THẦN CHIẾN TRIỀU TRẦN

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thần chiến triều trần - Chương 31 - Chương 35

Quyển 2 - Chương 31: Phủ Chiêu Văn

Thăng Long thời Trần ngoài khu vực Hoàng Thành ra thì đều thuộc phủ Phụng Thiên. Phủ Phụng Thiên bao gồm hai huyện lớn là Vĩnh Thuận và Thọ Xương. Huyện Thọ Xương ở phía Đông, nằm giáp với sông Nhị Hà và là khu vực buôn bán sầm uất. Huyện Vĩnh Thuận thì ngược lại với Thọ Xương, ở phía Tây và bao gồm cả khu Thập Tam Trại là nơi canh tác nông nghiệp, tạo ra sản vật cùng lương thực chủ yếu cho toàn bộ Thăng Long.

Sau khi đi qua cửa Tây Dương của Đại La Thành, Nhật Duật và Bạc Nương phi ngựa tới khu vực huyện Vĩnh Thuận. Bến Tây Dương tuy nằm bên ngoài kinh thành nhưng lúc nào cũng tấp nập vì nơi đây vừa là bến thuyền, lại vừa là chợ. Còn khu vực huyện Vĩnh Thuận mặc dù nằm bên trong nhưng bình thường rất yên ắng do chỉ toàn đường đất với đồng ruộng. Tuy nhiên do sáng nay xảy ra việc động trời tại bến Tây Dương, nên hiện thời khu vực này khá nhộn nhịp. Binh lính đóng tại trại Giảng Võ, trại Kim Mã được điều động về phía Tây để hỗ trợ điều tra. Trên đường đi, Nhật Duật và Bạc Nương gặp khá nhiều quân Túc Vệ(1). Bọn họ ai nấy đều lưng hùm, vai gấu, giáp trụ sáng loáng. Hai người băng qua toán lính, thúc ngựa phi nước đại trên con đường xuyên qua khu Thập Tam Trại.

Cảnh sắc hai bên đường liên tục thay đổi, từng cánh đồng mạ non màu như cốm chín trải dài của trại Vạn Phúc nhanh chóng nhường chỗ cho các trại ngựa ồn ào, chất đống cỏ khô của trại Kim Mã. Sau khi trêu ghẹo lũ ngựa chiến chán chê, hai con Hồng Mao đưa Nhật Duật và Bạc Nương lạc vào cánh đồng hoa bát ngát của trại Ngọc Hà.

- Úi chà, đẹp thật đấy. Em thích!

Bạc Nương hồ hởi ngó nghiêng xung quanh. Cánh đồng hoa vào thời điểm này trong năm bắt đầu tàn tạ, không có được vẻ rực rỡ như mùa xuân và mùa hè, nhưng đối với Bạc Nương vẫn là một khu vực ngập tràn màu sắc. Ngựa Hồng Mao tốc độ mau lẹ, nhanh chóng băng qua trại hoa. Bạc Nương thấy vậy thì quay sang Nhật Duật năn nỉ.

- Anh… ta… em muốn dừng ở đây xem trại hoa.

Nhật Duật cười giòn, nói:

- Sau này ta sẽ đưa em quay lại trại Ngọc Hà xem hoa, còn nhiều dịp mà. Hiện tại ta cần vào Cấm Thành gấp.

Bạc Nương nghe thế thì hơi sụt sùi nhưng không nài nỉ thêm, chỉ nói:

- Anh… anh nhớ nhé.

Nhật Duật gật đầu, đoạn thúc nhẹ vào bụng ngựa. Đông A Xích Thố phi vọt lên trước, con ngựa Hồng Mao của Bạc Nương liền tăng tốc theo sau. Hai con ngựa cứ thế phi mau. Sau khi băng qua Thập Tam Trại, con đường đất mở rộng ra, đưa Nhật Duật và Bạc Nương vào khu trung tâm của kinh thành. Lúc này Thăng Long mới phô trương ra vẻ đồ sộ của đô thành lớn nhất phương Nam. Tại khu trung tâm, đường đất to rộng, sông suối, ao hồ có cầu gỗ bắc qua, nhà cửa thì đều mái ngói vảy cá, thấp thoáng ẩn hiện giữa các vườn cây xanh.

Nhật Duật và Bạc Nương đi qua mấy khu phủ đệ hoành tráng thì tới chùa Diên Hựu. Tại đây bọn họ rẽ ngoặt xuống phía Nam, phi ngựa thêm một đoạn đường ngắn nữa là tới khu nhà rộng có tường bao quanh nằm sát bên bờ hồ Liên Thủy. Trên chiếc cổng to của khu nhà có treo tấm biển đề ba chữ “Chiêu Văn Phủ”. Nhật Duật phi ngựa tới trước cổng thì nhảy xuống, rồi chàng lần mò tìm chiếc búa con kẹp trên cổng. Sau đó chàng lấy búa gõ mạnh lên chiếc chuông đồng treo phía ngoài khu nhà hai tiếng, rồi dừng lại một nhịp lại gõ thêm ba tiếng nữa, lại dừng thêm một nhịp rồi dứt điểm bằng hai tiếng thật đanh. Tiếng chuông dứt được một hồi thì từ bên trong khu nhà vọng ra tiếng người hô vội vã tiếp nối bằng tràng kẽo kẹt. Cửa chính khu nhà trong chốc lát mở toang, một lão bộc già với mấy chục kẻ hầu, người hạ hàng lối chỉnh tề ra đón tận nơi.

- Đức ông… đức ông đã về! - Lão bộc trông thấy Nhật Duật thì không dấu nổi vẻ vui mừng, kêu to sung sướng. Bọn người hầu đằng sau thì vội vã vái chào.

Nhật Duật bước tới nắm lấy đôi tay gân guốc của lão bộc, nói thân thiết.

- Lão Phúc, lão vẫn khỏe chứ? Hai năm nay chăm nom nhà cửa cho ta khiến lão vất vả nhiều rồi.

Lão bộc nghe Nhật Duật nói vậy thì lắc đầu, sụt sùi đáp.

- Bẩm đức ông, chăm nom vương phủ cho đức ông là bổn phận của lão bộc này, nào có gì gọi là vất vả. Đức ông phải đóng quân ở biên cương xa xôi, lại chỗ rừng thiêng nước độc mới thật là lao lực. Lão vẫn luôn lo lắng cho ngài lắm. Nhưng hiện ngài đã trở về, thân thể lại khỏe mạnh, cường tráng. Lão thấy mừng vô cùng.

Lão Phúc nói xong thì rơm rớm nước mắt khiến Nhật Duật cũng cảm động lây. Chàng từ bé được lão bộc già chăm sóc chú đáo, tình cảm rất khăng khít. Nhật Duật vỗ vai, nói vài câu động viên lão bộc rồi chàng một tay kéo Bạc Nương, một tay dắt con Đông A Xích Thố tiến vào trong phủ. Bọn người hầu chờ khi chủ nhân vào hẳn nhà liền cài then đóng cửa, lẽo đẽo theo sau.

* * * * *

Phủ Chiêu Văn tuy không phải là phủ đệ hoa mỹ, đẹp đẽ nhất trong các phủ tại kinh thành, nhưng Nhật Duật vốn là người quảng giao, có nhiền bạn bè, vì thế phủ Chiêu Văn rất rộng, lại chia thành các khu gồm nhiều gian nhà trống làm nơi nghỉ ngơi cho những môn khách đến tìm chàng đàm đạo. Trước khi Nhật Duật được giao cho quản lý Chiên Văn Quân đóng tại Tây Bắc thì phủ Chiêu Văn hết sức đông vui, nhộp nhịp, ngày nào cũng nườm nợp khách khứa ra vào. Sau khi Chiêu Văn Vương đi trấn thủ biên cương, nơi đây quả thực đã có chút vẻ quạnh hiu.

- Đức ông, người mau vào phòng nghỉ ngơi để kẻ hầu này đi pha nước tắm. À, người có thích ăn món nào không để tôi bảo nhà bếp làm luôn.

Nhật Duật quay sang lão bộc trung thành, nói.

- Không cần đâu lão Phúc. Ông bảo người chuẩn bị cho ta một bộ quần áo sạch để ta vào yết kiến đức quan gia và đức thượng hoàng luôn. À, bảo người trông nom và tắm rửa cho cô gái nhỏ này nữa.
- Vị tiểu thư này là… - Lão Phúc nhìn qua Bạc Nương, ánh mắt sáng lên mừng rỡ.

“Vẫn còn hơi nhỏ nhưng nhan sắc thật là phi phàm, quả cũng có dáng dấp vương phi tương lai lắm”, lão bộc già vừa ngắm Bạc Nương vừa nghĩ. Nhật Duật thấy ánh mắt khác thường của lão ta thì thở ra, nói:

- Đây là em gái nuôi ta mới nhận, tên là Bạc Nương. Giờ ta có việc gấp phải vào Cấm Thành đây, lão nhớ chăm lo chu đáo cho nàng.

Lão Phúc nghe thế thì ngẩn người ra, nói:

- Vậy không phải là… vương…

Nhật Duật nghe thế thì phát cáu:

- Vương, vương cái gì, lão mau đi chuẩn bị đồ cho ta.

Lão Phúc sợ hãi vâng dạ liên tục đoạn lật đật chạy đi. Nhật Duật chờ lão bộc đi rồi mới quay sang Bạc Nương, nói:

- Em ở đây chờ nhé. Ta vào yết kiến đức quan gia rồi quay trở lại ngay.

Bạc Nương nghe thế thì mặt mũi xám xịt, nói:

- Anh không giữ lời, đã bảo mang em theo luôn mà.

Nhật Duật cười, đáp:

- Cung cấm không phải là nơi ai vào cũng được. Nếu em chịu khó ngoan ngoãn ở yên trong phủ, khi nào có thời gian ta sẽ đưa em đi chơi trại hoa Ngọc Hà.

Bạc Nương nghe nhắc đến trại hoa thì rạng rỡ hơn hẳn, nói:- Hoa đẹp lắm, em thích. Được, vậy em sẽ ở đây chờ anh. Nhưng anh nhớ đi nhanh về đấy nhé, đừng bỏ em lại một mình.

Nhật Duật nghe Bạc Nương nói thế có chút cảm động, đáp:

- Em yên tâm. Em đã là em gái ta rồi, ta không bao giờ bỏ rơi em đâu.

Chàng nói xong liền đưa tay ra xoa đầu Bạc Nương. Cô gái nhỏ lè lưỡi nhưng không phản ứng gì. Vừa lúc đó lão Phúc đi vào, tay cầm theo bộ đồ mới.

Nhật Duật vào trong phòng thay quần áo. Khi chàng trở ra thì mưa chỉ còn lất phất nhưng bầu trởi vẫn một màu đen kịt. Mấy tên gia tướng trong nhà nghe lão Phúc thông báo đã chuẩn bị xong kiệu và sẵn sàng đi theo tháp tùng, nhưng Nhật Duật cho bọn chúng lui hết. Chàng nhảy lên lưng con Đông A Xích Thố, dặn dò lão Phúc chăm sóc cho Bạc Nương rồi phi ra khỏi phủ, nhằm hướng cổng Quảng Phúc của Hoàng Thành mà tới.

* * * * *

Hoàng Thành là vòng thành thứ hai của Thăng Long, bao bọc bên ngoài Cấm Thành. Nơi đây tập trung nhiều đền đài, cung điện quan trọng của kinh thành. Đồng thời Hoàng Thành cũng là nơi đóng quân của đội quân Thánh Dực, một đội quân chuyên nhiệm vụ bảo vệ cho đức vua và thượng hoàng.

Lúc còn nhỏ Nhật Duật và mấy anh chị em khác cũng ở tại một cung điện trong Hoàng Thành. Nhưng khi trưởng thành, mọi người đều phải ra bên ngoài tự lập phủ riêng.

Chính vì quan trọng như thế nên khác hẳn với Đại La Thành chỉ toàn tường đất, Hoàng Thành được vây xung quanh bởi bức tường đá lớn kiên cố. Cổng Quảng Phúc là một trong bốn cổng chính của Hoàng Thành. Hiện tại cổng đóng im lìm, quân lính đi lại canh phòng nghiêm ngặt phía trên bức tường đá. Nhật Duật đứng dưới cổng thành, dơ lệnh bài ra hét lớn:

- Mau chóng mở cổng, ta có việc gấp cần vào trong.

Lát sau tiếng cọt kẹt vang lên, đích thân viên đội trưởng của tốp lính đang canh gác xuống tận nơi đưa Nhật Duật vào. Gã trông thấy Chiêu Văn Vương thì nụ cười liền hiện ra trên khuôn mặt đầy căng thẳng như cây cao xanh tốt mọc lên giữa vùng đất đai khô cằn.

- Bẩm, bề tôi lâu lắm mới được gặp lại đức ông. Người mấy năm rồi mới về lại kinh thành.

Nhật Duật cũng cười với gã, nói.

- Nguyễn Xiển, ngươi vẫn khỏe chứ. Giờ đã được thăng lên làm đội trưởng rồi à?

Nguyễn Xiển thấy Nhật Duật vẫn nhớ tên mình thì càng vinh dự, cười tít đáp.

- Bẩm, bề tôi có chút cố gắng, hiện vừa được phong đội trưởng cách nay chưa đầy một tháng.

Nhật Duật gật đầu, nói.

- Vậy chúc mừng ngươi. Ta đang có việc quan trọng cần vào Cấm Thành, lần sau có thời gian trò chuyện với ngươi sau. Hiện giờ bến Tây Dương vừa xảy ra việc, các ngươi canh gác nhớ không được lơ là.

- Bẩm đức ông, chúng bề tôi biết. - Nguyễn Xiển vâng dạ rối rít, trên mặt biểu hiện đầy vẻ trách nhiệm.

Duật gật đầu với gã đội trưởng rồi lên ngựa trở lại. Phía trong Hoàng Thành đường lát đá xám, lầu son, gác tía, cung điện đài các hiện lên hết lớp này đến lớp khác. Hoàng Thành tuy tráng lệ, đẹp đẽ nhưng khác với khu Đại La Thành ở bên ngoài có đông dân cư, chợ búa sầm uất nên vô cùng nhộn nhịp, Hoàng Thành chỉ gồm các cung điện, đền đài, chùa chiền được rào xung quanh bởi các dải tường đá đã lên màu rêu phong. Vì vậy đường xá trong Hoàng Thành tuy to rộng nhưng ít người qua lại nên có đôi phần đìu hiu.

Trời càng lúc càng âm u, mưa bắt đầu rơi nặng hạt trở lại khiến cho gần trưa mà cảnh sắc vẫn một màu tối tăm. Bất chấp cái thời tiết éo le đó, Nhật Duật vẫn miệt mài phi ngựa trên con đường đá xám tịnh không một bóng người.

Quyển 2 - Chương 32: Đại hành khiển

Đại La là vòng tường đất bao bọc ngoài cùng Thăng Long với hai mươi cổng phân bổ tại bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc. Vào đến bên trong Hoàng Thành thì số lượng cổng chỉ còn bốn gồm Diệu Đức ở phía Bắc, Tường Phù ở phía Đông, Đại Hưng ở phía Nam và Quảng Phúc ở phía Tây(1). Còn Cấm Thành, khu vực trong cùng là nơi ở của đức vua thì có đúng một cổng duy nhất để ra vào là Dương Minh Môn.

Hoàng Thành tuy diện tích khá lớn nhưng cổng Quảng Phúc vốn rất gần Dương Minh Môn, con Đông A Xích Thố chỉ sải vó dăm ba bước là Nhật Duật đã ở trên cầu Đoạn Nguyệt. Qua cầu, Duật kìm cương con ngựa chỉ cho nó phi nước kiệu. Dương Minh Môn trong chốc lát đã hiện ra sừng sững trước mặt chàng.

Cổng Dương Minh thời Trần chính là Ngũ Phượng Lâu thời Lý đóng vai trò cổng chính nam của Cấm Thành, lối ra vào duy nhất giữa Cấm Thành và Hoàng Thành. Cổng Dương Minh có kiến trúc dạng môn các. Bên dưới là môn gồm có Dương Minh ở giữa, Nhật Tân ở bên trái, Vân Hội bên phải. Bên trên là gác được gọi là gác Triều Thiên. Cổng Dương Minh ở giữa luôn đóng im ỉm, chỉ dành cho đức vua và thượng hoàng. Cổng Nhật Tân bên trái dành cho văn võ bá quan trong triều. Cổng Vân Hội bên phải dành cho sứ giả và quan lại nước ngoài.

Nhật Duật đến dưới cổng Dương Minh thì thấy cờ xí rợp khoảng sân trước mặt. Trên gác Triều Thiên đèn đuốc sáng trưng. Quân Túc Vệ dàn hàng mấy đội, đứng chật cả một khu vực lớn. Đằng sau các đội Túc Vệ, Nhật Duật còn thấy thấp thoáng bóng cờ có thêu ba chữ vàng “Thánh Dực Quân”.

Như vậy là cả quân Thánh Dực cũng được điều động rồi, Chiêu Văn Vương thầm nghĩ. Thánh Dực Quân hay còn gọi là Thiên Tử Quân là đạo quân tinh nhuệ chuyên lo việc bảo vệ đức vua và thượng hoàng. Đạo quân này gồm toàn những người xuất thân đặc biệt như dân không ruộng đất, trộm cướp, tù nhân, người tứ cố vô thân, được triều đình tập hợp lại, huấn luyện và trang bị chính quy. Vì đạo quân này gồm toàn những người không gia đình, không bạn bè, được triều đình ban cho cuộc sống mới nên đặc biệt trung thành với nhà vua và có tinh thần cảm tử cũng như độ tinh nhuệ số một phương Nam. Nhắc đến Thánh Dực Quân thì ngay cả các vị tướng quân hàng đầu như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải cũng phải nể trọng.

Nhật Duật xuống ngựa, tiến lại gần toán quân Túc Vệ đang canh gác trước cửa Dương Minh nói:

- Chiêu Văn Vương xin vào yết kiến đức quan gia có việc gấp!

Thấy người mới tới là vị vương gia quyền cao chức trọng, tên đội trưởng đám lính gác liền vội vã bước ra thưa:

- Đức ông, xin người thứ lỗi. Hiện tại đang có lệnh giới nghiêm, hạn chế tối đa ra vào Cấm Thành.

Nhật Duật nghe vậy liền rút từ trong người ra tấm lệnh bài vương gia, đưa cho viên đội trưởng xem:

- Ta có việc quân khẩn cấp cần báo cáo.

Tên đội trưởng lưỡng lự đôi chút, rồi đáp:

- Được, vậy để tôi dẫn đức ông vào. Ngựa của đức ông xin để lại bên ngoài, tôi sẽ cử người trông.

Nhật Duật gật đầu, quy định trong Cấm Thành từ trước đến nay trừ đức quan gia và thượng hoàng thì tất cả đều không được phép cưỡi ngựa. Tên đội trưởng liền lệnh cho gã lính gần đấy tiến lại, đỡ dây cương Đông A Xích Thố từ tay Nhật Duật. Con ngựa thấy thế hí lên một tràng, hai vó trước nhảy chồm lên. Mấy tên lính đứng xung quanh và cả tên đội trưởng thấy con ngựa vừa hung dữ vừa dũng mãnh như vậy đều sợ xanh cả mặt.

- Ngoan nào, ngươi đi theo bọn họ. Chờ khi ta xong việc sẽ trở ra đón!

Nhật Duật vừa nói vừa vuốt ve con Hồng Mao. Con ngựa dường như hiểu lời chàng, không chồm lên nữa mà để yên cho tên lính dắt đi. Viên đội trưởng thấy con ngựa ngoan ngoãn trở lại thì yên tâm, vội vã đi trước dẫn đường. Gã đưa Nhật Duật băng qua đám lính Túc Vệ, tiến về phía cửa Nhật Tân.

Gần đến cổng thành, Chiêu Văn Vương nhìn sang phía đội quân Thánh Dực đang đứng im lìm canh gác trước Dương Minh Môn. Quân Thánh Dực người nào người nấy thân thể cao lớn, mình mang giáp vàng, tay phải cầm giáo, tay trái cầm khiên, hai bên hông dắt theo một đôi gươm ngắn. Bọn họ đầu đều cạo trọc, giữa trán thích ba chữ “Thiên Tử Quân”. Số lượng của họ chỉ khoảng hơn trăm người nhưng lại có khí thế áp đảo cả nghìn lính Túc Vệ.

“Quả là tinh binh, một có thể địch trăm. Nghe đồn quân Thánh Dực còn được học phép thuật trong quán Thái Thanh, chẳng biết thực hư thế nào?” Nhật Duật vừa nghĩ vừa theo viên đội trưởng bước qua cổng thành.

* * * * *

Qua cổng Dương Minh là đến một khoảng sân rộng lát đá xanh. Cuối sân có bậc đá đầu rồng dẫn lên khu điện các hoa lệ. Khu điện các này chính là Tập Hiền Điện và Minh Linh Các, nơi vua Trần thiết yến tiệc.

- Đức ông, xin mời người đi lối này!Viên đội trưởng nói đoạn chỉ vào lối đi bên trái.

- Chúng ta sang phía điện Thọ Quang sao?

Nhật Duật hỏi lại, viên đội trưởng không đáp chỉ lẳng lặng gật đầu. Nhật Duật thấy vậy không nói gì thêm. Bình thường các vương hầu, quan lại có việc gấp cần gặp vua Thiệu Bảo(2) thì đều đi thẳng qua Tập Hiền Điện, tiến vào Long Trì phía trong. Lần này Nhật Duật lại được dẫn ra phía điện Thọ Quang, chàng đoán là do lệnh giới nghiêm mới ban.

Điện Thọ Quang nằm bên trái điện Tập Hiền, được dùng làm nơi nghị luận quân sự và võ thuật, tính chất tương tự điện Giảng Võ dưới thời Lý. Viên đội trưởng sau khi dẫn Nhật Duật vào đây thì mời chàng ngồi trên chiếc ghế lót da hổ, sau đó vội vã chạy đi.

Nhật Duật chờ một lúc lâu vẫn không thấy động tĩnh gì. Chàng bắt đầu đi ra, đi vào tỏ vẻ sốt ruột. Đúng khi đấy có toán quan hành khiển(3) lật đật chạy vào. Đi đầu toán hành khiển là một ông già với búi tóc bạc trắng nhưng động tác vẫn còn cực kỳ nhanh nhẹn.

- Phạm Ứng Mộng bái kiến đức ông!

Nhật Duật ngay lập tức nhận ra người hoạn quan già. Phạm Ứng Mộng làm hoạn quan từ thời Trần Thái Tông vua cha của Nhật Duật, giờ đến đời Thiệu Bảo là cháu nội của Thái Tông cũng được tính là lão thần ba đời vua. Chàng nhanh chóng lại gần đỡ lão dậy, nói:

- Đại hành khiển không cần hành lễ, người đừng làm tôi áy náy. Đã lâu không gặp, đại hành khiển vẫn khỏe chứ?

Phạm Ứng Mộng biết Nhật Duật từ hồi bé. Khi xưa lão hoạn quan thường hay chăm lo cho chàng. Mấy năm gần đây Nhật Duật được điều lên trấn ải biên cương nên ít gặp lão, giờ hàn huyên thấy có đôi chút bùi ngùi.

Lão hoạn quan già cười vui vẻ, nói:

- Tôi vẫn khỏe, đức ông trông rắn rỏi lắm!
- Đại hành khiển, tôi muốn gặp đức quan gia và đức thượng hoàng có chuyện khẩn cần báo cáo.

Lão hoạn quan nghe thấy thế thì trầm tư, đáp:

- Hiện giờ đức quan gia và đức thượng hoàng đang bàn chuyện với thái sư. Đức ông có thể chờ một lát được không?

Nhật Duật lắc đầu, thái độ càng thêm khẩn trương:

- Vậy càng hay. Chuyện mà tôi muốn báo cáo là việc có liên quan đến sảnh Phi Y.

Phạm Ứng Mộng nghe nhắc đến sảnh Phi Y thì nét mặt chợt trầm hẳn xuống. Cần biết vào thời Trần việc quản lý đất nước được chia cho ba sảnh thượng thư tương đương với lục bộ thời sau. Nhưng ngoài ba sảnh thượng thư chính ra, nhà Trần còn một sảnh khác cực kỳ bí mật gọi là Phi Y. Phi Y có nghĩa là không quần áo, không trang phục, một cách chơi chữ của họ Trần. Nhưng ngoài ra Phi Y còn mang nghĩa những điều cơ bản nhất, không bị che dấu bởi bất kỳ thứ gì. Sảnh Phi Y là nơi tập trung hoàng thân quốc thích, thực hiện những nhiệm vụ bí mật của họ Trần. Ngay cả Phạm Ứng Mộng cũng không hề biết sảnh Phi Y thực hiện những việc gì và bao gồm những ai. Lão chỉ biết là chuyện có liên quan đến sảnh Phi Y thì không thể chậm trễ.

- Vậy mời đức ông đi theo tôi!

Phạm Ứng Mộng không nói thêm lời thừa. Lão xua tay cho bọn hành khiển khác lui ra rồi tự mình dẫn đường cho Chiêu Văn Vương.

Phạm Ứng Mộng năm nay đã ngoài bảy mươi nhưng vẫn rất nhanh nhẹn. Lão dắt Nhật Duật đi qua hành lang của điện Thọ Quang, xuyên qua gác Minh Hà, vòng vèo phía sau Nguyệt Lâu của sân Long Trì. Hành lang nối tiếp hành lang, lầu gác xen lẫn lầu gác, thêm vào đó là các tấm bình phong, cây cảnh bố trí theo trận đồ Bát Quái. Nhật Duật tập trung tinh thần, thử nhớ lại quang cảnh và lối đi nhưng đột nhiên chàng thấy huyền lực trong người trở nên loạn xạ, phải cố lắm mới giữ ổn định được. Duật sực tỉnh, ngoài trận đồ Bát Quái thì nơi này chắc chắn được yểm thêm cả bùa của quán Thái Thanh. Đây rất có thể là tác phẩm của Đạo Thậm sư tổ.

- Đức ông, đã đến nơi. Xin người đứng đây chờ tôi một lát!

Phạm Ứng Mộng nói với Nhật Duật rồi tiến về phía hai hàng quân Thánh Dực đang đứng gác im lìm trước cổng một khu nhà trông kín đáo, bốn bề bao bọc bởi cây xanh và tường rào. Lão hoạn quan già trao đổi nhỏ to với tên đội trưởng toán lính một lúc. Tên này sau khi nghe lão hoạn quan nói xong thì không ừ, không hữ lấy nửa lời, chỉ ra hiệu cho Ứng Mộng đợi. Sau đó gã hé cổng ra khoảng nhỏ chỉ vừa đủ một thân người rồi bước vào trong. Thấy viên đội trưởng đi qua cổng, bọn lính canh liền đóng chặt lại. Chờ độ tàn nửa nén hương, viên đội trưởng đi ra gật đầu với Ứng Mộng. Đại hành khiển nét mặt mừng rỡ, vội vàng chạy lại báo với Nhật Duật:

- Đức quan gia có lệnh cho mời đức ông vào.

- Đại hành khiển, cảm ơn người!

Nhật Duật chào lão hoạn quan rồi bước qua hai hàng lính Thánh Dực uy nghiêm, đẩy cánh cổng gỗ tiến vào bên trong.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Diệu Đức hiện giờ là cửa Bắc, Tường Phù là cửa Đông, Đại Hưng là cửa Nam còn cổng Quảng Phúc đã không còn dấu tích.

(2) Thiệu Bảo: tức niên hiệu của vua Trần Khâm từ năm 1279-1285. Vua Trần Khâm thường được biết tới với tên miếu hiệu là Trần Nhân Tông.

(3) Hành khiển: là chức quan dành cho hoạn quan thời Lý, Trần, chuyên lo việc hành chính trong cung.

Quyển 2 - Chương 33: Sảnh Phi Y

Đằng trước khu nhà là một khoảnh sân rộng lát gạch đỏ. Duật nhanh chóng băng qua sân, bước vào trong căn nhà ba gian với hàng cột phía trước để trơn mộc mạc chứ không chạm trổ rồng phượng cầu kỳ như những nơi khác trong Cấm Thành. Bên trong khá nhỏ, chỉ kê độc hai hàng ghế lót da hổ đối diện nhau. Trên những chếc ghế đó hoàn toàn trống trơn không có người ngồi. Đúng khi Chiêu Văn Vương đang nghi hoặc nhìn quanh thì bất chợt có giọng nói trầm trầm và dứt khoát vang lên từ góc tường bên tay tả gian nhà:

- Vào đây đi!

Nhật Duật nghe thấy thế thì lòng chợt bùi ngùi. “Mấy năm rồi không gặp, đức thượng hoàng chắc vẫn khỏe nên lời nói mới sang sảng như vậy”.

Thượng hoàng Trần Hoảng là anh ruột của Trần Nhật Duật, con trai thứ hai của vua Thái Tông (1), còn Nhật Duật là con thứ sáu. Tuy Duật kém thượng hoàng gần hai mươi tuổi nhưng sau khi lên ngôi vua, thượng hoàng rất quan tâm, chăm sóc chàng. Đối với Duật, thượng hoàng không chỉ là đức bề trên mà thực sự là người anh tận tâm và đáng kính.

Chiêu Văn Vương đi lại góc nhà, lần mò một lúc thì tìm ra được cánh cửa gỗ bí mật. Chàng mở cửa, bước vào trong. Đằng sau cánh cửa lại là gian nhà khác rộng rãi hơn nhiều. Ngay khi tiến vào, Nhật Duật liền chạm trán bốn người lính Thánh Dực đang đứng gác nghiêm trang. Bốn người lính này mang mặt nạ dát vàng nhưng vẫn để lộ ra khoảng trán xăm chữ “Thiên Tử Quân”. Vóc dáng và trang phục của bọn họ cũng oai vệ hơn hẳn so với lính Thánh Dực thường. Lúc đi ngang qua, Nhật Duật còn cảm nhận được huyền lực tỏa ra từ người bọn họ. “Thánh Dực Tứ Tướng xem ra đều biết phép thuật, quả là danh bất hư truyền”, Chiêu Văn Vương nghĩ thầm rồi tiếp tục tiến tới.

Ở chính giữa gian nhà rộng có hơn chục chiếc ghế to xếp thành hình bán nguyệt. Hiện tại đang có bốn người ngồi trên ghế nhìn thẳng ra phía cửa. Còn một người mày rậm, cằm vuông, vóc dáng như rồng như hổ, trên mình khoác giáp bạc thì lặng lẽ đứng hầu sau lưng bốn người trên.

Ngồi ngoài cùng bên tay tả là một thanh niên chạc hai mươi, my thanh, mục tú, khoác áo hoàng bào. Thanh niên trông thoáng qua thì đầy vẻ thư sinh nhưng vầng trán cao và đôi mắt sáng tạo ra cảm giác đây là con người thông minh, quyết đoán. Thanh niên khoác áo hoàng bào chính là đức vua Thiệu Bảo. Bên cạnh vua là một trung niên mặt vuông chữ điền, nét mặt cương nghị đầy vẻ nghiêm khắc. Ông là Thượng hoàng Trần Hoảng, bố ruột của nhà vua và anh trai của Nhật Duật. Ngồi kế bên thượng hoàng là trung niên hao hao giống ông. Trung niên mình mặc áo giao lĩnh vàng, ngồi cạnh hai vua mà bên hông vẫn dắt theo gươm báu. Ánh mắt trung niên sắc lẹm nhưng nụ cười lại rất hiền từ. Trung niên hiệu là Chiêu Minh Vương, tên thật Trần Quang Khải, đảm đương chức vụ thái sư đầu triều hiện giờ. Cuối cùng bên tay hữu có một lão đạo sĩ già mặc bộ áo xanh bạc màu, chân đi hài cỏ. Đạo sĩ đầu tóc bạc phơ nhưng da dẻ vẫn hồng hào tươi nhuận. Đôi mắt lão lúc nào cũng lim dim khiến không ai có thể đoán ra trong đầu đang suy nghĩ gì. Đạo sĩ không rõ họ, chỉ biết tên Thậm nên hay được gọi là Đạo Thậm, là sư tổ quán Thái Thanh. Nhật Duật đã từng gặp lão mấy lần.

- Trần Nhật Duật xin bái kiến đức quan gia, đức thượng hoàng, thái sư và Thái Thanh sư tổ.

Thượng hoàng và Thái sư Quang Khải thấy em mình từ khi ra trấn thủ Tây Bắc thì cường tráng hơn, thân thể nhanh nhẹn, ánh mắt tinh minh có thần, đôi khi còn như phát ra tia chớp thì nhất loạt đều mỉm cười hài lòng. Sư tổ Đạo Thậm ngồi im trên ghế, không tỏ động thái gì. Riêng vua Thiệu Bảo là người mừng rỡ hơn cả, nhanh chóng đứng dậy bước tới đỡ Chiêu Văn Vương dậy. Nhà vua và Nhật Duật tại triều chính thì là phận quân thần, trong dòng họ là quan hệ chú cháu nhưng hai người tuổi gần suýt soát nhau, lúc nhỏ cùng lớn lên trong Hoàng Thành nên thường hay đá cầu, luyện võ chung. Do vậy cả hai đặc biệt thân thiết như bạn bè đồng trang lứa. Trước khi Nhật Duật lên trấn thủ Tây Bắc, chính vua Thiệu Bảo đã tặng cho chàng tràng hạt đồng đen Tống Thiết Phật Châu để hộ thân.

- Chú về đây thật hay quá. Ta rất nhớ chú!

Nhật Duật thấy tình cảm chân thành của nhà vua thì cảm động, nói:

- Đức quan gia ngày càng cường tráng, anh minh. Thần trấn giữ biên cương cũng thấy yên lòng.

Vua Thiệu Bảo lắc đầu thở dài:

- Tình hình đang lúc rối ren, chú là người thông thạo tiếng và tập tục của người Man, ngoài chú không ai có thể trấn ải trên Tây Bắc tốt hơn không thì ta đã bàn với thượng hoàng giữ chú lại triều. Hôm trước có bọn Bố Bà Ma Các sứ giả Chiêm Thành sang cống voi trắng mà dâng thư với luận đàm mấy ngày cả triều không ai hiểu tường hết ý. Nếu có chú có phải mọi việc đơn giản không?

Nhật Duật cười, đáp:

- Đức quan gia quá coi trọng thần rồi!

Chiêu Văn Vương từ nhỏ vốn đã thông minh hơn người. Chàng không những làu thông kinh sử, võ nghệ cao cường mà còn nổi tiếng bởi khả năng ngoại ngữ và giao tiếp đặc biệt. Mới hơn hai mươi tuổi mà hầu như các tiếng dân tộc của Đại Việt, Nhật Duật đều nói được hết. Ngoài ra chàng còn nói tốt tiếng phương Bắc, tiếng Chiêm Thành nên sớm trở thành nhà ngoại giao có tiếng trong triều. Trước kia sứ giả các nước sau khi vào yết kiến vua Trần đều tạt qua phủ Chiêu Văn chơi. Hiện tại trong phủ Chiêu Văn vẫn có dăm ba người nhạc công Chiêm Thành lưu lại.

- Thưa đức quan gia, bọn Bố Bà Ma Các còn ở sứ quán không? Nếu có thời gian thần sẽ qua thăm hỏi.

Vua Thiệu Bảo gật đầu, nói:

- Vẫn còn. Nay quân Thát Đát lại chuẩn bị xâm lược bờ cõi nước ta. Việc đàm phán, liên kết với Chiêm Thành cũng rất quan trọng.

Nhật Duật đáp:

- Thần hiểu!

Thượng hoàng bất chợt cất lời, cắt ngang câu chuyện của hai chú cháu:

- Chiêu Văn Vương ngươi lần này bỏ quân về kinh thành, nếu không có việc thực sự hệ trọng thì tội không nhỏ đâu.

Tình cảm của thượng hoàng với người em thứ sáu tuy rất tốt nhưng ông cũng là người công bằng vô tư, thưởng phạt nghiêm minh. Nhật Duật nghe thượng hoàng nói vậy liền đưa mắt nhìn sang phía sư tổ quán Thái Thanh. Đạo Thậm vẫn ngồi im lìm không nhúc nhích. Thượng hoàng thấy cái nhìn đấy của chàng thì khẽ gật đầu. Nhật Duật hiểu ý, vội vã tâu:- Bẩm đức quan gia, bẩm đức thượng hoàng, thần về đây gấp vì có việc cần báo cáo cho sảnh Phi Y. Số là thần tình cờ biết được tin tức về Gươm Rồng. Nghe nói đây là thứ vũ khí thần kỳ mà Bố Rồng Lạc Long Quân cho truyền xuống để bảo vệ phương Nam mỗi khi có loạn lạc.

- Gươm Rồng ư? – Vua Thiệu Bảo, thượng hoàng và thái sư quay sang nhìn nhau ngơ ngác.

Sư tổ Đạo Thậm nãy giờ vẫn im lặng bất chợt lên tiếng:

- Gươm Rồng là thứ vũ khí được tạo thành từ một mảnh của gươm Phi Long, thứ thần binh Bố Rồng luôn mang theo bên mình. Nghe đồn Gươm Rồng có nhiều phép thuật kỳ diệu. Tại phương Nam khi xưa còn lưu truyền tin tức rằng ai lấy được Gươm Rồng tức là được Bố Rồng chọn, có tư cách làm chủ cả vùng đất này.

Thượng hoàng nghe sư tổ quán Thái Thanh nói vậy thì nhăn mày:

- Như vậy tức là ai có Gươm Rồng trong tay thì sẽ trở thành vua của Đại Việt sao?

Nhật Duật nghe thế biết thượng hoàng có ý lo lắng cho ngôi cửu ngũ(2). Chàng vội vã đáp:

- Bẩm đức thượng hoàng, không hẳn vậy. Theo như lời đức thánh Tản Viên thì Gươm Rồng được truyền xuống mục đích chính là để giúp cho phương Nam thoát khỏi cơn loạn lạc. Còn chủ nhân của Gươm Rồng cũng không bắt buộc phải là vua của toàn Đại Việt.

- Ngươi đã gặp đức thánh Tản Viên sao? – Cả thượng hoàng và thái sư đều ngạc nhiên, đồng thanh hỏi.

Nhật Duật thở dài, kể lại hết toàn bộ mọi chuyện. Bắt đầu từ khi chàng bị người của phủ Cao Sơn bắt đi tìm Bạc Luông rồi đến việc đánh nhau với hổ tinh, tìm thấy Hộp Rồng rồi lại bị Hắc Hổ cướp mất, cho đến cả chuyện chàng và Vi Mai được Đạo Tổ Chử Đổng Tử cứu, tình cờ tham dự vào cuộc họp của Tứ Bất Tử trên đảo thánh.

Đạo Thậm nghe xong câu chuyện thì đứng bật dậy, nói:

- Thưa đức thượng hoàng, đức quan gia và thái sư, tôi vừa nói cho mọi người về Thượng Cổ Tứ Yêu, giờ hóa ra kẻ địch còn lôi kéo được thêm Hắc Hổ từ Ngũ Hổ Thần. Xem ra bọn chúng rất ghê gớm chứ không phải vừa.

- Thượng Cổ Tứ Yêu ư? - Nhật Duật thấy vậy thì tò mò hỏi lại. Chàng chưa bao giờ nghe qua bốn từ này.

- Phải. - Đạo Thậm nghiêm giọng đáp. - Sự việc trên bến Tây Dương chắc đức ông Chiêu Văn cũng đã chứng kiến rồi. Cái vòng tròn xác trắng đó là kết quả của Vũ Điệu Hút Máu. Một điệu múa đẹp đẽ mà cũng tàn ác bậc nhất thời thượng cổ. Điệu múa của một trong Thượng Cổ Tứ Yêu là Hồ.- Hồ? Tức là cáo tinh sao? - Nhật Duật kêu lên kinh hãi.

Đạo Thậm gật đầu:

- Đúng vậy, chính là cáo tinh. Thượng Cổ Tứ Yêu gồm bốn yêu quái thời thượng cổ là Hồ, Kê, Mộc, Ngư(3). Thời xưa khắp phương Nam đâu đâu cũng là yêu quái nhưng Hồ, Kê, Mộc, Ngư có pháp thuật cao cường và tàn ác nhất. Khi đó dân chúng phương Nam dưới sự lãnh đạo của vua Hùng liên miên chịu tai họa do yêu quái gây ra, liền không ngừng lập đàn hướng ra phía biển Đông cầu khóc Bố Rồng. Sau bốn chín ngày cầu khẩn liên tục, Bố Rồng động lòng từ Bát Hải xa xôi trở về phương Nam, cầm gươm Phi Long vi hành một vòng diệt hết Tứ Yêu triệt họa cho dân.

- Thưa sư tổ, nói vậy tức là Thượng Cổ Tứ Yêu đều đã bị Bố Rồng giết chết. Tại sao giờ lại xuất hiện Vũ Điệu Hút Máu?

Đạo Thậm lắc đầu, giải thích:

- Thực ra Bố Rồng không giết Thượng Cổ Tứ Yêu mà chỉ phong ấn bọn chúng lại. Thượng Cổ Tứ Yêu hấp thụ linh khí từ thời Thượng Cổ, trải qua hàng ngàn năm tu luyện nên không thể bị diệt trừ dễ dàng. Bố Rồng chỉ có thể phong ấn bọn chúng, chờ qua tháng năm từ từ làm triệt tiêu hết yêu khí.

Nhật Duật nghe thế thì rất lo lắng, nói:

- Thưa sư tổ, ý của người là có kẻ đã giải phong ấn được cho Thượng Cổ Tứ Yêu rồi ư?

Đạo Thậm lắc đầu, đáp:

- Chuyện này bần đạo không chắc lắm. Nhưng Vũ Điệu Hút Máu đã xuất hiện, hơn nữa bọn đồ tử, đồ tôn của tôi vừa báo cáo mực nước ở hồ Dâm Đàm(4) cách nay mấy hôm đột ngột tụt hẳn xuống.

Nhật Duật ngạc nhiên hỏi lại:

- Thưa sư tổ, hồ Dâm Đàm thì có liên quan gì đến Tứ Yêu?

- Hồ Dâm Đàm có nghĩa là đầm xác cáo. Đây chính là nơi khi xưa Bố Rồng phong ấn Hồ.

Đạo Thậm vừa dứt lời, trong gian nhà kín đáo bỗng nhiên nổi gió. Cơn xào xạc mang theo cả mùi ẩm của đất, mùi ướt của lá. Khi mọi người còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì sư tổ quán Thái Thanh bất ngờ kêu lên:

- Có yêu quái!

Ông ta nói đoạn rời khỏi chỗ ngồi, chạy như bay ra ngoài. Nhật Duật không chút chậm trễ vội vã bám theo sau.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Trần Hoảng: miếu hiệu là Trần Thánh Tông, vị vua thứ hai đời Trần, cũng là con thứ hai của Trần Thái Tông. Con đầu của Thái Tông là Trần Quốc Khang, vốn là con của An Sinh Vương Trần Liễu, anh ruột Thái Tông. Khi xưa Trần Thủ Độ ép Trần Liễu phải nhường người vợ đang mang thai là Thuận Thiên công chúa cho người em là vua Thái Tông. Do vậy dù trên danh nghĩa là con cả, Trần Quốc Khang không được trao ngôi vua mà ngôi này được dành cho người con trai thứ hai của Thái Tông là Trần Hoảng.

(2) Ngôi cửu ngũ: Tức chỉ ngôi vua. Hào cửu ngũ trong quẻ Càn của kinh Dịch có là tượng con rồng bay trên trời, tức là tượng vị vua. Do đó ngôi vua gọi là ngôi Cửu ngũ.

(3) Thượng Cổ Tứ Yêu: Hồ, Kê, Mộc, Ngư có nghĩa là bốn yêu quái từ thời Thượng Cổ gồm cáo tinh, gà tinh, cây tinh và cá tinh.

(4) Hồ Dâm Đàm: tức hồ Tây ngày nay.

Quyển 2 - Chương 34: Liễu

Bạc Nương trầm mình xuống hồ. Một cái hồ kỳ lạ. Hồ được lát gỗ xung quanh và còn đặt trong phòng kín. “Lúc nãy bà lão kia nói đây là cái gì nhỉ? À, là phòng tắm! Người dưới xuôi thật buồn cười, sao họ không ra suối tắm luôn cho tiện mà lại đào hồ trong nhà thế này?”.

Cô gái nhỏ chìm hẳn người xuống. Làn nước ấm vỗ về thân thể khiến nàng thấy khoan khoái vô cùng. “Kể ra cũng thích thật đấy, mà ấm áp thế này làm buồn ngủ quá. Trước giờ tắm cảm giác sướng nhất là sạch, bây giờ mới biết là còn có thể thoải mái thế này. Buồn ngủ quá cơ! Bố dặn lúc nào cũng phải tỉnh táo, đề phòng mọi thứ. Nhưng sao mà ta thấy mệt thế? Làm thế nào để tỉnh táo được đây?”.

Khuôn mặt Bạc Luông hiện ra, thân quen nhưng cũng rất mơ hồ. “Con cần phải biết rằng cuộc sống vốn rất khó khăn. Cuộc sống của một thầy phép lại càng khó khăn hơn nữa. Con cần phải tỉnh táo và lạnh lùng, nên nhớ nếu chưa tin ai thì đừng để người ta biết mình có phép thuật. Đừng thân thiết với bất cứ ai, lại càng không để có tình cảm với bất kỳ người nào. Tình cảm là mọi nguồn gốc của khổ đau. Ngay cả ta nếu mất, con cũng phải nhanh chóng quên, đừng đau buồn. Hãy luôn nhớ, cuộc sống của con mới là thứ quan trọng nhất!”.

Khuôn mặt của Bạc Luông mờ dần, mờ dần, hóa thành một quầng trắng. “Mây, Mây ơi, Mây! Bố nói gì nhỉ, không được thân thiết với bất cứ ai, không để có tình cảm với bất kỳ người nào. Nhưng Mây không phải là người. Bố lúc nào cũng cấm đoán, bắt ta phải thế này thế kia, nhưng ông lại không ôm ta, không thủ thỉ với ta, không vỗ về ta, không cho ta gục đầu vào lòng. Mây lại khác. Từ khi biết Mây, ta cảm thấy vui hơn, ta có chỗ tâm sự, ta được nói, được khóc, được cười. Mây ơi! Giờ Mây ở đâu? Ta nhớ Mây quá! TA NHỚ MÂY QUÁ!”.

Bạc Nương cảm nhận rõ ràng từng dòng nước mắt tuôn đẫm hai bên má. “Tại sao ta lại ở đây? Tại sao ta vẫn phải sống? Giờ ta đi về đâu? Giờ ta nên làm gì? Không ai an ủi, không ai vỗ về, giờ cũng không có ai hướng dẫn, chỉ bảo. Bố đã mất rồi, Mây cũng đi luôn. Ta… ta thật… ta thật sao nhỉ? Đúng rồi CÔ ĐƠN! Ta thật cô đơn! Bố đã nói con phải cô đơn và hãy cố gắng càng cô đơn càng tốt. Nhưng ta không muốn thế này! Ta thực sự không muốn! Ta không thích cô đơn!”.

Bạc Nương khóc nức nở, nàng không còn cảm nhận được hai hàng nước mắt tuôn rơi nữa nhưng nàng vẫn biết mình đang khóc ghê lắm. Khóc như chưa bao giờ được khóc, nàng đang khóc bằng tâm hồn.

Bỗng nhiên một mùi ẩm ướt đột ngột tràn vào phòng, như mùi của đám lá mục, lại giống mùi đất dậy lên sau cơn mưa to. Mùi hơi lạnh, hơi se sắt nhưng lại nhẹ nhàng, thoang thoảng. Bạc Nương ngửi thấy mùi đấy thì bình tĩnh lại thôi không khóc nữa. Chỉ trong chốc lát mùi lạ đã tràn ngập căn phòng tắm.

* * * * *

Bà hầu già cầm bộ quần áo vừa bước vào đã như hóa đá. Cơ thể Bạc Nương trắng hồng như ngọc, mịn màng không chút tì vết. Trông nàng đẹp đẽ, cao sang giống Hằng Nga trên trời.

- Bà… bà làm sao thế? - Bạc Nương nhìn bà ta tò mò hỏi.

Bà già hít vào một hơi, tạm bình tĩnh lại được rồi nói:

- Tiểu thư… tiểu thư đẹp quá! Bình sinh kẻ hầu ở phủ Chiêu Văn này các cô ả đào, rồi vũ công nghiêng nước, nghiêng thành thấy qua rất nhiều. Có điều không ai đẹp được bằng một phần của tiểu thư.

Bạc Nương nghe thấy bà hầu cứ một điều “tiểu thư”, hai điều “tiểu thư” thì lẽ lưỡi, nói:

- Ta tên Bạc Nương, tiểu thư cái gì? Bà mang đồ cho ta đấy à?

Bà lão nghe thế sực tỉnh, đáp:

- Trong phủ quần áo nữ chả có mấy, may mà đợt trước có vài bộ của các vũ công Chiêm Thành để quên. Tôi thấy vừa người tiểu thư nên mang cho tiểu thư đây.

- Cảm ơn bà! - Bạc Nương nói đoạn đón lấy bộ trang phục từ tay bà hầu.

Bà lão quay người đi, tim đập thình thình. “Kinh khủng thật, ta là một bà già mà còn cảm thấy thế này. Thêm mấy năm nữa tiểu thư này nhất định làm khuynh đảo đất nước. Đức ông của chúng ta quả thật có con mắt tinh đời”.

* * * * *

- Tiểu thư đang đi tham quan quanh phủ à? Để tôi dẫn tiểu thư đi! - Lão Phúc cất tiếng đột ngột làm Bạc Nương giật mình.

- Ta… ta đang đi tìm… mùi!

- Mùi ư? Mùi gì thế? - Lão bộc già ngơ ngác hỏi lại.

Bạc Nương lắc đầu chả biết phải giải thích với lão thế nào.

- A tôi biết rồi, hay là mùi từ nhà bếp. Tiểu thư đói rồi chứ gì, để tôi bảo người dọn cơm. - Lão Phúc cười tít mắt. “Hóa ra là kiến bò bụng đây mà, cái này thì lão Phúc ta xử lý dễ dàng”.

- Không phải!

Bạc Nương lắc đầu đáp rồi chỉ vào một lối đi bên ngách:

- Mùi khác cơ, từ hướng này!

- À, đấy là hướng ra phía khu vườn sau nhà. Trời đang mưa mà tiểu thư vẫn muốn đi vãn cảnh ư?

Bạc Nương gật đầu dù nàng chả hiểu đi vãn cảnh là gì.- Được, vậy mời tiểu thư theo tôi. - Lão bộc già với lấy cái ô rơm để đầu hành lang, lật đật đi trước dẫn đường.

Phía sau phủ Chiêu Văn là một khu vườn rộng rãi. Phủ đã vốn rất lớn mà khu vườn phải chiếm đến hơn nửa diện tích. Trong vườn trồng nhiều cây cối, có cả các tảng đá to giả làm núi non. Cuối vườn là một chiếc hồ nhỏ có tường rào bao quanh ngăn cách với hồ lớn Liên Thủy ở bên ngoài. Bên bờ hồ có thủy đình(1) làm nơi ngồi chơi ngắm cảnh hoặc gảy đàn, uống trà. Trên bờ hồ đối diện thủy đình nơi sát với tường rào có một cây cổ thụ to. Cây xanh rì, không rõ bao nhiêu tuổi. Từng tán lá dài của cây thướt tha như bộ tóc xanh khổng lồ che phủ khoảng lớn mặt hồ.

- Kia là cây gì mà đẹp thế? - Bạc Nương đứng trên thủy đình, chỉ cây xanh mà hỏi lão Phúc.

Lão Phúc nghe nàng hỏi thế thì cười, đáp:

- À, cô là người miền ngược nên không biết hả? Đây là cây liễu. Cây này hay được trồng ven hồ. Tại Thăng Long trồng nhiều liễu lắm, dọc suốt hồ Dâm Đàm và hồ Lục Thủy(2) trồng toàn là liễu thôi. Mà khoan, cây liễu thuộc ngũ quỷ(3) vốn không ai trồng trong nhà. Phủ chúng ta cũng có trồng liễu bao giờ đâu nhỉ?

Mùi ẩm ướt bất ngờ bốc lên ngào ngạt, sương ở đâu hiện ra trắng xóa mặt hồ. Lão Phúc chợt thấy đầu óc mụ mị, người lảo đảo rồi ngã đánh huỵch xuống nền đá xám. Bạc Nương không để tâm tới lão bộc già, chỉ hướng tầm mắt ra xa, nhìn xuyên qua làn sương trắng trên mặt hồ. Nàng mỉm cười, cất tiếng nói to:

- Ngươi cũng đang rất cô đơn, có phải không?

Cây cổ thụ trên bờ hồ đối diện rung rinh cành lá, gió nổi lên xào xạc.

* * * * *

- Bà là ai?

- Ta là mẹ của con, con gái ạ! Con hãy dựa vào người ta, ngủ đi nào con ngoan!

- Bà là mẹ thật ư? Mẹ hóa ra là như thế này à? Ấm áp thật đấy, ấm áp như Mây vậy!

- Đúng thế, ta là mẹ con đây. Con ngủ ngoan nào. Ầu ơ…

- Mẹ, mẹ ơi!!!

- Con ngoan hãy ngủ đi, hãy chìm vào giấc mơ để quên đi nỗi cô đơn. Ta sẽ nâng niu, thương yêu, che chở cho con.

- Bà thật là dịu dàng, thật là ấm áp. Nếu có một người mẹ như bà thật, ta hẳn sẽ sung sướng lắm.
- Con nói gì vậy, ta chính là mẹ của con mà!

- Ta cũng mong như vậy nhưng mẹ ta mất đã lâu rồi. Bà đã từng mất con, có phải không? Bà cũng đáng thương như ta.

- CON NÓI CÁI GÌ VẬY? TA KHÔNG MẤT CON. CON LÀ CON CỦA TA MÀ!

- Bà cô đơn rất lâu rồi. Còn cô đơn hơn cả ta cơ, cô đơn hàng ngàn năm. Thật tội nghiệp!

- Không, không, ta không cô đơn. Con của ta, trả con cho ta! Ngươi là con của ta mà. Con ơi, lại đây với ta! Ngủ đi con, ngủ đi nào!

- Bà rất dịu dàng, bà rất ấm áp, nhưng lại rất cô đơn. Con của bà đã không còn nữa nhưng từ giờ bà có thể ở bên ta.

- Ngươi, ngươi… con nhóc kia, ngươi là ai?

* * * * *

Bạc Nương mở mắt ra. Sương đã tan mất, mưa vẫn còn lất phất, thay vào vị trí cây cổ thụ đối diện bên hồ là một người đàn bà đẹp. Dáng bà dong dỏng cao, khuôn mặt thanh tao, mái tóc xõa dài xanh đậm không khác gì tán cây rủ bóng mặt hồ. Người đàn bà trông thấy Bạc Nương thì đột nhiên rít lên căm phẫn như tiếng quỷ đói kêu gào dưới đáy Địa Ngục.

Chỉ thấy nhoáng lên một cái, người đàn bà đã đứng bên này thủy đình. Khuôn mặt bà ta hiện rõ, không phải mặt người phụ nữ mà là bộ mặt của con quỷ cái khát máu đang lúc tức giận. Những lọn tóc xanh như hàng ngàn cánh tay yêu quái vươn ra, cuốn chặt lấy Bạc Nương nâng lên cao:

- Con nhãi ranh nhà ngươi dám trêu đùa ta! Ngươi phải chết!!!

Bạc Nương đối diện với nữ quỷ vẫn bình thản, từ tốn nói:

- Bà.. bà thật đáng thương. Con bà mất đã lâu lắm rồi… có phải không? Cô đơn hàng ngàn năm chắc không dễ dàng gì?

Nữ quỷ nghe thế thì càng rít lên hung tợn:

- Ngươi… ngươi nói gì? Ta sẽ giết ngươi, sau đó hút cạn linh hồn ngươi!

- Bà đừng làm thế… không nên làm thế. Mẹ… mẹ ơi…!

Bạc Nương nói rồi bất chấp khuôn mặt vô cùng đáng sợ của nữ quỷ ôm bà ta vào lòng.

- Mẹ… từ giờ bà làm mẹ ta nhé! Có gì ta sẽ tâm sự… thủ thỉ với bà. Bà hãy bảo vệ ta, che chở ta và… vỗ về ta, an ủi ta nữa…

- Ngươi, ngươi… - Nữ quỷ đã không còn rít, âm thanh bớt hung dữ hơn.

- Từ giờ bà và ta ở bên nhau, chúng ta sẽ không còn sợ… sợ cô đơn nữa!

Nữ quỷ lặng thinh không nói gì. Hình ảnh xa xưa hiện ra mờ ảo trong tâm trí.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Thủy đình: Là một dạng kiến trúc được xây ven hồ để ngắm cảnh, hoặc có thể xây ở giữa hồ dùng làm nơi múa rối nước.

(2) Hồ Lục Thủy: Tức hồ Gươm hiện nay.

(3) Ngũ quỷ: Là một khái niệm trong phong thủy chỉ về những điều xấu. Nếu nói về thực vật thì ngũ quỷ chỉ năm loài cây không nên trồng trong nhà gồm có liễu, hòe, si, đa và gạo.

Quyển 2 - Chương 35: Rồng khí

Vào thời Hùng Vương thứ mười hai, yêu quái ở phương Nam rất nhiều, hoành hành ngang ngược. Hùng Vương và dân tộc Lạc Việt được thừa kế trực tiếp dòng máu rồng, tiên nên trong nước có nhiều người giỏi pháp thuật, đánh dẹp được hết yêu ma, bảo vệ yên bình cho bờ cõi nước Văn Lang(1).

Khi ấy, giáp biên giới với Văn Lang về phía Nam có nước Hồ Tôn, dân nơi đấy ngày đêm khốn khổ vì nạn yêu quái. Vua nước ấy thấy nước Văn Lang nhiều thầy phép tài giỏi lại là trực hệ của loài giống rồng tiên mới cho rằng người tộc Lạc Việt có dòng máu quý, quyết định cử sứ giả sang cầu thân cho hoàng tử Hồ Tôn. Khi đi, sứ giả Hồ Tôn mang theo rất nhiều trân châu, bảo vật làm sính lễ.

Đoàn người nước Hồ Tôn đi mất cả tháng trời ròng rã mới đến Phong Châu, kinh đô của Văn Lang. Vua Hùng là người rất hiếu khách, đem đại lễ thịnh soạn ra tiếp đón đoàn. Yến tiệc chán chê, sứ Hồ Tôn dâng biếu trân châu, bảo vật, lấy cớ kết thân tình bằng hữu. Hùng Vương nghe thế thì vui vẻ nhận hết. Khi ấy, sứ Hồ Tôn mới kể mục đích chính là sang cầu thân, nài nỉ Hùng Vương đáp ứng. Vua Hùng lúc đầu không chịu, nhưng bảo vật đã nhận rồi, lại thấy cuộc sống của dân Hồ Tôn bị yêu quái hành hạ đúng là đau khổ, mới đành động lòng đồng ý. Khi đó, người cháu gái của vua cũng đã vào tuổi cập kê, liền quyết định gả nàng sang nước Hồ Tôn.

Sứ giả Hồ Tôn nghe Hùng Vương đồng ý thì vui mừng khôn xiết, đứng dậy reo hò. Ngay trong hôm ấy đoàn sứ Hồ Tôn xin phép Hùng Vương cho đón dâu, nhanh chóng quay trở về nước. Khi đoàn sứ Hồ Tôn về đến quê hương, vua Hồ Tôn thân chinh ra đón rồi lập tức lên kế hoạch tổ chức đám cưới cho hoàng tử. Đám cưới giữa hoàng tử Hồ Tôn và mỵ nương(2) Văn Lang được tổ chức linh đình, dân Hồ Tôn ăn mừng cả tháng trời không nghỉ. Mỵ nương sống xa xứ thì rất nhớ nhà nhưng cuộc sống ban đầu cũng dễ chịu nên nàng không cảm thấy buồn phiền lắm. Trong khi đó cả nước Hồ Tôn đều ngày đêm trông ngóng mỵ nương có tin vui để họ có được hậu duệ của giống rồng, tiên.

Cuối cùng niềm mong chờ cũng đã đến, mỵ nương hoài thai. Toàn bộ nước Hồ Tôn lại được dịp nhảy múa ăn mừng. Mỵ nương mang thai chín tháng mười ngày đến kỳ sinh nở. Tất cả già, trẻ, lớn, bé tại Hồ Tôn đều mong chờ sinh linh mới ra đời. Tốt nhất là một hoàng tử, không thì là một công chúa cũng không đến nỗi nào.

Ai ngờ đứa trẻ mỵ nương sinh ra không phải hoàng tử, cũng không phải công chúa mà là một quái thai. Quái thai không ra hình người, dặt dẹo được hai hôm thì chết. Cả nước Hồ Tôn khi đấy náo loạn. Đoàn sứ sang Văn Lang khi xưa mới nhớ ra ban đầu Hùng Vương không muốn gả người sang Hồ Tôn. Thế là dân Hồ Tôn quay ra nghi ngờ Hùng Vương lừa dối, không gả dòng dõi rồng, tiên thật. Đúng lúc ấy, hoàng tử Hồ Tôn lại đột ngột bị bệnh qua đời. Vua Hồ Tôn thấy vậy liền nổi cơn giận lôi đình.

Vua hạ lệnh bắt trói mỵ nương, mang đi cho quân lính Hồ Tôn làm nhục. Sau đó bọn chúng tống mỵ nương vào nhà giam, hàng ngày chỉ cho cơm thừa, canh cạn.

Dần dà, người ta cũng quên luôn nàng. Hai năm trôi qua, vào ngày giỗ của hoàng tử, vua Hồ Tôn đột nhiên nhớ tới mỵ nương. Ông ta cho mở cửa phòng giam để xem nàng sống hay chết.

Khi binh lính mở cửa, trước mặt vua Hồ Tôn hiện ra cảnh tượng lạ lùng. Mỵ nương vẫn sống khỏe mạnh, tinh thần tươi tắn, trên tay nàng còn bế một đứa trẻ kháu khỉnh. Thì ra sau khi bị đám lính làm nhục, mỵ nương lại hoài thai. Chín tháng sau sinh ra một bé trai bụ bẫm. Mỵ nương tuy ở trong ngục tối cực kỳ đau khổ nhưng sau khi sinh con, tình yêu của người mẹ trỗi dậy. Nàng cắn răng chịu đựng, chăm bẵm cho đứa bé từng chút một. Tình yêu thương của người mẹ thật kỳ lạ, tuy ở trong chỗ tối tăm mà đứa bé vẫn lớn lên khỏe mạnh, càng ngày càng lém lỉnh. Mỵ nương xa quê hương, đất nước, lại bị tống vào ngục không ai quan tâm, chăm sóc. Mỵ nương vốn rất cô đơn, lạnh lẽo. Tuy thế từ khi đứa con chào đời, nàng đã tìm thấy động lực tinh thần duy nhất, chỗ dựa duy nhất, niềm tin duy nhất, lý do duy nhất để tiếp tục tồn tại.

Vua Hồ Tôn trông thấy mỵ nương vẫn khỏe mạnh, tinh thần thậm chí còn tốt hơn trước. Vua nhìn sang đứa bé lanh lợi, động lòng nghĩ đến con mình. Càng nghĩ đến hoàng tử, nỗi giận dữ của vua càng lớn lên. Cuối cùng không thể kiềm chế được, vua Hồ Tôn để cơn giận dữ chiếm đoạt cơ thể, hạ một mệnh lệnh không thể tha thứ. Đó là bảo đám lính bắt đứa trẻ vứt cho đàn chó xé xác.

Chứng kiến cảnh con mình bị giết hại, mỵ nương nổi điên. Nàng gào lớn như quỷ, bất chấp tất cả lao vào đám lính cào cấu chúng. Đám lính nhanh chóng đẩy nàng trở lại ngục tối, khóa trái cửa. Mỵ nương gào thét ba ngày ba đêm trong ngục, đến ngày thứ tư thì kiệt sức mà chết. Khi vua Hồ Tôn cho mở cửa ngục ra, mỵ nương đã chết ngồi. Mái tóc nàng xõa dài sang hai bên, hai bàn tay rách bươm vì cào tường đá, mắt nàng đẫm máu. Trông bộ dạng nàng còn đáng sợ hơn nữ quỷ.

Vua Hồ Tôn thấy thế thì kinh hồn tởm vía, hạ lệnh cho chặt thi thể mỵ nương ra từng mảnh nhỏ đem vứt khắp nơi cho thú rừng ăn. Bốn mươi chín ngày sau đêm mỵ nương mất, lính gác trong cung đột nhiên nghe thấy vua Hồ Tôn kêu gào thảm thiết. Lúc chúng chạy đến nơi thì vua đã băng hà, mắt trợn ngược.

Linh hồn mỵ nương sau khi giết vua Hồ Tôn trả thù vẫn nặng ân oán, không thể đầu thai được, trải qua vài năm dần hóa thành nữ quỷ. Nữ quỷ oán hận dân Hồ Tôn đã tước đi đứa con của nàng nên tác oai, tác quái, bắt cóc trẻ con Hồ Tôn mà hút linh hồn. Trải qua hơn trăm năm, nước Hồ Tôn bị diệt vong, nữ quỷ tìm lên phía Bắc về lại địa bàn nước Văn Lang quê hương. Tại đây nữ quỷ gặp thêm bốn đồng bọn, tạo thành nhóm Ngũ Quỷ cùng nhau đi gây họa bốn phương.

Nước Văn Lang càng về đời sau dòng máu rồng tiên càng nhạt dần, pháp thuật ngày càng suy giảm. Đến đời Hùng Vương thứ mười sáu thì yêu quái hoành hành dữ dội, đời sống dân Văn Lang cực kỳ điêu đứng. Lúc đấy, toàn bộ nước Văn Lang do Hùng Vương đứng đầu quyết định lập đàn cầu khẩn, thỉnh Bố Rồng từ Bát Hải xa xôi về cứu con cứu cháu.

Lạc Long Quân nghe lời thỉnh cầu, đem theo gươm Phi Long trở về. Yêu quái phương Nam nhanh chóng bị quét sạch. Ngũ Quỷ không nằm ngoài số phận của lũ yêu quái cũng bị Bố Rồng tìm giết. Tuy nhiên, do oán hận của Ngũ Quỷ quá nặng nên chúng không thể bị tiêu diệt mà chỉ bị phong ấn lại. Lạc Long Quân tùy theo tính chất pháp thuật của Ngũ Quỷ mà phong ấn chúng vào từng loài thực vật khác nhau. Nữ quỷ mỵ nương khi xưa bị phong ấn vào một cây liễu.

Trải qua thêm hơn nghìn năm, cây liễu đứng nhìn vận đổi sao dời, chứng kiến Thăng Long từ một làng Long Đỗ nhỏ bé trở thành kinh thành đô hội của cả đất nước Đại Việt. Nữ quỷ cứ tưởng mình mãi mãi làm cây liễu như vậy thì đột nhiên phong ấn được gỡ bỏ.

* * * * *

Đạo Thậm lạnh lùng nhìn nữ quỷ trước mặt. Dưới chân lão, quân Thánh Dực nằm lăn lóc. Nữ quỷ dáng dong dỏng cao, tóc xõa tung che gần kín người. Xung quanh nữ quỷ, lá bay, gió thổi, mưa rơi cuốn lại thành cơn lốc nhỏ.
- Yêu quái chớ lộng hành! - Đạo Thậm cất tiếng, không to, không nhỏ, rõ ràng từng từ một. Nói chưa hết câu lão đã rút từ trong ống tay áo ra một thanh gươm gỗ.

- Càn Khôn Thâu Nhiếp Kiếm(3)! - Đạo Thậm hô lớn rồi xoay nhẹ gươm, vạch trong không khí một vòng tròn Âm Dương. - Sơ Cửu Càn, Tiềm Long Vật Dụng(4)!

Chiêu thức đầu tiên của Càn Khôn Kiếm Pháp phóng ra không quá mạnh mẽ, không quá tốc độ nhưng lại bao phủ hết toàn bộ không gian xung quanh. Trong cái bình thường, đơn giản lại ẩn chứa hiểm họa khôn lường. Càn Khôn Kiếm Pháp dựa trên hai quẻ Càn(5) và Khôn(6) của Kinh Dịch. Đây là bộ kiếm pháp cơ bản của quán Thái Thanh, bất kỳ đồ đệ nào trong quán đều biết. Tuy thế, để thực sự phát huy tối đa uy lực của bộ kiếm pháp này thì chắc chỉ có mình Thái Thanh sư tổ.

- Trấn! - Đạo Thậm lạnh lùng nói.

Một chiếc lồng khí khổng lồ từ trên cao chụp xuống đầu nữ quỷ. Nữ quỷ vẫn bình thản như không. Khi chiếc lồng chụp xuống gần đến nơi, nữ quỷ đột nhiên rít lên chói tai. Lá, mưa, gió quay càng lúc càng nhanh, tạo thành một cơn lốc xoáy đánh thẳng vào lồng khí. Chỉ nghe tiếng nổ đanh gọn trên không, chiêu đầu tiên của Càn Khôn Kiếm Pháp đã bị tiếng thét của nữ quỷ hóa giải hoàn toàn. Đạo Thậm thấy chiêu thức của mình bị phá vẫn điềm nhiên như không, cất tiếng quát:

- Khá khen yêu quái nhà ngươi cũng có chút đạo hạnh. Xem ra ta phải thực sự ra tay rồi!

Đạo Thậm nói xong liền rút ra một lá bùa vàng từ ống tay áo. Lão tung bùa lên không, lá bùa lượn quanh một vòng rồi quay lại dính chặt vào lưỡi gươm gỗ.

- Hóa Long! - Đạo Thậm hô lớn, lá bùa trên lưỡi gươm bốc cháy ngùn ngụt. Không khí đột nhiên nóng bỏng, cô đặc lại.

Nhật Duật đứng gần đấy mặc dù đã vận huyền lực bảo vệ toàn thân mà vẫn thấy ngộp thở.

- Cửu Nhị Càn, Hiện Long Tại Điền(7)!

Đạo Thậm vung gươm gỗ lên, từ dưới đất khí bỗng bốc lên ầm ầm tụ lại thành hình rồng. Rồng khí to dần ra, không khác gì rồng thật. Con rồng bất chợt quẫy đuôi, đạp chân, bay quanh sân ép cho mọi người ngạt thở.- Xuất! - Đạo Thậm hô lớn.

Chiêu thứ hai của Càn Khôn Kiếm Pháp vốn uy lực không khác mấy so với chiêu đầu nhưng vì Đạo Thậm đã dùng thêm bùa chú biến ra rồng khí nên giờ đây chiêu này thật sự có khả năng bạt núi ngăn sông.

- Lão sư tổ, người định đánh sập cả sảnh Phi Y ư? - Nhật Duật thấy thế thì lo lắng hét to. Con rồng khí đang gây ra một trận bão lớn, quả thật có thể khiến cho cả khu nhà đổ sụp bất kỳ lúc nào.

- Đức ông yên tâm, khí của tôi là vô vi(8), thuận với tự nhiên. Các người chỉ cần không phải kẻ địch thì không lo bị nó làm tổn hại.

Đạo Thậm nói mà động tác không hề chậm lại, gươm giơ lên chỉ thẳng hướng nữ quỷ. Rồng khí cuộn mình, quẫy đuôi, nhằm nữ quỷ lao tới. Gió rít lên chói tai thay cho tiếng rồng ngâm.

Nữ quỷ thấy tình thế trước mặt thì không thể thản nhiên được nữa. Thị gào lên một tiếng, mái tóc dài xõa tung ra, bay ngợp trời tạo thành đám mây xanh khổng lồ. Con rồng khí càng quẫy càng lớn, càng quẫy càng mạnh, khi áp sát nữ quỷ thì miệng nó đã to hơn nửa người thị. Con rồng gầm lên, há miệng đớp lấy nữ quỷ. Mái tóc nữ quỷ chụm lại, tạo thành chiếc khiên xanh chống lại đòn tấn công của con rồng.

* * * * *

* Chú thích:

(1) Văn Lang: Tức tên nước Đại Việt thời các Hùng Vương trị vì.

(2) Mỵ nương: Tức công chúa theo cách gọi của người Lạc Việt xưa.

(3) Càn Khôn Thâu Nhiếp Kiếm: là bộ kiếm pháp cơ bản của quán Thái Thanh mô phỏng theo quẻ Thuần Càn và Thuần Khôn trong Kinh Dịch, đại ý bao trọn đất trời trong một bộ kiếm.

(4) Tiềm Long Vật Dụng: là hào sở cửu (đầu tiên) của quẻ Thuần Càn, có nghĩa rồng còn ẩn náu, chưa đem tài ra dùng được;

(5) Quẻ Càn: trong Kinh Dịch tượng trưng cho trời;

(6) Quẻ Khôn: trong Kinh Dịch tượng trưng cho đất;

(7) Hiện Long Tại Điền: là hào cửu nhị (thứ hai) của quẻ Thuần Càn, có ý nghĩa rồng đã hiện ở cánh đồng, ra mắt đại nhân thì lợi.

(8) Vô vi: Là một từ của Đạo Giáo, hiểu nôm na có nghĩa là thuận với trời đất.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau