soạn thở ra một hơi, đáp:

- Rất lợi hại, gã đánh ra một chưởng là phá tan được mấy chiêu sấm sét của Chiêu Văn Vương. Sau đó gã thuận tay ném trả cây bút cũng bức ta phải lùi hơn ba trượng mới giữ được. Nếu gã thực sự ra tay thì e bọn ta chẳng về được đến đây. Ta suy nghĩ mãi mà không nhớ ra ở phương Nam có nhân vật nào như vậy.

- Hay gã từ phương Bắc xuống?

Ngô Soạn lắc đầu, đáp:

- Không có khả năng, với tính cách của gã chắc chắn sẽ không mạo nhận thân phận. Mà cái đó chúng ta tìm hiểu sau, việc cần làm hiện giờ là phải cứu chữa cho Chiêu Văn Vương trước đã. Y bị gã Thạch Sơn kia bế khí, chưởng pháp sấm sét còn chưa kịp phát ra đã bị đánh bật lại. Hiện tại các tia sét đang chạy loạn trong người y. Giờ ta và cô phải hợp sức điều tia sét trong người Chiêu Văn Vương chạy ngược trở về Đan Điền, nhờ Địa Linh Thần ở đó hấp thu dần.

Vi Mai nghe vậy liền ngồi xếp bằng xuống, đang định giơ hai chưởng ra đặt vào lưng Nhật Duật thì Ngô Soạn đã xua tay ngăn cản.

- Cô truyền từ huyệt Đản Trung ở phía trước vào, huyệt Phế Du phía sau lưng để ta truyền cho. Ta với y có cùng Địa Linh Thần, truyền vào huyệt Phế Du sẽ thuận lợi hơn. Cô truyền khí vào huyệt Đản Trung trợ giúp ổn định Địa Linh Thần của ta thôi.

- Nhưng…

Mai mặt đỏ lựng lên, đang định phản đối thì Ngô Soạn đã lắc đầu nói:

- Huyệt Đản Trung(1) nằm ở vị trí nhạy cảm nhưng cứu người là quan trọng cô không nên giữ lễ nghĩa nhiều quá làm gì.

Vi Mai nghe Ngô Soạn nói thế cũng không ý kiến gì thêm, đỏ mặt đứng dậy rồi ngồi xuống phía trước Nhật Duật. Chiêu Văn Vương tuy trán đầm đìa mồ hôi, mặt lúc xanh lúc tím nhưng dường như vẫn nghe được đối thoại giữa Ngô Soạn và Vi Mai, miệng khẽ nở một nụ cười. Mai chẳng biết làm sao, đành đưa chưởng ra vụng về chạm vào huyệt Đản Trung của chàng.

Ngô Soạn thấy thế nghiêm giọng, nói:
- Cứu người là quan trọng, xin cô tập trung cho.

- Tôi biết rồi. - Mai cắn môi đáp.

- Bắt đầu thôi!

Ngô Soạn nói đoạn truyền Địa Linh Thần vào trong người Nhật Duật. Ở phía đối diện Mai cũng truyền huyền lực hỗ trợ Địa Linh Thần đè nén các tia sét, bắt ép bọn chúng chảy ngược về Đan Điền của Chiêu Văn Vương.

Sau khoảng thời gian tàn một nén hương, Ngô Soạn và Vi Mai cùng rút chưởng về. Lúc này quần áo của Nhật Duật ướt đẫm mồ hôi, nhưng mặt chàng thì đã hồng hào trở lại không còn xanh tím như trước nữa.

- Phù, đa tạ hai vị. – Nhật Duật mở mắt ra. Ánh mắt chàng phát sáng như tia chớp trong đêm tối.

Ngô Soạn thấy Duật đã nói được thì mừng rỡ:

- Chiêu Văn Vương ngươi lần này tuy suýt bị tẩu hỏa nhập ma nhưng lại được ta và Mai cứu chữa kịp thời. Đồng thời nhờ việc này mà hình thành nên đường vận chuyển các tia sét trong cơ thể chạy ngược về Đan Điền. Từ giờ trở đi, mỗi khi ngươi sử dụng sấm sét sẽ đỡ bị ảnh hưởng hơn. Xem ra ngươi được lợi không ít đâu.

- Đúng vậy, lần này tôi thực sự mang ơn hai vị rất nhiều.

Ngô Soạn cười ha hả, đáp:

- Ngươi đích thân được đức thánh Tản truyền cho Địa Linh Thần thì cũng coi như là người của núi Tản Viên. Việc cứu ngươi là điều đương nhiên ta phải làm. Nếu cần cảm ơn thì ngươi hãy cảm ơn Mai đi.

- Mai, tôi vô cùng cảm kích…

- Hừ, đồ tồi… Tại sao vương lại để tên Thạch Sơn kia bế khí chứ? - Vi Mai đột ngột nổi giận, đứng dậy hờn dỗi bỏ đi.

- Nàng… - Chiêu Văn Vương bị người đẹp mắng thì ngẩn tò te, không biết làm thế nào.

Ngô Soạn ra chiều thông cảm vỗ vai chàng:

- Chuyện dính líu đến đàn bà con gái, ta không thể giúp ngươi được.

Nhật Duật nghe ông ta nói vậy chả biết đáp gì, chỉ cười méo xệch. Ngô Soạn chợt nhớ ra một điều, quay sang Nhật Duật bảo:

- Giờ đã muộn rồi, đáng lẽ chúng ta nên nghỉ ngơi để mai vào Thăng Long điều tra dấu vết của Hắc Hổ và gã Thạch Sơn kia. Có điều ta thấy tuy ngươi đã được truyền Địa Linh Thần và có sấm sét trong cơ thể nhưng vẫn chưa hiểu biết cặn kẽ về huyền thuật. Ngươi sử dụng vũ khí mà không rõ về nó thì sẽ rất nguy hiểm. Thế này đi, chúng ta vào trong đình, ta sẽ giảng giải cho ngươi về huyền thuật và đạo thần tiên.

Nhật Duật nghe thấy thế thì mừng rỡ, đáp:

- Vậy xin phiền phán sự một phen!

Ngô Soạn không nói gì chỉ cười gật đầu. Ông đã nhận lệnh từ đức thánh Tản trên đường nếu có cơ hội thì chỉ bảo thêm cho Chiêu Văn Vương. Lần trước vì có rất ít thời gian, nên đức thánh chỉ có thể căn cứ theo phương pháp luyện khí và phát chưởng trong võ học của người phàm, mà hướng dẫn cho Nhật Duật cách sử dụng Địa Linh Thần và huy động sấm sét trong cơ thể. Nhưng những cách đấy chỉ là mô phỏng, dùng tạm chứ không phải bản chất của huyền thuật. Vì thế Ngô Soạn muốn nhân cơ hội này nói cho Chiêu Văn Vương hiểu về bản chất nguồn sức mạnh trong cơ thể chàng.

Vị phán sự vừa đi vừa nghĩ, cùng Nhật Duật nhanh chóng tiến vào trong đình.

* * * * *

* Chú thích:

- (1) Huyệt Đản Trung: là huyệt quan trọng nằm ở giữa hai vú.

Quyển 1 - Chương 28: Ngũ Hành, Ngũ Tượng

Chiêu Văn Vương ngồi giữa đình làng, ngay bên dưới gốc cây cổ thụ đã héo tàn, cành teo tóp, thân quắt queo. Ngô Soạn ngồi đối diện chàng, điệu bộ giảng giải như thầy đồ dạy trò làng. Thấy Nhật Duật chăm chú nghe, viên phán sự núi Tản càng nói càng hào hứng, chốc chốc lại nhấc chân múa tay minh họa.

Thực ra huyền thuật tu luyện mới khó chứ kiến thức chung thì khá đơn giản. Ngô Soạn nói qua một hồi là Nhật Duật đã nắm được hết. Tất cả các loại phép thuật gồm phép tiên, phép ma, phép quỷ, phép yêu… tuy khác nhau về cách tu luyện, nhưng về bản chất thì đều là một và được gọi chung là huyền thuật. Huyền thuật có nhiều phương pháp, nhiều cách định nghĩa và vô vàn cách gọi. Ngô Soạn trước đây là người phàm, ông biết Chiêu Văn Vương có kiến thức về Đạo Giáo tương đối sâu sắc, nên lấy quan niệm của Đạo Giáo mà giảng cho chàng.

Theo Đạo Giáo, tu luyện huyền thuật có ba mức là luyện tinh, luyện khí và luyện thần, tóm lược trong câu “luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư”. Trong cơ thể con người có dòng năng lượng cơ bản nhất gọi là “tinh”. Người tu luyện huyền thuật bước đầu tiên là phải “luyện tinh hóa khí”, tức là luyện cho năng lượng “tinh” trong cơ thể dần biến chuyển thành “khí”, vận chuyển được, sử dụng được và làm tăng công lực cho bản thân.

Việc “luyện tinh hóa khí” từ Đạo Giáo còn được sử dụng trong võ công, chính là cách luyện tập nội công. Nhật Duật tu luyện Đông A Khí Công từ nhỏ nên khi được truyền Địa Linh Thần và Nghịch Chuyển Khí, chàng tiếp thu rất nhanh. Căn bản nó không khác biệt mấy so với thứ mà Duật vẫn rèn luyện hàng ngày.

Sau bước luyện “tinh” mà người phàm nào cũng tập được, đến bước thứ hai là “luyện khí hóa thần”. Chỉ khi luyện tập thành công bước này mới coi như trở thành thần thực sự, và được xếp hạng thần cấp. Thần cấp là cấp bậc của các vị thần tiên, phân chia ra làm bốn loại là hạ đẳng, trung đẳng, thượng đẳng và tối thượng thần.

Các vị thần như thổ địa, hà bá ở mức hạ đẳng thần. Như Ngô Soạn hơn một chút, cấp bậc trung đẳng thần. Còn Tứ Bất Tử thì khác hẳn, các ngài đều là thượng đẳng thần. Phần lớn thần tiên trên Cõi Trời đều ở mức thượng đẳng thần. Lại có các vị thần tiên siêu việt, có khả năng vô hạn như Tứ Đại Thần Đế thì mới được tính là tối thượng thần.

Bản thân trong mỗi cấp của thần cấp lại tiếp tục phân ra thành các bậc hơn kém khác nhau. Ngay cấp thấp nhất là hạ đẳng thần cũng có đến hàng chục bậc, trung đẳng và thượng đẳng thì ít bậc hơn một chút, tối thượng thần thì không phân thứ hạng. Việc phân chia này rất phức tạp nên Ngô Soạn không nói rõ.

Sau khi tu luyện thành thần thì đến bước thứ ba là “luyện thần hoàn hư”. “Hư” có nghĩa là hư không, không là gì cả mà cũng là tất cả. Có thể nói khi tu luyện đến bước này tức là đã biến thành tự nhiên trời đất. Cơ thể sẽ trở nên bất diệt hay là bị hòa tan. Điều này thì trừ ba vị Tam Thanh ra không ai biết được, vì từ xưa đến nay chỉ mỗi Tam Thanh là được tính đã luyện tới bước thứ ba.

Tóm lại, đối với người tu luyện nội công thì chú trọng ở chữ “khí”, còn đối với người tu luyện huyền thuật thì cao hơn một nấc, chính là chú trọng ở chữ “thần”. Còn chữ “hư” rất ít kẻ có thể đạt tới nên không đề cập nhiều.

Khi tu luyện “khí” thì về căn bản tất cả các cách thức hoặc phương pháp tu luyện đều cho kết quả như nhau, không khác biệt mấy, chỉ có mức độ nặng nhẹ hơn kém về tu vi chứ không khác về bản chất. Nhưng khi tu luyện đến mức “thần”, hoặc chỉ cần gần mức “thần” thì huyền lực trong cơ thể sẽ chia rõ ràng vào Ngũ Hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tùy theo tính chất của “thần” ở trong người. Bản thân trong mỗi “hành” lại phân ra thành Ngũ Tượng tức Thái Âm, Thiếu Âm, Nguyên, Thiếu Dương và Thái Dương. Ngũ Tượng hợp cùng Ngũ Hành tạo ra hai mươi lăm biến hóa bao phủ hết toàn bộ đặc tính của huyền thuật. Hai mươi lăm biến hóa đó được gọi là các thần khí và lần lượt có tên là:

Thâu Khiển Kim Phù Vân

Dưỡng Mê Mộc Độc Thanh

Tàng Thông Thủy Băng Vũ

Trưởng Cường Hỏa Sa Điện

Hóa Ảnh Thổ Thạch Phong.

Cứ mỗi năm biến hóa là thuộc về một “hành”. Ví dụ như “Thâu Khiển Kim Phù Vân” là thuộc về hành Kim. Trong đó “Thâu” là Thái Âm, “Khiển” là Thiếu Âm, “Kim” là Nguyên, “Phù” là Thiếu Dương, “Vân” là Thái Dương. Cách phân chia tương tự như vậy đối với hai mươi biến hóa còn lại.

Ngoài ra “thần” còn khác với “khí” là không phải ai cũng tu luyện được. Có kẻ cả đời theo đuổi Phật pháp, Đạo pháp nhưng chỉ là công dã tràng. Có người lại có sẵn thần lực, không cần tu luyện nhiều vẫn có thể trở thành thần. Lại còn có cách khác để thành thần đó là được ban thần lực.

- Ví dụ như ta, ban đầu chỉ là một tên thư sinh giá áo túi cơm, nhưng vì có chút công lao và tính tình ngay thẳng nên đã được đức thánh Tản ban cho thần lực, trở thành trung đẳng thần.

Nhật Duật nghe Ngô Soạn nói vậy thì suy nghĩ, rồi hỏi:

- Thần lực của ngài là được đức thánh Tản ban cho, vậy phải chăng thần khí của ngài cũng là Địa Linh Thần? Thần khí này có phải thuộc hành Thổ không?

Ngô Soạn gật đầu, đáp:

- Phải mà thực ra không phải. Địa Linh Thần là thần khí thuộc hành Thổ, tượng Nguyên. Nhưng sau khi được đức thánh ban thần lực, thì tự bản thân Địa Linh Thần hòa trộn trong người ta biến hóa ra một loại thần khí khác là “Sa”, có tượng là Thiếu Dương Hỏa. Đồng thời về sau ta lại tu luyện được một loại thần khí nữa là “Mộc”.

- Kẻ phàm này cũng được ban thần lực và thần khí đúng không? Vậy tại sao tôi vẫn là người thường? Còn Vi Mai và Bạc Nương nữa, các cô ấy đều có thần lực sao?

Ngô Soạn đáp:

- Ta đang định nói tới việc này. Thực ra người phàm hoàn toàn có thể tu luyện “thần”, thậm chí có thể tu luyện đến mức có thần lực tương đương với hạ đẳng thần. Nhưng ngay cả người phàm có thần lực thì vẫn chỉ là con người. Phải sau khi người đó hết dương thọ, thân thể ban đầu mất đi, chỉ còn lại linh hồn. Rồi từ linh hồn lại tu luyện, biến hóa ra thân thể mới gọi là thần thể, thì mới chính thức trở thành thần. Thần thể cũng gần giống như thân thể chỉ có điều là mạnh mẽ, có khả năng biến hóa và hồi phục cao hơn nhiều. Và vì thần thể là thứ hữu hình, nên cũng hoàn toàn có thể bị tổn thương và phá hủy. Như vừa rồi ta biến hóa ra cơ thể cho Phạm Kháng từ cành cây Mộc Miên Đại Thụ, chính là thần thể đó. Còn những người phàm có thần lực như bọn các ngươi, thường được người đời gọi là các thầy phép hoặc thầy phù thủy. Nếu ta đoán không lầm thì thần khí của Vi Mai là “Phù”, thuộc về tượng Thiếu Dương Kim. Thần lực của Vi Mai chắc tương đương với hạ đẳng thần. Còn thần khí trong người ngươi là “Điện”, thuộc hành Hỏa, tượng Thái Dương Hỏa. Ngươi được đức thánh truyền cho Địa Linh Thần, nhưng Địa Linh Thần của ngươi chủ yếu chỉ để dung hòa sấm sét, không có tác dụng thực chiến.

- Còn Bạc Nương thì… cô gái này rất kỳ lạ… - Nói đến Bạc Nương, Ngô Soạn tư lự hồi lâu.

Nhật Duật thấy ông ta trầm ngâm mãi không nói liền sốt ruột giục:

- Bạc Nương thì thần khí là gì? Thuộc hành gì? Tượng gì? Ngài mau nói cho tôi hay.

Ngô Soạn lắc đầu, đáp:

- Ta cũng không rõ, chỉ nghi ngờ thần khí của cô ta là “Dưỡng”, thuộc hành Mộc, tượng là Thái Âm Mộc. Nhưng các tượng Thái Âm của Ngũ Hành cực hiếm. Vì chúng chính là ý niệm cơ bản của Ngũ Hành, sinh ra Ngũ Hành và sinh ra cả sáu cõi Luân Hồi. Những nhân vật có được thần khí thuộc về Thái Âm đều là thần thánh siêu việt đứng riêng một góc trời.

Nhật Duật nghe thế thì ngạc nhiên, nói:

- Thật vậy sao? Chẳng lẽ cô gái nhỏ mồ côi cả bố lẫn mẹ lại ghê gớm như vậy?

Ngô Soạn lắc đầu, đáp:

- Ta không chắc thần khí của cô ta có phải là “Dưỡng” hay không. Trong hai mươi lăm loại thần khí thì có ba loại có thể tác động vào linh hồn kẻ khác là “Mê”, “Khiển” và “Dưỡng”. Theo lời ngươi kể, lý do Hắc Hổ bắt cóc cô ta vì thần khí của cô ta có thể điều khiển linh hồn của hắn, thì về vẻ ngoài mà nói thần khí của Bạch Nương rất có thể là “Khiển” như mọi thầy phục hổ khác. Tuy nhiên vừa rồi cô ta lại phục hồi được cả linh hồn cho Phạm Kháng và Mộc Miên Đại Thụ. Kẻ có thần khí là “Khiển” không thể làm được việc này. Hồi phục cho linh hồn là một việc rất khó khăn, chỉ những kẻ có thần khí là “Dưỡng” mới làm được. Người nổi tiếng nhất của phương Nam từ xưa đến nay có thần khí là “Dưỡng” là ai, ngươi có biết không?

Nhật Duật lắc đầu, đáp:

- Tôi mới bước đầu làm quen với huyền thuật và các việc thần tiên, làm sao mà biết được.

Ngô Soạn gật đầu, nói:

- Chuyện này ngay cả các hạ đẳng thần nhiều người cũng không biết. Thần khí là “Dưỡng” rất ít thấy, người đầu tiên có thần khí là “Dưỡng” được ghi nhận tại phương Nam chính là tổ tiên của chúng ta, Mẹ Tiên Âu Cơ.

- Cái gì??? Là Mẹ Tiên sao???

Nhật Duật nghe thế thì vô cùng sửng sốt. Thần khí là “Dưỡng” thì chàng mới nghe lần đầu, cũng chả rõ ghê gớm thế nào nhưng Mẹ Tiên Âu Cơ thì người người đều biết. Phàm là người Đại Việt nào đều thuộc lòng chuyện con rồng, cháu tiên.

Xa xưa cách nay hàng ngàn năm, chàng rồng Lạc Long Quân kết duyên cùng nàng tiên Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, nở ra trăm người con. Năm mươi người con theo mẹ lên núi, năm mươi người con theo bố xuống biển. Năm mươi người lên núi về sau trở thành các vua Hùng, lập ra nước Văn Lang, chính là tiền thân của Đại Việt sau này. Vì thế người Đại Việt vẫn tự xưng là con rồng, cháu tiên. Và bọn họ gọi Lạc Long Quân và Âu Cơ là Bố Rồng và Mẹ Tiên.

- Bố Rồng Lạc Long Quân bây giờ đã trở thành đức Long Đế đứng đầu Bát Hải, là vua của loài rồng. Lần này phương Nam có biến, ngài đã cho truyền Gươm Rồng xuống trần. Còn Mẹ Tiên Âu Cơ thì không biết đang ở phương nào, trước giờ chưa từng thấy người xuất hiện. Bạc Nương nếu quả thực có thần khí là Dưỡng thì không biết có liên quan gì đến Mẹ Tiên không? Có quá nhiều chuyện chúng ta vẫn chưa tường tận được. - Ngô Soạn lắc đầu chán nản nói.

Nhật Duật im lặng suy nghĩ, đột nhiên nhớ ra một chuyện, hỏi:

- Thế có phải nếu là thần rồi mới đạp mây cưỡi gió được hay không? Kẻ phàm này tuy sau khi có thần lực sử dụng vào trong khinh công khiến thân thể có thể di chuyển nhanh như chớp, nhưng vẫn không thể bay lên trời được.

Ngô Soạn nghe vậy thì cười, đáp:
- Bay hay gọi là đằng vân thực ra cũng là một dạng khinh công mà thôi. Như ta là trung đẳng thần tuy cũng có thể đằng vân được một ít, nhưng chỉ có thể đi xa hơn khinh công của ngươi chứ tốc độ còn không bằng. Hơn nữa đằng vân rất tốn thần lực, vì thế ta mới sử dụng ngựa Hồng Mao. Phải từ cấp thượng đẳng thần trở lên mới thực sự đằng vân đi xa được. Còn như kiểu trong chớp mắt đi được một vạn tám nghìn dặm, thì chỉ có phép Cân Đẩu Vân của Đấu Chiến Thắng Phật(1) là đạt được thôi, chúng thần không ai có khả năng ấy. Thôi muộn rồi, ngươi đi nghỉ đi, mai chúng ta lên đường sớm. Ngươi đã biết thần khí của mình là “Điện”, thuộc hành Hỏa. Lúc trước đối phó với chuột tinh, ngươi đoán mò lấy sấm sét giết chết chuột đồng lại chính hợp với Ngũ Hành là Hỏa khắc Kim. Ngũ Hành có tương sinh, tương khắc(2) những kiến thức này ngươi rất rõ rồi ta cũng không giảng thêm. Sau này đối phó với yêu ma quỷ quái nhớ để ý xem thần khí của bọn chúng là gì mà xử lý.

Nhật Duật gật đầu, đáp:

- Tôi biết rồi.

Ngô Soạn thở ra một hơi, nói:

- Ta phải đi báo cáo cho đức thánh đây. Mới có hơn một ngày mà xảy ra bao nhiêu chuyện.

Ông ta nói xong tất tả bỏ đi, mặc kệ Chiêu Văn Vương ở lại trầm ngâm suy nghĩ.

* * * * *

Ngô Soạn lấy từ trong tay nải ra một nắm cát vàng ném vào trong chậu. Lửa bùng lên dữ dội, khói bốc nghi ngút. Khói tỏa ra không có màu xám như khói thường mà lại trắng toát như sương sớm.

- Ngô Soạn, có thông tin gì mới mau báo đi! - Giọng của đức thánh Tản Viên bất chợt vọng ra từ trong đám khói.

Ngô Soạn nghe thế thì khoanh tay, kính cẩn đáp:

- Bẩm đức thánh, hiện tại đã xảy ra ba việc. Việc thứ nhất là hôm nay chúng bề tôi giáp mặt với một con chuột tinh. Con yêu này chỉ là loại yêu tinh tầm thường, nhưng không hiểu sao sau khi nó biến hóa thì thân thể đột nhiên rắn chắc kinh khủng. Tất cả các đòn tấn công của bề tôi lên người con yêu đều hoàn toàn vô dụng. May mà Chiêu Văn Vương mượn được sấm sét của trời đất mới giết được con yêu.

Từ trong đám khói, đức thánh Tản có vẻ như đang trầm tư suy nghĩ, lát sau ngài mở lời:

- Không có loài yêu quái bình thường nào ở phương Nam hiện nay có thể chống lại sức mạnh của trung đẳng thần. Căn bản đó là hai cấp độ hoàn toàn khác nhau. Ngươi đã kiểm tra kỹ lại thân thể con yêu xem có gì đặc biệt chưa?

Ngô Soạn đáp:

- Bẩm đức thánh, lúc đánh nhau chuột tinh có cắn nuốt một loại quả có màu đỏ như máu, từ đó sức mạnh trở nên khác hẳn. Và sau khi giết được chuột tinh, bề tôi có kiểm tra thì phát hiện ra trong người nó có một vật lạ giống hệt hạt cây, màu đen tuyền và có khả năng làm rối loạn huyền lực của kẻ nào lại gần.

Đức thánh nghe nhắc đến vật lạ thì mười phần quan tâm, nói:

- Loại quả có màu đỏ như máu ư? Ta chưa từng nghe về thứ như thế bao giờ. Còn vật trông như hạt cây rất có thể là từ thứ quả kia mà ra. Ngươi mau gửi hạt cây về cho ta xem xét!

- Bẩm, đây lại là việc thứ hai bề tôi muốn báo cáo. Hạt cây đã bị một kẻ tài phép cao cường, tự xưng là Thạch Sơn cướp mất.

- Thạch Sơn ư?

- Bẩm đức thánh, đúng vậy. Y không nói tên thật, chỉ nói chỗ y ở gọi là Tiểu Thạch Sơn nên y tự xưng là Thạch Sơn.

- Tiểu Thạch Sơn, Tiểu Thạch Sơn… Ta chưa từng nghe tới nơi này!

- Bẩm tên Tiểu Thạch Sơn(3) nghe rất chung chung, có thể chỉ là tên gọi nội bộ tại nơi nào đó, chưa từng phổ biến ra ngoài.

Đức thánh Tản đồng tình:

- Ngươi nói cũng phải. Vậy phép thuật của tên đấy thế nào?

Tuy yêu, ma, tiên, người đều tu luyện phép thuật nhưng phép thuật của từng kẻ vẫn có những điểm khác biệt rất riêng. Nếu là kẻ có thực lực thì chỉ cần dựa vào đặc tính của phép thuật là có thể đoán ra chút lai lịch.

Ngô Soạn tỏ vẻ xấu hổ, đáp:

- Bề tôi quả thật không rõ. Khi đối phó với kẻ lạ mặt, bề tôi không dám khinh suất đã sử dụng đủ mười thành công lực, nhưng kẻ đấy chỉ cần một chiêu đã hóa giải hết, lại còn đẩy lùi bề tôi ra xa mấy trượng. Chiêu thức của y rất đơn giản nhưng uy lực không thể chống đỡ được. Bề tôi thật không nhìn ra phép thuật của y.Đức thánh Tản thoáng ngỡ ngàng, nói:

- Một chiêu đã đẩy lùi được trung đẳng thần thì thực không tầm thường. Lai lịch của kẻ này bí ẩn, thực lực thì mạnh mẽ, nếu hắn là kẻ địch thì rất phiền phức. Sau khi cướp được vật lạ từ ngươi, kẻ này chạy về phương nào?

Ngô Soạn đáp:

- Bề tôi vì lúc đó mải cứu Chiêu Văn Vương nên không khẳng định được, nhưng nhiều khả năng là hắn đã chạy về Thăng Long.

Đức thánh Tản trầm ngâm một lúc rồi nói:

- Trước giờ ở phương Nam, mà đúng hơn là toàn bộ Cõi Người, không có bất kỳ loại quả nào có khả năng tăng cường phép thuật cho các loại yêu quái ngay lập tức cả. Con chuột tinh kia làm sao lại có thứ quả kỳ lạ này? Rồi còn gã Thạch Sơn phép thuật cao cường không hiểu từ đâu đột nhiên xuất hiện nữa. Ta e rằng đằng sau những sự việc vừa rồi có bàn tay của thế lực nào đó, chứ không đơn thuần chỉ là bọn yêu quái nổi dậy làm càn. Như vậy đi, ngày mai các ngươi vào Thăng Long điều tra thì thông báo luôn cho Tứ Trấn Thần biết tình hình.

Ngô Soạn nghe thế thì lưỡng lự, hỏi:

- Tứ Trấn Thăng Long trước giờ không can thiệp vào sự vụ của phương Nam, chỉ lo trấn thủ kinh kỳ. Lần này liệu bọn họ có chịu ra tay chung sức không?

Thánh Tản nghiêm giọng lại, nói:

- Tình hình ngày càng rối ren. Hơn nữa rất có thể Thăng Long chính là sào huyệt của kẻ địch vì cả Hắc Hổ lẫn gã Thạch Sơn đều chạy về nơi đấy. Ta chỉ e rằng đến thời điểm này, Tứ Trấn cũng đã bị bọn chúng quấy nhiễu rồi. Nếu mà Tứ Trấn Thần không chịu hợp tác thì ngươi cứ dùng tới danh của núi Tản mà yêu cầu bọn họ.

- Bề tôi hiểu rồi.

Thánh Tản gật đầu, đoạn lại nói:

- Loại quả kia theo lời ngươi có khả năng tăng cường sức mạnh cho kẻ sử dụng. Vì thế việc điều tra ra nguồn gốc của quả lạ đặt lên làm nhiệm vụ hàng đầu. Ngươi nên cố gắng tranh thủ sự giúp đỡ của Tứ Trấn càng nhiều càng tốt.

Ngô Soạn cúi đầu, đáp:

- Bề tôi tuân lệnh!

- Thế còn việc thứ ba là việc gì?

Ngô Soạn ngập ngừng.

- Việc thứ ba thì bề tôi không chắc. Đó là hình như thần khí của cô gái nhỏ lần trước bề tôi cứu từ tay Hắc Hổ chính là “Dưỡng”.

- Sao ngươi lại nghĩ vậy?

- Vì cô ta có thể phục hồi linh hồn cho gã ăn mày đã bị chuột tinh hút gần hết huyền lực, sau đó lại còn hồi sinh linh hồn cho cây cổ thụ Mộc Miên. Hơn nữa huyền lực của cô ta không phải do tu luyện mà là bẩm sinh đã có.

Thánh Tản nghe thế thì đăm chiêu, nói:

- Cũng có thể cô ta là hậu duệ kế thừa huyền lực của Mẹ Tiên. Tuy chưa thể khẳng định thần khí của cô ta có phải là Dưỡng hay không, nhưng ngươi cũng cần để mắt đến cả cô gái ấy. Ta thấy có nhiều vấn đề như vậy, tốt nhất là gặp Không Tăng bảo ông ấy đi cùng các ngươi.

- Vậy…

- Sau khi vào thành Thăng Long thì các ngươi đi gặp Không Tăng trước, sau đó mới tìm Tứ Trấn. Mọi việc cứ tiến hành như thế đi, có gì tiếp tục thông tin cho ta biết. Còn cái hạt cây thì ngươi dựng lại một bản rồi gửi Cắt Trắng mang về cho ta.

Ngô Soạn cúi mình, đáp:

- Bề tôi đã rõ.

Khói trắng mờ dần đi, lát sau thì mất hẳn. Ngô Soạn nhìn ra phía cửa sổ, bóng chim đã xuất hiện từ lúc nào.

Ngô Soạn vận huyền lực vào tay, hô lớn:

- Phục Dựng Chuyển Hóa!

Chỉ thấy trên tay vị phán sự cát vàng tụ tập lại hằng hà sa số, xoáy tít vào nhau tạo thành một cơn lốc nhỏ. Lát sau, gió thổi cát bay đi hết, còn lại một hạt cây nằm yên ổn. Hạt cây kia lớn hơn hạt đào một tí, màu đen tuyền, ngay cả khí tỏa ra cũng có vài phần kỳ quái giống như khí của hạt cây đã bị gã Thạch Sơn cướp đi.

- Cắt Trắng, mau chuyển vật này về cho đức thánh!

Ngô Soạn nói đoạn tung hạt cây về phía cửa. Tiếng vỗ cánh phần phật vang lên rồi xa dần.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Đấu Chiến Thắng Phật: tức Tôn Ngộ Không. Sau khi thỉnh kinh tại Tây Thiên thành công thì Ngộ Không được phong làm Đấu Chiến Thắng Phật.

(2) Ngũ Hành tương sinh: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ.

Ngũ Hành tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ.

(3) Tiểu Thạch Sơn: có nghĩa là ngọn núi nhỏ.

(Để tri ân tác giả, mời các bạn vào facebook gõ "Thần Chiến triều Trần" và like fanpage của truyện. Xin chân thành cảm ơn!)

HẾT QUYỂN 01 "SƯƠNG MỜ TÂY BẮC".

XIN MỜI CÁC BẠN ĐÓN XEM QUYỂN 02 "ĐẤT ĐỘNG THĂNG LONG"

Quyển 2 - Chương 29: Bến Tây Dương

Sáng đầu đông trời se lạnh, mưa bay lất phất tạo nên một màn buồn thảm. Mặt trời đã lên cao nhưng bị mây che khuất khiến dưới đất chỉ có thứ ánh sáng nhờ nhờ. Mưa làm cho đường đất nhão nhoét thành các vũng lầy nông, khiến mỗi lần vó ngựa bước qua là một trận bùn sình nho nhỏ bắn khắp xung quanh.

Bọn Nhật Duật người khoác áo mưa rơm, thúc ngựa đi nước kiệu trên cầu Tây Dương bắc qua sông Tô Lịch tiến về phía Tây thành Thăng Long.

Đại Việt khi xưa vốn bị phương Bắc đô hộ cả ngàn năm. Thời Đường, Đại Việt chỉ là phủ An Nam nằm dưới sự quản lý của nhà Đường. Vào năm Hàm Thông thứ năm (864) đời Đường Ý Tông, quân nước Nam Chiếu(1) chiếm thành Giao Chỉ(2). Đường Ý Tông sai Cao Biền đi đánh dẹp. Cao Biền dẫn quân bao vây thành Giao Chỉ, đến năm Hàm Thông thứ bảy (866) thì chiếm được thành. Sau khi đánh đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi An Nam, Cao Biền được nhà Đường phong làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ cai quản phương Nam. Phủ Tiết độ sứ được đặt tại thành Giao Chỉ.

Cao Biền thấy thành Giao Chỉ có thế rồng cuộn hổ ngồi, giao thông thuận tiện liền cho đắp tường, đào hào, cải tạo lại. Sau đó đổi tên thành là Đại La.

Trải qua hơn trăm năm, Đại Việt dành được độc lập, tách ra khỏi phương Bắc tự chủ một cõi trời Nam. Thành Đại La trải qua các thời Đinh, Lê vẫn giữ nguyên tên cũ. Đến thời Lý khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La thì nơi đây mới được chọn làm kinh đô. Tên Đại La được đổi thành Thăng Long.

Thành Thăng Long dưới triều Lý được dựng trên nền thành Đại La xưa, gồm ba vòng thành. Vòng trong cùng là cung cấm, nơi ở của vua được gọi là Cấm Thành. Vòng thứ hai là nơi thiết triều và làm việc của vua cùng quan lại được gọi là Hoàng Thành. Vòng thành thứ ba là vòng ngoài cùng, vừa đóng vai trò bức tường phòng ngự bảo vệ Thăng Long, vừa là con đê phòng chống lũ lụt được cải tạo từ tường thành Đại La nên được gọi là Đại La Thành. Khu vực ở giữa Hoàng Thành và Đại La Thành được gọi là kinh thành, là nơi ở của các hoàng tử, vương tôn quý tộc, quan lại và dân chúng.

Thành Đại La thời Cao Biền hay thành Thăng Long thời Lý, Trần đều được xây ở khu vực trung tâm bốn con sông lớn là sông Nhị Hà(3), sông Thiên Phù(4), sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Sông vừa là nơi thông thương, buôn bán, vừa là hào nước an ninh bảo vệ kinh thành. Kinh đô của phương Nam tuy không thể sánh với phương Bắc về độ phồn hoa và giàu có, nhưng cũng có điểm độc đáo và trù phú riêng.

Do đặc tính sông nước bao bọc nên xung quanh thành Thăng Long có rất nhiều bến thuyền, tuy nhiên các bến chủ yếu tập trung ở phía Đông nơi có con sông lớn Nhị Hà chảy qua. Ở phía Tây thì chỉ có bến Tây Dương nằm gần cửa Tây Dương của Đại La Thành, sát bên bờ con sông Tô Lịch là lớn nhất.

Mặc dù bến Tây Dương không phải là nơi giao thương sầm uất như các bến thuyền phía Đông, nhưng lúc bình thường cũng rất nhộp nhịp. Mọi ngày cứ vào tảng sớm là dưới bến thuyền bè tấp nập, khách thương cùng dân đánh cá mặc cả từng rổ thủy sản tươi rói. Hoa quả của khu Thập Tam Trại(5) cũng được đem tới nơi này mua bán, trao đổi. Tuy nhiên lần này đi trên cầu Tây Dương, bọn Nhật Duật tuyệt không nghe thấy một chút âm thanh nào vọng lại từ dưới bến thuyền.

Nhật Duật thấy vậy thì ngạc nhiên:

- Tại sao dưới bến lại im ắng như thế? Hay là có chuyện gì rồi?

Nói đoạn chàng vội vã thúc ngựa phi nước đại băng qua cầu. Sương khói mặt sông nổi lên bảng lảng, bến Tây Dương nằm phía bên tả dần hiện ra trong tầm mắt. Xuống khỏi cầu, Chiêu Văn Vương ngoặt cương ngựa phi về nơi tập trung các mái nhà lá lụp xụp ẩn hiện sau những tàn cây xanh, vươn ra tận sát bờ sông nơi có hơn chục chiếc thuyền lớn nhỏ đang neo đậu lộn xộn.

Càng vào gần tới bến, sự im lặng khác thường càng làm cho Nhật Duật cảm thấy bất an. Chàng vội vã thúc vào hông con Đông A Xích Thố phi thẳng tới trước. Con ngựa Hồng Mao đưa chàng lướt như bay trên con đường đất nhỏ tiến vào giữa khu trung tâm bến thuyền. Một quang cảnh khủng khiếp chợt đập vào mắt Chiêu Văn Vương.

XÁC. Cả bến Tây Dương toàn là xác chết.

Xác người, xác ngựa, xác gia súc, gia cầm phủ đầy bến. Xác dân chài và thương lái nằm la liệt trên từng chiếc thuyền chở cá và rau quả đỗ im lìm.

Nhật Duật thấy thảm cảnh như vậy thì vội vã nhảy xuống ngựa. Sự việc kinh hoàng bày ra trước mắt khiến chàng sững sờ không thốt lên lời. Duật từ bé đã là một hoàng tử hoạt bát, tính tình lại hiếu động nên hay rong chơi khắp kinh thành Thăng Long. Bến Tây Dương là nơi mà chàng thường xuyên ghé qua. Quang cảnh bến sông thanh bình mọi khi giờ đã biến thành nghĩa địa đầy xác chết làm cho Duật phẫn uất vô cùng. Ba người bọn Ngô Soạn tới sau trông thấy cảnh đó cũng không kém phần hốt hoảng.

Chiêu Văn Vương là người lấy lại bình tĩnh đầu tiên. Chàng cố nén nỗi buồn đau trong lòng rồi đi vào khu nhà lá gần đấy, lật từng cái xác lên kiểm tra cẩn thận. Ngô Soạn thấy thế vội theo sau hỗ trợ. Dù sao vị phán sự núi Tản đã sống hơn mấy trăm năm, sự lạ trên đời thấy qua rất nhiều nên thảm cảnh tại bến thuyền không làm ông phải sửng sốt. Vi Mai và Bạc Nương lúc này cũng đã xuống ngựa và bước hẳn vào trong bến. Hai nàng một người đảm lược lớn, xông pha rừng thẳm từ bé, một người thì ngây thơ, không quá để tâm đến bất kỳ chuyện gì trên đời, chính vì thế quang cảnh ghê rợn trước mắt không khiến hai nàng sợ hãi.

Nhật Duật kiểm tra kỹ từng xác người trong mấy khu nhà lá rồi ra giữa bến lật cả xác bọn thú vật lên xem xét. Sau đó chàng còn xuống hẳn mấy chiếc thuyền neo đậu gần bờ rà soát một lượt.

Sau khi lục lọi chán chê, Duật kéo Ngô Soạn lại gần xác một người đánh cá và chỉ cho ông xem.

- Phán sự nhìn này, xác mọi người trên bến ngay cả thú vật không có vết đâm chém gì. Nhưng nếu quan sát kỹ sẽ thấy trên thất khiếu(6) đều có vệt máu khô.
Ngô Soạn nghe vậy thì gật đầu đồng tình rồi bổ sung:

- Những các xác này trắng bệnh như xác chết trôi nhưng không bị trương phình lên. Giống như kiểu bị hút sạch máu vậy.

- Bị hút sạch máu ư? Bến thuyền cả người lẫn thú đều bị hút sạch máu, việc này chắc chỉ có thể do yêu quái gây nên. Không biết loại yêu quái gì mà kinh khủng như thế?

Ngô Soạn lắc đầu, đáp:

- Ta cũng không rõ. Yêu quái có khả năng hút máu thì ở phương Nam chỉ có muỗi tinh hoặc đỉa tinh. Nhưng bọn này giống thì ở trong rừng rậm, giống thì ở dưới sông sâu, vả lại nếu chúng là thủ phạm thì phải cả đoàn đông đảo mới đủ khả năng hút máu nhiều người thế này. Hơn nữa lũ này dù hút máu cũng không làm người ta chết khô được.

Nói xong phán sự núi Tản nhăn mày, bóp trán suy tư. Ông nghĩ mãi mà không ra loại yêu quái nào khác có thể hút cạn máu người. Nhật Duật đang nói chuyện với Ngô Soạn chợt như nhận ra điều gì. Chàng bỏ vị phán sự lại với cái xác, trèo lên nóc nhà gần đấy rồi phóng mắt nhìn ra xung quanh. Chiêu Văn Vương quan sát một lúc thì nhảy xuống, chạy lại khoảng đất trống giữa bến. Ngô Soạn đang mải suy nghĩ, thấy Nhật Duật hành động thì sực tỉnh, vội vã tiến lại hỏi:

- Ngươi phát hiện được gì sao?

Duật gật đầu, đáp:

- Phán sự nhìn xem, tất cả xác người, xác thú đều được xếp thành hình vòng tròn xoáy trôn ốc. Và trung tâm vòng xoáy chính là chỗ này đây.

Ngô Soạn nghe Duật nói thế thì “à” lên. Ông cẩn thận nhảy lên nóc nhà gần đấy quan sát một lúc rồi quay trở lại:

- Ngươi giỏi thật, như thế mà cũng nhận ra. Thế còn phát hiện được gì nữa không?

Nhật Duật thở dài chán nản: - Tôi chỉ tìm ra mỗi thế. Chỗ này tuy là trung tâm của vòng tròn xác chết nhưng chỉ là một khoảng đất trống, ngay cả dấu chân lạ cũng không có. Hung thủ gần như không để lại bất kỳ dấu vết gì nữa.

Lúc này Vi Mai và Bạc Nương đã đi tới, nghe Nhật Duật nói về vòng tròn xác chết thì hai nàng đều mở to mắt ngạc nhiên.

Đúng lúc đấy trên trời bỗng có tiếng gió rít, rồi có luồng khí lạnh không hiểu từ đâu bất ngờ chụp thẳng xuống chỗ mấy người đang đứng. Ngô Soạn phát hiện ra luồng khí đầu tiên, ông kêu to rồi vung bút lông bắn một luồng ánh sáng xanh lên phía trên. Chỉ nghe có tiếng nổ lớn, luồng khí lạnh đụng phải ánh sáng xanh thì bị bắn nát, biến thành một cơn gió thổi ào ạt ra bốn phía xung quanh.

- Bọn yêu quái thật lợi hại, phá được cả phép tiên của ta! – Kẻ vừa tới cất tiếng quát. Gã mặc áo bào đạo sĩ, chân đi hài cỏ, tuổi chừng bốn chục, nét mặt vốn có chút tiên phong đạo cốt giờ đã xám ngoét như tro. Sau lưng gã có hơn chục đạo sĩ nữa độ tuổi trẻ hơn đang lẽo đẽo theo sau.

- Bọn yêu quái kia ở nơi nào? Dám đến thành Thăng Long làm loạn. Hạc Dực trận, triển khai! – Gã đạo sĩ đi đầu ra lệnh. Bọn phía sau nghe vậy vội vàng chia ra thành hàng lối, trong chốc lát đã xếp thành thế trận quy củ.

Nhật Duật trông thấy bọn đạo sĩ thì nhận ra ngay, chàng vội vã kêu lên:

- Khoan đã, các ngươi là người của quán Thái Thanh đúng không? Ta là Chiêu Văn Vương đây. Mọi người ở đây đi cùng với ta, các ngươi đánh nhầm rồi!

- Chiêu Văn Vương ư? - Đạo sĩ đi đầu nghe thế không tấn công nữa, hạ gươm xuống hỏi lại.

- Lệnh bài vương gia đây! - Nhật Duật vừa nói vừa đưa ra tấm thẻ làm bằng bạc có chạm nổi hai từ Chiêu Văn. Lệnh bài thoạt trông có vẻ giản dị nhưng nhìn kỹ mới thấy tinh xảo vô cùng.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Nước Nam Chiếu: là nước của người Bạch và người Di ở Vân Nam (Trung Quốc) hiện nay.

(2) Giao Chỉ: tức thành Thăng Long xưa.

(3) Sông Nhị Hà: tức sông Hồng ngày nay.

(4) Sông Thiên Phù: sông này ở dọc bờ hồ Tây, gần đường Thụy Khuê hiện nay. Hiện tại sông đã bị lấp hết.

(5) Thập Tam Trại: là tên gọi chung chỉ các làng nghề ở phía Tây kinh thành Thăng Long.

(6) Thất khiếu: tức bảy cái lỗ trên mặt gồm hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, và miệng.

(Để tri ân tác giả, mời các bạn vào facebook gõ "Thần Chiến triều Trần" và like fanpage của truyện. Xin chân thành cảm ơn!)

Quyển 2 - Chương 30: Đại La thành

Đạo sĩ trung niên tiến lại gần nhìn rõ lệnh bài thì chuyển ngay thái độ. Gã xua tay ra hiệu giải tán trận pháp đoạn cúi người cung kính vái chào:

- Bần đạo là Đoàn Chân, chỉ vì nóng lòng truy lùng kẻ ác nên đã đánh nhầm. Mong đức ông thứ tội!

Nhật Duật gật đầu với gã rồi nói:

- Các ngươi có biết gì về sự việc xảy ra tại đây không?

Đoàn Chân lắc đầu, đáp:

- Bẩm đức ông, sáng nay khi binh lính ở cổng Tây Dương đi tuần thì phát hiện việc thảm sát ở dưới bến thuyền. Bọn họ đoán là yêu quái gây ra nên một mặt báo về kinh thành, một mặt đến gọi chúng bần đạo đang trông coi đạo quán nhỏ ở gần đây. Bần đạo khi nghe tin dữ liền vội vàng dẫn các đạo sĩ khác trong quán chạy ra điều tra thì gặp mấy người bên đức ông. Chúng bần đạo tưởng nhầm là hung thủ quay trở lại xóa dấu vết nên mới đường đột tấn công.

Nhật Duật nghe đạo sĩ nói thế thì chán nản, hóa ra bọn này còn biết ít manh mối hơn cả chàng.

- Các ngươi chia nhau ra kiểm tra, tìm xem có yêu khí hay dấu vết nào của yêu quái để lại không? - Đoàn Chân hạ lệnh cho đám đạo sĩ dưới quyền.

Ngô Soạn thấy vậy thì chen ngang, nói:

- Những người trên bến đều bị hút sạch máu nhưng tuyệt nhiên không có chút yêu khí hoặc dấu vết gì do hung thủ để lại đâu. Các ngươi khỏi cần tìm làm gì cho tốn công.

Đoàn Chân nghe ông ta nói thế thì ngần ngừ. Người vừa lên tiếng chỉ một đòn đã phá tan chiêu “Hợp Kiếm Công” của bọn gã chứng tỏ bản lĩnh rất cao cường, nếu ông ta đã không tìm ra manh mối thì sao bọn Đoàn Chân có thể thấy nổi. Tuy nhiên lệnh ban ra khó lòng rút lại, Đoàn Chân không nói gì chỉ im lặng đứng nhìn lũ đạo sĩ túa đi dò xét. Lát sau đám này quay lại báo cáo với vị đạo sĩ đứng đầu quán đúng những điều mà Ngô Soạn đã nói.

- Lạ thật máu bị hút hết ư? Là yêu quái gì vậy? - Đoàn Chân nhăn mày, nhăn trán.

Nhật Duật thấy thế thì bình luận:

- Cả ngươi cũng không rõ là yêu quái gì ư? Chả phải quán Thái Thanh chuyên hàng yêu phục ma, thế mà bây giờ xảy ra việc đến tung tích yêu quái còn không đoán được là sao?

Đoàn Chân nghe vậy thì nét mặt từ nhăn nheo đã chuyển sang nhàu nhĩ.

- Bẩm đức ông, quả thật loại yêu quái có khả năng hút cạn hết máu của hơn trăm người và súc vật thì bọn bần đạo chưa từng nghe qua bao giờ.

Ngô Soạn chen vào, nói:

- Cũng chả trách gã được, đến ta chuyên bắt yêu ma mấy trăm năm nay còn không biết đây là do loại yêu quái gì gây ra. Kỳ quái nhất là việc hung thủ để lại một vòng xoáy xác trắng.

- Vòng xoáy ư? - Đoàn Chân nghe thế ngạc nhiên hỏi lại.

- Đúng vậy! - Ngô Soạn gật đầu đáp. – Các xác người và thú vật ở trên bến tạo thành vòng xoáy trôn ốc. Không tin các ngươi cứ kiểm tra lại mà xem!

Đoàn Chân nghe nhắc tới bốn từ “vòng xoáy trôn ốc” thì đột nhiên hốt hoảng:

- Vòng xoáy trôn ốc… rồi lại còn các xác chết bị hút máu? Lẽ nào… lẽ nào…

Gã càng nói khuôn mặt càng trở nên trắng bệch:

- Lẽ nào thuật bói toán của sư tổ lại chính xác. Thượng Cổ… Thượng Cổ đã trở về… Nguy thật…

Đoàn Chân vội vã quay sang Nhật Duật, nói:

- Bẩm đức ông, việc ở bến Tây Dương rất nghiêm trọng. Bần đạo phải về quán chủ báo cho sư tổ biết ngay. Xin đức ông thứ lỗi cho bần đạo đi trước, các đạo sĩ còn lại sẽ đưa mấy vị vào thành sau.

Ngô Soạn đời nào để gã đi dễ dàng thế. Ông xông tới trước, nói:

- Khoan đã, rõ ràng nhà ngươi có manh mối. Mau nói cho ta hay rồi đi đâu thì đi!

Đoàn Chân ngay từ đầu với Ngô Soạn đã e dè mấy phần, nay thấy ông ta hùng hổ thế thì lại càng ái ngại:

- Vị này… chà, đây là thuật bói toán bí truyền của sư tổ. Tôi thật không dám tiết lộ.

Ngô Soạn nghe gã nói thế thì phùng mang trợn má mắng:

- Vớ vẩn, sư tổ cái quán Thái Thanh nhà ngươi chắc là gã bợm già Đạo Thậm chứ gì? Lão già đó đã bói ra được cái gì mau nói ta hay!

Đoàn Chân tuy rất ngại Ngô Soạn nhưng nghe người khác gọi sư tổ của mình là “bợm già” thì làm sao có thể nhịn được. Gã mặt mày đỏ ửng, tay lăm le rút gươm ra:

- Ngươi… ngươi dám chửi sư tổ của ta. Ta liều chết với ngươi!

Ngô Soạn thấy gã đạo sĩ nổi cáu vẫn chả coi vào đâu, chỉ điềm nhiên nói:

- Đạo Thậm là lão bợm già thì ta nói là lão bợm già. Khi xưa ta vẫn chỉ mặt chửi y là lão bợm già suốt đấy thôi. Chỉ e lúc đấy ngay cả ông nội ngươi cũng chưa ra đời thì đứa nhóc nhà ngươi làm sao mà biết được?

Đoàn Chân tức muốn xịt khói. Gã rút gươm ra thật, chỉ thẳng mặt Ngô Soạn quát:- Lão… lão khốn nhà ngươi dám nhục mạ sư tổ. Ta phải dạy cho ngươi một bài học!

Nhật Duật thấy tình hình căng thẳng liền vội vã đứng giữa khuyên can:

- Đoàn Chân đạo sĩ, chắc vị phán sự đây nhầm người thôi. Có lý nào sư tổ quán Thái Thanh lại là một gã bợm già được. Việc cần thiết bây giờ là điều tra manh mối yêu quái chứ không phải gây sự đánh lộn lẫn nhau.

Đoàn Chân thấy Nhật Duật can ngăn thì không dám làm căng, chỉ đành hậm hực đút gươm vào bao rồi nói:

- Hôm nay nể mặt Chiêu Văn Vương nên ta coi như ngươi nói bừa, không thèm chấp. Giờ ta phải về bẩm báo sư tổ đây. Xin đức ông thứ lỗi cho bần đạo không thể đưa người vào thành.

Đoàn Chân nói dứt lời liền quay người chạy vội ra chỗ mấy con ngựa được bọn đạo sĩ buộc ở đầu bến. Gã nhảy lên mình con ngựa to khỏe nhất, thúc vào hông giục nó phi nước đại về phía thành Thăng Long.

Ngô Soạn thấy gã đạo sĩ bỏ đi thì định chạy theo đuổi bắt nhưng bị Nhật Duật ngăn lại:

- Thưa phán sự, gã chắc không biết nhiều đâu. Bây giờ quan trọng nhất là phải điều tra manh mối, người đừng gây sự thêm nữa.

Ngô Soạn khịt mũi một cái, nói:

- Ta nghĩ tên đạo sĩ đó biết được điều gì quan trọng. Hắn cứ lẩm bẩm cái gì mà Thượng Cổ, Thượng Cổ… Ngươi có biết hắn nói về cái gì không?

Nhật Duật lắc đầu, đáp:

- Tôi cũng không rõ, nhưng trước hết cứ vào thành đã. Nếu không thể điều tra thêm manh mối thì chúng ta cứ trực tiếp đến quán Thái Thanh hỏi sư tổ bọn họ là được.

Ngô Soạn nghe thế thì cười ha hả, gật đầu đáp:

- Ngươi nói rất đúng. Nhớ ngày xưa khi ta lần đầu gặp hắn, Đạo Thậm đó chỉ là một đạo sĩ trung niên có chút trời phú về huyền thuật. Vậy mà giờ đây hắn đã là sư tổ cả đạo quán lớn. Thời thế thay đổi thật nhanh chóng!

Nhật Duật không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ ra hiệu cho mọi người lên ngựa rời khỏi bến Tây Dương. Mưa chợt trở nên nặng hạt, tựa hồ như cơn khóc thương của đất trời dành cho những số phận hẩm hiu không may bỏ mạng.

* * * * *

Đoàn người bọn Nhật Duật từ dưới bến thuyền đi lên một đoạn thì thấy bức tường màu nâu sừng sững của Đại La Thành hiện ra trong tầm mắt. Tường thành Đại La được đắp bằng đất cao hơn hai trượng, chu vi lên tới hàng chục dặm. Bên trên tường thành có cả hành lang cho lính canh đi lại. Bên dưới có con hào dẫn nước từ sông Tô Lịch vào, thông với sông Kim Ngưu về phía Nam nên lúc nào cũng đầy ăm ắp. Ngay trước mặt cây cầu nhỏ bắc qua hào nước là cánh cổng gỗ lớn, phía trên cổng có lầu gác. Cung tên, giáo mác, cờ quạt ở trên lầu đâm ra tua tủa.

Bạc Nương và Vi Mai lần đầu tiên nhìn thấy bức tường to lớn trải dài như thế, lại thêm đám lính gác kín đặc phía trên với cơ man nào là vũ khí, áo giáp nên cả hai đều cảm thấy choáng ngợp khó tả. Binh lính canh cổng từ khi xảy ra chuyện tại bến thuyền thì duy trì kỷ luật cực kỳ nghiêm ngặt. Bất kỳ ai đi vào thành đều được thẩm vấn, kiểm tra kỹ càng. Bọn Nhật Duật đi theo đoàn đạo sĩ quán Thái Thanh nên được cho qua mà không bị hỏi han gì. Sau khi qua cổng Tây Dương, bọn đạo sĩ chào từ biệt mọi người, quay trở lại phía bờ sông để tiếp tục điều tra nên chỉ còn lại bốn người Nhật Duật tiến vào phía trong kinh thành.

- Hôm qua ta đã liên lạc với đức thánh, ngài dặn dò nên tìm đức Không Tăng báo cáo tình hình. Sự việc càng lúc càng nghiêm trọng, chúng ta phải mau chóng tới chùa Báo Thiên.

Nhật Duật nghe Ngô Soạn nói thế thì đáp:

- Tôi thân vừa là vương gia, vừa là tướng quân. Khi ở xa thì thôi nhưng đã về đến kinh thành thì phải vào yết kiến đức quan gia và đức thượng hoàng. Việc tôi tự ý rời khỏi quân cũng phải bẩm báo để quan gia định tội. Hơn nữa những gì xảy ra trên bến Tây Dương khiến tôi thấy không an tâm, quả thực muốn gặp hai vua một chút.
Ngô Soạn nghe thế không nói gì thêm, chỉ bảo:

- Ngươi tự ý bỏ quân đi, tội không nhẹ. Liệu lần này về kinh thành có bị phạt không?

Nhật Duật cười, đáp:

- Phạt hay không phải để đức quan gia xử trí, phận làm thần tử tôi vẫn phải giữ trọn. Các vị cứ qua chỗ đức Không Tăng đi, có gì chúng ta gặp lại nhau sau.

Ngô Soạn nói:

- Được, vậy khi xong việc ngươi hãy nhanh chóng tới chùa Báo Thiên. Chúng ta sẽ chờ ở đấy.

Nhật Duật gật đầu đồng ý, đoạn rút từ trong người ra tấm thẻ đưa cho Ngô Soạn. Tấm thẻ này một mặt cũng khắc hai chữ “Chiêu Văn” hệt như tấm lệnh bài mà Nhật Duật đã giơ cho Đoàn Chân xem, chỉ khác là tấm thẻ được làm bằng gỗ và sơn son thiếp vàng chứ không phải bằng bạc như lệnh bài vương gia.

- Ngài cầm lấy thẻ này. Nếu có quan binh kiểm tra thì đưa ra, bọn họ sẽ không hỏi han phiền phức nhiều.

Ngô Soạn nghe vậy thì gật đầu nhận tấm thẻ rồi đút vào trong người. Nhật Duật lại quay sang phía Vi Mai và Bạc Nương nói:

- Hai nàng cứ đi theo phán sự, xong việc tôi sẽ tới hội ngộ.

Mai nghe thế thì cau mày, đáp:

- Chúng ta còn nhiều việc phải làm, vương nhớ quay lại sớm.

Bạc Nương thấy Nhật Duật sắp rời đi liền níu tay áo:

- Ngươi… ngươi nói dối. Ngươi nhận làm anh của ta rồi mà sao bỏ mặc ta lại cho lão già ngốc.

Nàng nói đoạn òa lên khóc rồi bám chặt tay Nhật Duật không chịu buông khiến chàng dở khóc dở cười không biết làm thế nào.

- Em… em mau thả ra, ai lại làm thế này!

Ở thời Trần, Nho Giáo mới phát triển được một thời gian, tư tưởng vẫn thoải mái không quá gò bó chuyện lễ nghĩa. Tuy nhiên việc trai gái đụng chạm, níu kéo nhau giữa đường vẫn là chuyện rất hiếm khi xảy ra.

- Không… ngươi nhất định phải cho ta đi cùng. Ta không đi cùng lão già ngốc đâu.

Ngô Soạn bị cô gọi là lão già ngốc đến mấy lần tức muốn ói máu mà không làm gì được. Chẳng nhẽ đường đường là trung đẳng thần lại hơi một tí đi tranh cãi với cô gái nhỏ mới mười mấy tuổi đầu.

Sau một hồi giằng co bất phân thắng bại, Nhật Duật đầu hàng:

- Thôi được, em mau bỏ ra đi, ta sẽ đưa em đi cùng. Nhưng ta cấm em không được gây chuyện.

Bạc Nương nghe thế thì hớn hở ngay:

- Ngươi… à anh nhớ đấy. Không được… lừa ta đâu.

Nhật Duật gật đầu, đoạn quay sang Vi Mai:

- Tôi đi cùng Bạc Nương vậy. Nàng với phán sự qua chỗ thần tăng xem thế nào!

Mai nghe thế thì đột nhiên trở nên bực bội, đáp:

- Hai anh em vương đi với nhau vui vẻ rồi. Tôi qua chỗ nào thì kệ tôi, vương quan tâm làm gì?

Nhật Duật nghe nàng nói thế thì cười hì hì, nói:

- Do tôi đã hứa chăm lo cho Bạc Nương nên giờ không thể bỏ mặc. Nàng với phán sự cứ đi trước, chúng ta sẽ gặp lại nhau sớm.

Vi Mai lạnh lùng quay mặt đi, không thèm đáp. Chiêu Văn Vương nửa cười nửa mếu, quay sang Ngô Soạn nói:

- Phiền phán sự để ý nàng, chúng tôi phải đi đây cho kịp giờ vào cung cấm.

Ngô Soạn gật đầu, rồi đưa cho Nhật Duật túi vải nhỏ dặn:

- Ngươi lúc nào cần liên lạc với chúng ta thì ném ít cát trong túi này vào lửa.

Nhật Duật nhận túi vải rồi chắp tay chào tạm biệt Ngô Soạn và Vi Mai. Sau đó chàng cùng Bạc Nương thúc vào hông đôi ngựa Hồng Mao, giục bọn chúng sải vó phi như bay trên con đường đất.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau