THẦN LONG CỬU CHUYỂN

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau

Chương con truyện Thần long cửu chuyển - Chương 1 - Chương 5

Chương 1: Biến cố ở Thạch Cúc đảo

Vào thời Tống triều sự thái bình thịnh trị, mưa thuận gió hòa đang ngự trị trên toàn cõi Trung Nguyên. Có minh quân, có trung thần thì trăm họ được sống trong cảnh bình an viên mãn là việc đương nhiên.

Nếu nội trị đã thế thì việc ngoại trị, việc cõi bờ luôn được yên tĩnh không một lần xảy ra chuyện can qua cũng là điều phải mà thôi. Đông, Tây, Nam, Bắc, các hướng vây quanh Trung Nguyên gồm các bộ tộc, các rợ, những man di đều thuần phục Tống triều, tự nguyện xưng là thần tử của đấng Thiên tử - con trời đang ngự trị một cách vững vàng tại Kinh thành.

Tiền kho, thóc lẫm ở bất kỳ một tổng nào thành nào cũng đều dư dật dưới thời thịnh trị này.

Thiên thời là thế, địa lợi là thế, thì nhân hòa là điều không cần phải diễn giải. Người mua, kẻ bán nhất nhất đều vui lòng thỏa dạ, vì không phải là sanh ý của mọi người đều được như nguyện sao?

Ngày đi đường không sợ cướp bóc, tối ngủ trong nhà không cần đóng cửa cài then vì không sợ trộm đạo!

Một năm mười hai thời, hai mươi bốn tiết, vào thời thịnh trị này, người nào dù lam lũ vất vả mấy đi chăng nữa cũng thừa thời gian để được nhà cư, nhàn tản, nhàn du! Và những kẻ được nhà rỗi vào thời này phải nói đến bọn văn nhân, tử sĩ, hàn sĩ...

Khắp mọi nơi trên toàn cõi Trung Nguyên này, kể cả những nơi sơn cùng thủy tận đều có dấu chân của bọn văn nhân này, nói như thế để mọi người khỏi phải lấy làm ngạc nhiên khi ở bất kỳ một cao lâu nào, tửu điếm nào cũng có mặt bọn văn nhân!

Thi và tửu luôn đi đôi với nhau, nếu không phải vậy thì làm sao Lý Bạch được xưng tụng là Thi tiên, Tửu tiên?

Tửu có nhập thì thi mới xuất, và một khi thi hứng đã tràn trề thì tửu hứng đã dâng cao thì bất kỳ một chỗ trống nào, chỗ phẳng nào dù chỉ bé bằng một bàn tay cũng được bọn văn nhân tận dụng. Không phải họ tận dụng tất cả những chỗ đó để ngồi hay để nằm. Ngồi và nằm làm sao được khi đã nói là bọn văn nhân cũng tận dụng luôn những chỗ bé tí bằng bàn tay? Mà bọn họ đã tận dụng mọi nơi mọi chỗ như thế để đề thơ!

Kiểu lưu tự này thì mỗi người, mỗi văn nhân có những kiểu ghi khác nhau, người thì ghi bằng mực xạ, kẻ thì dùng chu sa, kẻ khác thì dùng những vật nhọn và sắc để khắc vào Thơ thì cũng đủ loại, vịnh cảnh, vịnh người, đề nguyệt, đề phong, đủ cả!!

Và chỗ ghi thư danh thì cũng lắm vẻ!

Người thì nhún nhường hoặc không đề danh hoặc ghi cho có là Vô danh thi, kẻ thì muốn lưu danh muôn thuở nêu đã ghi đầy đủ danh tánh có khi lại kèm theo danh hiệu, tước hiệu ngoại hiệu...

Đi đến đâu cũng thấy bọn văn nhân đề thơ lưu tự! Đi đến đâu cũng thấy rằng mình không phải là người đầu tiên đặt chân tới đây. Tuy thế, mọi người hầu như không chấp nhất điều này, bọn văn nhân cuồng chữ này, vì là thời thái bình kia mà.

Ai muốn làm gì mặc ai, miễn không phạm vào vương pháp là được. Đó mới thực sự được xem là thái bình.

Bọn giang hồ võ lâm ở Trung Nguyên cũng thế, võ lâm Trung Nguyên cũng đang hưởng cảnh thanh bình.

Nói rằng võ lâm Trung Nguyên đang sống trong thời cực thịnh cũng không ngoa. Nói như thế chỉ vì hầu như tất cả mọi môn phái, bang phái giang hồ, mọi chi, mọi lưu của từng món bang phái đều dư dật thời gian và thừa mứa tài trí để phát huy nền võ học của mỗi môn trong bang phái.

Đáng kể nhất là các phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Không Động, Côn Luân, và nhất đại bang là Cái bang.

Thiếu Lâm phái là nguồn gốc võ học Trung Nguyên hiện đang thịnh danh nhờ Thiếu Lâm thánh tăng với Phật danh là Hư Không thánh tăng. Công phu tạo chỉ của Hư Không thánh tăng cơ hồ đã đạt đến bậc thánh.

Võ Đang thì có Võ Đang Tiên Kiếm. Mọi nhân vật giang hồ đều ít lắm một lần xưng tụng kiếm pháp của Võ Đang Tiên Kiếm là: mỗi khi động thủ - điều mà rất ít khi xảy ra - thì Tùng Hạc lão đạo trưởng chỉ cần vận khí là thanh Tùng Hạc kiếm của ngài sẽ tự bay khỏi vỏ, vượt đoạn đường mười trượng xa trong một cái chớp mắt và địch thủ của Tùng Hạc lão đạo trưởng chỉ còn nước nhắm mắt xuôi tay trông chờ vào lượng từ bi của Tùng Hạc lão đạo trưởng Võ Đang Tiên Kiếm. Do mọi người đều nói thế nên không ai dám nghĩ đến chuyện kiểm chứng thử nghiệm, hoặc không một ai dám nghi hoặc về điều mà mọi người đã đồng ý là thế cả. Dù mọi người vẫn đồng ý là rất ít khi Tùng Hạc lão đạo trưởng Võ Đang Tiên Kiếm phải động nộ đến mức phải động thủ. Tuy vậy mọi nhân vật giang hồ, vẫn cứ tiếp tục truyền tụng về Võ Đang Tiên Kiếm.

Phái Không Động tuy là phái sanh sau đẻ muộn so với hai đại phái Thiếu Lâm và Võ Đang nhưng cũng có một nhân vật đặc biệt thành danh trên khắp miền Đại Nam Mạc Bắc, khiến cho võ lâm Trung Nguyên phải kính nể một phép trước phái Không Động. Nhân vật đó là Tạ lão thần quyền, hay còn được mọi người kêu tôn là Không Động Thần Quyền. Tạ lão tính đến nay cũng đã hơn lục tuần mà vẫn còn tự xưng là hậu sinh khi nói đến Thánh tăng, Tiên kiếm. So với Thiếu Lâm thánh tăng và Võ Đang Tiên Kiếm thì Tạ lão là hậu sinh nên không bao giờ Tạ lão dám xưng danh xưng tánh với hai vị đó. Ngược lại, Tạ lão thần quyền lại là trưởng bối của Chưởng môn Không Động phái và là hàng sư tôn chí cao chí đại của mọi nhân vật võ lâm đương đại nên không một ai dám hỗn hào gọi tên húy của Tạ lão! Và... dù ai đó có cao ngạo đến đâu đi chăng nữa có muốn kêu đích danh Tạ lão thần quyền ra thì cũng chẳng biết đâu mà kêu. Do đó, mọi người đều lấy làm hài lòng với cách gọi Tạ lão thần quyền, hay gọi tôn lên một chút lấy lòng thì gọi là Không Động Thần Quyền.

Chuyện của phái Côn Luân thì để sau hãy nói tuy rằng phái Côn Luân nằm vào nhóm các môn phái hữu danh của võ lâm Trung Nguyên.

Còn bây giờ hãy nói đến nhất đại bang của Trung Nguyên là Cái bang hay Khất Cái bang.

Cái bang được thành lập thành bang hồi nào không ai biết được, duy có một điều mà mọi người ai ai cũng công nhận đó là ở bất kỳ chỗ nào hễ có người ở thì phải có bọn Khất Cái.

Chỗ đông dân cư thì đương nhiên nhiều Khất Cái, chỗ thưa dân hơn thì bọn Khất Cái ít hơn. Nói ra điều này để thấy rằng từ muôn đời hễ có người thì phải có Khất Cái.

Có nghĩa là nghề ăn xin, ăn mày đã có tự lâu lắm rồi, và dĩ nhiên là bọn Khất Cái phải tụ họp lại, phải cấu kết thành từng nhóm nhỏ hay hơn để bảo vệ nhau, để binh vực nhau mỗi khi có chuyện gì đó đụng chạm đến quyền lợi của chúng.

Và vào một lúc xa xưa nào đó, có lẽ vào những lúc quyền lợi của bọn Khất Cái bị động chạm mạnh nên đã có đôi lần bọn Khất Cái họp lại thành một bang. Họp lại với nhau để che chở cho nhau, sau khi quyền lợi đã được bảo vệ xong, đã được minh định xong thì bọn Khất Cái lại ai nấy về vị trí cũ.

Nhưng rồi cũng có lần nào đó, khi chẳng những quyền lợi của Cái bang động chạm mà quyền lợi của võ lâm Trung Nguyên cũng bị uy hiếp thì Cái bang đã ra đời, thành một đại bang cái nhân số đông đảo, có địa bàn rộng khắp để sát cánh với các môn phái võ lâm Trung Nguyên với mọi nhân vật giang hồ cùng chung nhau bảo vệ quyền lợi chung.

Từ đó trở đi Cái bang có tổ chức hẳn hoi, có Bang chủ để điều động, để ra lệnh, để dẫn dắt bang chúng.

Và ngay bây giờ, Cái bang đang ở trong thời cực thịnh với Cổ bang chủ Loạn Pháp Đả Cẩu Cổ Khả Lạc.

Do tự muôn đời đã có Khất Cái, mà Khất Cái thì muôn đời có hai vật trong thân bất di bất dịch là bị và gậy nên Đả Cẩu bổng là cái không thể thiếu đối với bọn Khất Cái. Đã có Đả cầu bổng thì đương nhiên bọn Khất Cái phải sử dụng gậy Đả Cẩu bổng thành thục, tuy rằng mỗi người tùy nghi sử dụng cây gậy của mình không cần thành thanh pháp. Nhưng nói thì nói vậy chứ thật ra từ lâu lắm rồi mỗi một nhóm nhỏ Khất Cái cũng có người gom gáp lại các thế Đả cẩu hay nhất để sắp xếp lại thành những thế võ hay hầu truyền lại cho người đời sau. Và mỗi khi có dịp quy tụ lại, lúc chưa kết hợp lại thành Cái bang thì các tay đầu nhóm thường hay ngồi lại với nhau quanh một bầu rượu để khoe khoang với nhau, để biểu diễn cho nhau xem những thế Đả cẩu của nhóm mình! Và rồi cũng có kẻ góp nhặt tất cả lại, thế là Đả Cẩu bổng pháp đã hình thành! Và cho đến tận bây giờ, khi nói Cái bang đang ở trong thời cực thịnh thì điều này có nghĩa là chính Cổ bang chủ đã vận dụng nhiều tâm trí, nhiều sức lực để phát huy đến độ chót cái tinh xảo, cái biến ảo của Đả Cẩu bổng pháp để biến thành Loạn Pháp Đả Cẩu hữu danh hư thực! Điều này hầu như mọi nhân vật giang hồ võ lâm đều đã ít nhất một lần chứng thực.

Vì con người của Cổ bang chủ là con người hiệp nghĩa, như tôn chỉ của Cái bang là hành hiệp trượng nghĩa, nên Cổ bang chủ luôn có dịp vung gậy tương trợ. Do đã chứng kiến tận mắt nên không ai là không biết Đả Cẩu bổng pháp của Cổ bang chủ đúng là loạn pháp. Đối thủ nào của Cổ bang chủ sau khi tâm phục khẩu phục đều nói rằng Đả Cẩu bổng pháp của Cổ bang chủ chẳng những loạn pháp, loạn chuông mà còn làm cho kẻ thù phải loạn khẩu, loạn quyền, loạn luôn cả cước bộ.

Để tóm tắt lại, ai cũng lè lưỡi lắc đầu khi bảo nhỏ cho nhau nghe, “thật là vô phước cho kẻ nào đụng phải Loạn Pháp Đả Cẩu!”.

Bây giờ, mới nói đến phái Côn Luân! Côn Luân phái là một phái nhỏ so với các phái của võ lâm Trung Nguyên nhưng lại là một phái lớn ở vùng giáp Tây Vực.

Do là một môn phái nhỏ, lại ở xa các phái khác tại Trung Nguyên, nên điều kiện để môn nhân Côn Luân phái học hỏi võ công của người võ lâm thuộc các phái là rất ít, thiếu vắng điều kiện này nên võ học Côn Luân phái không có gì đáng kể. Nhưng lý do để nhắc đến Côn Luân phái vào lúc này, không thể không nhắc đến chỉ là vì Minh chủ đương nhiệm võ lâm Trung Nguyên là một nhân vật thuộc Côn Luân phái.

Sao lạ vậy? Đã nói võ học của phái Côn Luân là không đáng kể vậy tại sao vị Minh chủ võ lâm hiện nay lại là người Côn Luân?

Không một ai trên giang hồ trả lời được nghi vấn này! Họ chỉ còn cách chấp nhận một biệt lệ này kèm theo đó là những ức đoán. Mà đâu phải họ chấp nhận một cách khiên cưỡng, nhất nhất mọi người đều tâm phục khẩu phục, nhất hô bá ứng trước đức độ và chân tại thực học của La minh chủ.

Võ công của La minh chủ đúng là xuất xứ tại Côn Luân, chẳng những xuất phát ở đó lại không có một chút nào lai tạp, đó là võ công đích truyền của Côn Luân phái, điều này ai cũng công nhận.

Thế nhưng, trước La minh chủ và sau La minh chủ, không một môn nhân nào của Côn Luân phái nào có được công phu như La minh chủ. Cũng là quyền đó, chưởng đó, thân pháp đó nhưng một khi do đích tay La minh chủ sử dụng thì không ai đối chọi nổi. Điều này không lạ vì La minh chủ ra quyền ra chưởng và sử dụng thân pháp quá nhanh. Nhanh đến mức không tưởng, nhanh đến độ dù là Chưởng môn nhân Côn Luân phái đương thời đã biết trước là La minh chủ sẽ sử dụng chiêu đó, thức đó nhưng vẫn không thể nào ngăn đón được.

Biết để làm gì khi cái biết vừa chỉ manh nha trong tâm thức thì quyền của La minh chủ đã ập tới, chưởng của La minh chủ đã ập vào thân? Vậy là vô phương đón đỡ hoặc né tránh.

Cuối cùng, khi mọi người bàn đến võ học của La minh chủ đều lấy làm kinh sợ và bàn với nhau đặt một danh xưng cho La minh chủ là Tốc Khoái quyền. Đã Khoái có nghĩa là nhanh, quá nhanh, lại còn thêm vào chữ “Tốc” nữa, vậy thì gọi là gì đây? Cực nhanh? Nhanh vô địch? Điều này thì mạnh ai người nấy suy tưởng, miễn bàn! Chỉ biết là... ngoài La minh chủ ra, vô tiền khoáng hậu, không một nhân vật nào có thể nhanh bằng, sánh bằng.

May nhờ là La minh chủ là người đức độ cao ngang cái Tốc Khoái nên chưa từng có bất kỳ một nhân vật nào phải bị chết dưới tay La minh chủ cả. Những lúc bất đắc dĩ, những khi họa hoằn lắm bắt buộc La minh chủ ra tay thì chỉ cần một chiêu thôi là La minh chủ đã tước bỏ khả năng đối kháng của đối phương. Không bị tước đoạt binh khí thì cũng bị La minh chủ uy hiếp và khống chế huyệt đạo. Thúc thủ lần thứ nhất, La minh chủ gọi là cảnh cáo, lần thứ hai thúc thủ, La minh chủ cũng tạm bỏ qua, đến lần thứ ba tái phạm, La minh chủ bèn nhẹ nhàng phế bỏ võ công. Vậy là xong, vậy là hết đời một gian tặc mà không phải đổ một giọt máu nào.

Như vậy thì làm sao mọi người không tuân phục răm rắp hiệu lệnh do La minh chủ có tên rất gọn là La Thái ban ra?

Do võ học đạt đến trình độ cỡ đó nên mọi người cũng miễn bàn luận về trình độ nội công của La minh chủ! Những khi bắt buộc phải nói về mức độ thâm hậu của La minh chủ về nội công thì mọi người chỉ biết bảo nhau :

“Chắc là phải cao thâm! Dù sao, La minh chủ không cần nội công cao thâm cũng đã quá đủ để xưng là vô địch cái thế rồi!”.

Nhưng nếu mọi người miễn bàn luận vấn đề này thì mọi người lại bàn đến khía cạnh khác, liên quan đến La minh chủ. Đó là vì đâu mà La minh chủ lại có thể xuất thủ nhanh khác người như vậy?

Thế nhưng, sau những trận đấu khẩu thâm đêm, sau những lời phiếm bàn lúc trà dư tựu hậu, dù mọi người đã hao tổn nhiều ý lực và trí lực vẫn không sao giải đáp được nghi vấn này.

Vì rõ ràng lối xuất thủ nhanh vô thượng của La minh chủ không thể nào có được qua những phương pháp khổ luyện của phái Côn Luân được. Nếu là thế thì sao các vị tiền nhân của La minh chủ trong Côn Luân phái và cái vị đồng môn của La minh chủ và những tay hậu sinh đệ tử của Côn Luân phái không có ai đạt được một nửa sở học của La minh chủ? Điều mà mọi nghi vấn cũng chính là điều mà những môn nhân đệ tử Côn Luân phái hiện nay cũng đang nghi vấn! Bản thân người Côn Luân phái nghi vấn là vậy nhưng họ vẫn ...

(... tập này scan thiếu, từ trang 26, 27 tới thẳng trang 30, 31)

... nhiệm này? Không ai đáp được và cũng không sao tìm được người đầu tiên đã phao ngôn như vậy! Bí quá, mọi người lại đặt thêm giả thuyết nữa chồng vào giả thuyết trên. Đó là có một nhân vật giang hồ nào đó đã nhập bầy, sống chung với loài Bạch viên tại Hiệp Viên trũng. Nhân vật đó là người như mọi người nhưng vì sống chung với loài Bạch viên nên tự nhận mình là Viên. Và vì là người nên người đó không thể tạo cho mình một bộ lông hoặc tạo cho mình một lớp da trắng như tuyết, trắng giống như lông của bầy Bạch viên, nên không thể nhầm lẫn vào Bạch viên, nên không còn cách nào khác phải nhận mình là Huỳnh viên.

Huỳnh viên lão tổ cảm mến La Thái, thương La Thái và nể phục sự khổ luyện hết mình của La Thái nên đã xuất hiện truyền thụ bí pháp Tốc Khoái cho La Thái, để đến ngày hôm nay La Thái đã và đang là La minh chủ.

Truyền thuyết vẫn chỉ là truyền thuyết. La minh chủ hiện nay dẫu có nghe lọt tai những truyền thuyết này cũng chỉ mỉm cười. La minh chủ không xác nhận cũng không phủ nhận. Ai nghĩ sao mặc ai. Cảnh thanh bình đang diễn ra trên giang hồ kia mà!

Và đã không ít người vỡ mộng, khi họ tự lần mò đến Côn Luân phái, tìm hết mọi chỗ ở núi Côn Luân để chỉ phát hiện được Hiệp Viên trũng chỉ là một khoảng lư bằng nhỏ, không quá mười trượng vuông. Và tại Hiệp Viên trũng đó có một bầy Bạch viên đông đến những sáu con. Và trong sáu con Bạch Viên thuộc một gia đình đó không tìm được bất kỳ một con nào có bộ lông mà không mang một màu trắng như tuyết cả. Vậy, Huỳnh Viên lão tổ, nếu có đang ở đâu? Hay là đã chết rồi? Và nếu đã chết thì Huỳnh Viên lão tổ có lưu lại di thư tuyệt học gì không? Lưu lại ở đâu? Bằng hình thức nào? Hay Huỳnh Viên lão tổ chỉ là con vượn già, quá đỗi già nên đã rụng trơ trụi bộ lông mới bị gán cho là Huỳnh Viên? Và vì là vượn nên Huỳnh Viên lão tổ không biết chữ, không biết viết, do đó không thể nào lưu tự lại được?

Vậy là hết! Truyền thuyết về xuất xứ võ học của La minh chủ chỉ là truyền thuyết, còn Tốc Khoái quyền của La minh chủ vẫn là võ công cái thế, vạn nhân bất địch! La minh chủ vẫn là La minh chủ của võ lâm Trung Nguyên.

Võ lâm Trung Nguyên vẫn đang sống trong cảnh thanh bình. Võ học của võ lâm Trung Nguyên vẫn đang ở thời kỳ cực thịnh Thánh tăng, Tiên kiếm, Thần quyền, Loạn pháp và Tốc khoái vẫn là đầu đề cho mọi người chuyện phiếm, vẫn là cái gương sáng cho mọi người noi theo đó mà gắng sức luyện tập công phu!

Nhưng nhân vô thập toàn! Một cảnh quang tuyệt mỹ đến bực nào đi nữa vẫn không sao tránh khỏi khiếm khuyết.

Ở một góc nhỏ nằm ngoài rìa Trung Nguyên nhưng vẫn thuộc Trung Nguyên đang xảy ra một biến cố nhỏ. Chỉ là một biến cố nhỏ nhưng lại có tác dụng như khi ta ném một hòn sỏi vào mặt hồ rộng lớn đang tĩnh lặng. Mặt nước dần dần xao động. Thoạt đầu là xao động tại chỗ hòn sỏi nhỏ và vào mặt nước, nhưng sau đó đã lan rộng ra, loang dần xa, và loang ra khắp mặt hồ.

So với mặt hồ dù rộng lớn đến đâu, nhưng nếu có người đứng quan sát thì chậm lắm không đầy một khắc mặt hồ sẽ bị xao động toàn bộ. Còn võ lâm Trung Nguyên thì sự xao động đó diễn ra chậm hơn, ngấm ngầm hơn. Nhưng đến khi mọi người đều hiểu ra và phát giác thì như là vô phương cứu chữa.

Đó là chuyện về sau. Bây giờ xin thuật lại biến cố nhỏ đã xảy ra đó.

... Thạch Cúc đảo là một quần thể nhỏ gồm năm đảo cụm lại lần lượt có tên là Tọa đảo, Tiền đảo, Hậu đảo, Tả đảo và Hữu đảo! Năm đảo này cụm lại thành một quần thể có hình dạng gần giống hoa cúc nên được mọi người đi qua đặt cho một tên chung là Thạch Cúc đảo (đóa hoa cúc bằng đá).

Tọa đảo không lớn hơn bốn đảo còn lại, nhưng vì nằm ở vị trí trung tâm nên được gọi là Chính đảo hay Tọa đảo.

Có người còn ví vị thế của Thạch Cúc đảo như là Cửu Cung Liên Hoàn đảo, được sắp theo hình Linh Quy mà đầu và đuôi đã ngụp sâu vào lòng biển, chỉ còn lại cái thân, hai chân trước và hai chân sau của con Linh Quy.

Nhưng những dân cư tại bản đảo đã từng trổ tại lặn sâu hụp kỹ (gọi là Thủy tánh hay thủy công), họ vẫn không sao tìm được Thủ và Vỹ của Hải Linh Quy hay Thạch Quy đâu cả.

Có kẻ còn bảo đáng lý phải gọi Thạch Cúc đảo là Ngũ Hành đảo mới đúng, vì sự sắp xếp ngẫu nhiên của tạo hóa nên Thạch Cúc đảo có đúng năm hòn đảo, và lại còn nằm ở vị trí như Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nhưng, nếu cho là vậy thì lượng nước mênh mông bao phủ quanh Ngũ Hành đảo sẽ phải được gọi là gì? Còn giải thích làm sao khi dù là Kim, là Mộc, là Thủy hay Hỏa, Thổ thì tất cả đều được cấu tạo từ những viên đáo, những khối đá nằm đầy rẫy trên Thạch Cúc đảo?

Vậy thì Thạch Cúc đảo vẫn là Thạch Cúc đảo, bất chấp nó là Cửu Cung hay Ngũ hành gì mặc kệ!

Vì Thạch Cúc đảo là thuộc Trung Nguyên nên triều đình nhà Tống vẫn cắt đặt tại đây một vị quan trấn nhậm. Có quan ắt phải có quân và lý đương nhiên là phải có bầu đoàn thê tử. Lượng người này dù ít nhưng vẫn làm cho nếp sống của những cư dân bản đảo có phần khởi sắc. Họ chèo thuyền đánh cá, đánh đổi lấy thực phẩm và sắm mọi vật dụng như một người bình thường sống ở những nơi bình thường tại mọi miền của Trung Nguyên.

Có dân lành thì ắt có đạo tặc, mà hễ có đạo tặc thì phải có các nhân vật giang hồ chuyên trừ gian diệt bạo, hành hiệp trượng nghĩa!

Nổi cộm và xuyên suốt khắp năm đảo của Thạch Cúc đảo là Lam Y môn. Và Môn chủ của Lam Y môn là nhân vật thần bí nhất của Thạch Cúc đảo.

Bằng vào công phu quán tuyệt Lam Y môn Môn chủ có những hành vi xuất thần nhập hóa, không có nơi nào mà không có sự hiện diện của Môn chủ, bất kể đó là tư dinh của quan trấn nhậm của triều đình!

Tuy thế, tuy thần bí là thế nhưng Môn chủ Lam Y môn chưa một lần làm điều sai quấy nên Lam Y môn vẫn được kể là thần dân của thiên tử, là thần tử của Thiên triều, và là phần tử của võ lâm Trung Nguyên.

Trụ sở nhất định của môn nhân Lam Y môn ở đâu thì điều này chỉ có người trong bọn họ với nhau mới biết. Và nơi trú ngụ của Môn chủ Lam Y môn còn bí mật hơn. Duy chỉ có Môn chủ và Thập nhị đệ tự của Môn chủ mới biết.

Do bí mật như thế nên vào sáng hôm đó, tại nơi trú ngụ của Môn chủ đã xảy ra một biến cố mà sau này đã dẫn đến tình hình rối loạn tại võ lâm Trung Nguyên mà không một người nào biết đến.

Sáng hôm đó, vào đầu giờ Thìn, Hà Tứ Cô là nữ đệ tử lớn nhất trong năm nữ đệ tử của Môn chủ Lam Y môn, định vào Tịnh phòng để vấn an sự phụ, thì bắt gặp Thạch Đại Kha, nam đệ tử lớn nhất trong các người đệ tử nam của Môn chủ Lam Y môn từ Tịnh phòng bước ra.

Vừa gặp Hà Tứ Cô, Thạch Đại Kha liền thấp giọng bảo :

- Tứ muội, hãy theo ta ra sảnh đường.

- Nhưng muội còn chưa vấn an sư phụ mà.

Xạ ánh nhìn nghiêm khắc về phía Hà Tứ Cô, Thạch Đại Kha nghiêm giọng ra lệnh :

- Tứ muội còn định cãi lời ta sao? Còn không mau đi à?

Tiếng nói của vị Thạch Đại Kha tuy cố tình phát ra thật nhỏ nhưng Hà Tứ Cô tin rằng sư phụ vẫn nghe, vì từ chỗ này đến chỗ sư phụ ngồi tịnh đâu có xa xôi gì, chỉ độ năm trượng chứ mấy? Thế mà Hà Tứ Cô không thấy sư phụ lên tiếng quở trách vì lẽ Thạch Đại Kha không cho Hà Tứ Cô vào vấn an như mọi ngày. Điều này có nghĩa là Thạch Đại Kha đã hành động với sự đồng ý của sư phụ, và nếu thế thì Hà Tứ Cô không dám trái lệnh. Không những thế mà thôi, mà Thạch Đại Kha lại còn là đại đệ tử, đại sư huynh của Tứ Cô kia mà! Không cần sự đồng ý của sư phụ, Thạch Đại Kha cũng thừa sức bắt các vị sư đệ, sư muội phải tuân lệnh.

Do đó, sau khi mệnh lệnh ngắn gọn của Thạch Đại Kha, Hà Tứ Cô liền xoay người, bước nhanh về phía sảnh phòng gần đó.

Sảnh đường vừa là chỗ hội họp mỗi khi Lam Y môn có việc cần và vừa là nơi thao luyện võ nghệ y bát do đích thân Môn chủ Lam Y môn chỉ dạy. Do là một nơi như vậy, nơi luôn có bất kỳ một chuyện gì xảy ra, vui có, buồn có, nghiêm trọng có, bỡn cợt có, nên Hà Tứ Cô không sao đoán được Thạch Đại Kha kêu nàng đến sảnh đường có ý gì?

Dù sao, nàng cũng đoán được phần nào, và nghĩ rằng không phải là chuyện nghiêm trọng, bằng không, Thạch Đại Kha đâu có nhìn nàng bằng cái nhìn nghiêm khắc và nói bằng giọng nói không cho cãi lại.

Do đó, Hà Tứ Cô hồ nghi, thầm ức đoán lung tung :

- “Chẳng lẽ sau bao lần ta từ chối, hôm nay một lần nữa Thạch Đại Kha lại ngỏ lời cầu hôn? Vô lý! Nếu Thạch Đại Kha muốn cầu hôn đi nữa thì phải tạo khung cảnh khác để nói mới đúng, chứ đâu lại là sảnh đường? Hay là Thạch Đại Kha đã trình tâu với sư phụ về ý định này và đã được sư phụ đồng ý nên Thạch Đại Kha định cầu hôn bằng cách ra lệnh cho ta đây? Điều này càng vô lý hơn, vì không lẽ Thạch Đại Kha lại mất hết thể diện đến nỗi phải nhờ sư phụ can thiệp vào chuyện của riêng mình? Huống chi ta đã nhiều lần nói thẳng với Thạch Đại Kha là ta quyết không lập gia đình mà!... Mà... mà không đúng, ta đã không còn là xử nữ nửa! Ta đã là phụ nhân rồi, một phụ nhân lăng loàn mất nết đến độ không biết mặt mũi phu quân mình là ai! Bây giờ thì... ta hoàn toàn bất xứng với Thạch Đại Kha! Ta sẽ nói gì nếu Thạch Đại Kha cầu hôn với ta thêm một lần nữa? Giọt máu của kẻ vô tình đó đang lớn dần trong bụng ta, liệu ta còn biết ăn nói sao đây với mọi người? Hay là... Thạch Đại Kha đã phát giác được bào thai trong bụng ta, phen này...”.

Hà Tứ Cô lo sợ trong lòng nên đi lên phía trước, còn Thạch Đại Kha thì đừng phía sau chừng một trượng. Hà Tứ Cô vừa len lén cúi đầu nhìn vào phần bên ngoài bụng nàng, xem xem liệu có ai phát hiện ra bụng nào đang to dần ra không?

Từ khi đó cho đến lúc vào đến sảnh đường, Hà Tứ Cô không ngớt nơm nớp lo sợ.

Bước vào sảnh đường trong tâm trạng đó nên Hà Tứ Cô thấy gian sảnh đường hôm nay sao rộng quá, lạnh lẽo quá và rùng rợn quá.

Nhìn giá binh khí để dài hai bên sảnh đường, có đủ loại thập bát binh khi mọi khi sao mà thân quen, còn hôm nay Hà Tứ Cô càng nhìn càng thấy sợ.

Công phu võ học của Hà Tứ Cô đương nhiên có hạng tại Thạch Cúc đảo này. Tuy còn sút kém tam vị sư huynh và hai người sư đệ dưới quyền, nhưng Hà Tứ Cô tin vào lời sư phụ nói thì công phu nàng không kém gì những nhân vật vào hàng đại đệ tử của các môn phái khác lừng danh trên giang hồ. Suy đó cũng đủ biết đởm lược của Hà Tứ Cô đâu có kém, vậy mà hôm nay Hà Tứ Cô nghe có cảm giác là lạ, khác thường, không khác nào một thường nhân sức trói gà không chặt.

Boong... Boong... Boong!

Ba tiếng động ngân vang từ chiếc khánh treo ở đầu sảnh phát ra làm Hà Tứ Cô giật mình, nàng vừa lo sợ hơn, vừa hồ nghi thêm
Vì không phải Thạch Đại Kha vừa dùng chỉ công gõ vào khánh ba tiếng để báo hiệu lệnh gọi các sư đệ, sư muội dưới quyền Thạch Đại Kha tập trung tại sảnh đường hay sao?

Vậy thì đúng là có việc nghiêm trọng thật sự rồi! Nhưng nếu đã thế tại sao Thạch Đại Kha lại không dùng tiếng khánh để gọi Hà Tứ Cô đến đây như những huynh đệ đồng môn? Sao lại triệu tập nàng bằng cách khác? Còn triệu tập những người còn lại bằng cách khác nữa? Vậy đúng là việc liên quan đến bản thân Hà Tứ Cô thật rồi! Mà là việc gì đây?

Vút... Vút... Vút!

Kỷ luật nghiêm minh của Lam Y môn đã được những người đệ tử tuân thủ nghiêm ngặt, ba tiếng khánh còn đang âm vang đó thì trước sau mười bóng người đã lần lượt xuất hiện.

Và người đến đầu tiên là Tăng Nhị Kha, đưa mắt nhìn qua trong khi chờ đợi các sư đệ, sư muội đến đông đủ, Tăng Nhị Kha đã hiểu được phần nào.

Do đó, khi năm vị sư đệ và bốn vị sư muội vừa hiện thân đông đủ thì Tăng Nhị Kha đã cung tay khom người vừa thi lễ với vị Thạch đại ca, nhưng không thi lễ với Hà Tứ Cô, tuy rằng nàng đứng ngay trước mặt Thạch Đại Kha, cùng đứng đối diện với những bóng người vừa xuất hiện và Tăng Nhị Kha lên tiếng :

- Chúng sư đệ, sư muội xin ra mắt Đại Kha! Xin Đại Kha ân tứ ban huấn lệnh.

Uy quyền của một vị Đại Kha thật là đáng nể, vị Đại Kha họ Thạch liền lạnh lùng gật đầu vừa cao giọng hỏi :

- Chư đệ và chư muội có ngạc nhiên lắm không khi ta phát khánh lệnh?

- Không có đâu Đại Kha, theo giáo huấn của ân sư, chúng sư đệ, sư muội luôn tuân thủ mọi huấn lệnh của Đại Kha.

Vị nhị sư đệ họ Tăng đã thay mặt cho mười người đệ muội còn lại để nói lên đúng với tâm trạng của bất kỳ một ai là môn nhân đệ tử của Lam Y môn.

Lam Y môn có thể nói là một môn phái có vẻ thần bí nhất đối với võ lâm Trung Nguyên. Không những vị Môn chủ đã thần bí này mặt mày ra sao? Hình dáng thế nào? Võ công cao sâu ra sao? Mà những hành sự của Lam Y môn cũng thần bí nốt.

Chưa từng có một môn nhân nào của Lam Y môn nào xuất đầu lộ diện trên giang hồi, nói về đất Trung Nguyên mênh mông rộng lớn, nên hầu hết các nhân vật giang hồ không thể nào biết được lộ số cùng xuất xứ võ học của Lam Y môn cả.

Môn chủ Lam Y môn kiên trì với ý định là giữ rịt toàn bộ môn nhân Lam Y môn trên Thạch Cúc đảo, và chỉ giới hạn trong phạm vi đó.

Do vậy, dù cho các bậc tiền bối và những vị thuộc hàng Nhất môn chi chủ của võ lâm Trung Nguyên có biết về Lam Y môn thì chỉ biết rằng Lam Y môn là một môn phái quá nhỏ! Không những đã quá nhỏ mà Lam Y môn lại đặt trụ sở tại một nơi quá xa Trung Nguyên, nên không ai thèm bận tâm tới để làm gì.

Tuy vậy, tuy không được các môn phái trên giang hồ xem trọng, nhưng không vì thế mà nôi qui của Lam Y môn lại thiếu sự nghiêm ngặt, có khi còn nghiêm ngặt hơn nhiều so với phái Thiếu Lâm với đủ các điều giới luật.

Sự nghiêm ngặt của môn quy Lam Y môn còn thể hiện ở sự tuân phục hết lòng hết dạ của những sư đệ, sư muội đối với vị Đại Kha, tuy rằng họ là đồng môn sư huynh đệ với nhau.

Bởi đó, sau khi nghe nhị sư đệ họ Tăng đáp xong, Thạch Đại Kha càng thêm mãn nguyện hơn khi liếc nhanh vào bóng dáng kiều diễm của Hà Tứ Cô đang đứng ngay trước mặt hắn, đoạn cực kỳ nghiêm trọng thốt :

- Hôm nay ta thay mặt cho sư phụ với cương vị là Môn chủ Lam Y môn...

Nói đến đây, Thạch Đại Kha dừng lại, đưa mắt dò xét mười tên đệ muội dưới quyền để xem họ có phản ứng gì hay không khi hắn nói là hắn đang ở cương vị Môn chủ Lam Y môn, một cương vị mà trước đây chỉ một ngày vẫn thuộc về ân sư của họ.

Một lần nữa những vị đệ muội vẫn tỏ ra tuân giữ môn quy, họ nào dám bất tuân thượng lệnh là kháng lệnh...

- ... để thanh lý môn hộ!

Vị Thạch Đại Kha nói thêm cho tròn câu và đã nhận được nhiều biến động trên gương mặt của bọn đệ muội.

Bọn đệ muôi mười người luôn cả Hà Tứ Cô nữa là mười một, làm sao không thất sắc khi nghe Thạch Đại Kha bảo là thanh lý môn hộ? Và không cần vị Thạch Đại Kha nêu đích danh là sẽ xử lý ai thì họ cũng thừa biết là Hà Tứ Cô rồi! Và vì biết như thế nên họ lại càng thất sắc hơn.

Đối với Thập nhị đệ tự của Môn chủ Lam Y môn thì Hà Tứ Cô có thể nói là ái đồ của Môn chủ, chẳng những thế Hà Tứ Cô lại còn là Tứ muội, Tứ sư tỷ của bọn họ với hết lòng kính yêu, thương mến, không phải là trong những lúc luận đàm Hà Tứ Cô luôn ở cương vị trung gian, trung gian để can gián và hòa giải mọi bất hòa xảy ra giữa huynh đệ muội bọn họ đấy sao? Tuy chỉ đứng ở hàng thứ tư trong mười hai người đệ tử, nhưng thường là lời của Hà Tứ Cô phát ra được mọi người xem trọng! Hà Tứ Cô luôn là đệ tử gương mẫu của toàn thể môn nhân đệ tử Lam Y môn. Vậy tại sao lại có chuyện thanh lý môn hộ ở đây? Hà Tứ Cô đã phạm lỗi tày đình gì? Vào lúc nào? Sao không một ai trong bọn họ hay biết hoặc thấy bất kỳ một biểu hiện nào cả vậy?

Mường tượng như đoán biết được ý nghĩ trong đầu bọn đệ muội nên vị Thạch Đại Kha hất đầu về phía Hà Tứ Cô đang đứng đầu cúi gầm xuống, hắn vẫn nghiêm giọng bảo :

- Tứ muội, chắc muội cũng đã biết ai trong chúng ta là người bị đem ra xét xử và thanh lý rồi, vậy Tứ muội nói đi, Tứ muội có lầm lỗi gì nghiêm trọng không? Tứ muội có đúng là đã vi phạm cấm điều của bản môn không?

Bọn huynh đệ muội của Hà Tứ Cô cứng người lại chờ xem Hà Tứ Cô sẽ đối đáp ra sao trước lời buộc tội mà như không buộc tội của Thạch Đại Kha. Để rồi bọn họ cơ hồ như không còn tin ở thính giác của họ nữa, không còn tin vào bất kỳ một ai nữa trong số huynh đệ của họ khi họ nghe Hà Tứ Cô dõng dạc nói :

- Chư huynh, chư đệ và chư muội! Đúng là Hà Tứ Cô đã vi phạm vào cấm điều của bản môn, Hà Tứ Cô này đã phụ lòng tin cẩn của ân sư, của Môn chủ. Vậy Hà Tứ Cô này xin được tự xử lấy...

- Hà Thạch Cúc, vậy là ngươi đã quên hết môn quy thật rồi! Điều nào trong môn quy cho phép ngươi tự xử? Còn nữa, ngươi lại chứng tỏ là ngươi đã bất tuân thượng lệnh. Ta đã không nói rồi sao, kể từ bây giờ ta là Môn chủ chính thức của Lam Y môn...

- Còn sư phụ? Không riêng gì Hà Tứ Cô này mà cả mọi người đây nào có ai được nghe sư phụ nói gì về điều này đâu?

- Keng...

Vị Thạch Đại Kha nhất mực lạnh lùng móc từ bọc áo và ném ra đất một thanh Lam Chủy lệnh, là tín vật duy nhất của Lam Y môn Môn chủ!

Thấy lệnh như thấy người, vị nhị sư đệ họ Tăng cũng cong người lướt tới bằng một thân pháp thập phần biến ảo, tà áo không lung lay, vị Tăng nhị đệ đã khom người xuống và nâng Thạch Lam Chủy lệnh lên bằng cả hai tay. Đoạn vừa đưa lại cho Thạch Đại Kha, vị Tăng sư đệ vừa nói bằng giọng kính cẩn :

- Xin Môn chủ thu hồi lệnh phù!

Vươn tả thủ giữ lại Lam chùy lệnh mà họ Tăng vừa trao lại, vị Thạch Đại Kha không màng đến họ Tăng nữa mà vẫn nhìn chăm chăm vào bóng dáng yêu kiều của Hà Thạch Cúc lúc này đang là tội nhân. Hắn bảo chừng như muốn tỏ nỗi niềm cảm thông :

- Tứ muội, biết rằng bọn chúng ta đều chung một hoàn cảnh. Tất cả chúng ta đều là những đứa trẻ côi cút bơ vơ không người quyến thuộc. Bọn chúng ta đều sanh ra và lớn lên tại Thạch Cúc đảo này, thân sinh của chúng ta đều bỏ mình giữa đại dương bao la. Bọn chúng ta được sư phụ cưu mang nuôi dưỡng, tình thâm giữa chúng ta không khác nào tình cốt nhục thủ túc. Biết rằng Tứ muội là ái đồ của sư phụ vì người đã lấy tên đảo này đặt cho muội, cũng như ta là đại đệ tử nên người đã ân tứ ban cho ta họ Thạch. Dẫu biết rằng là thế nhưng “luật bất vị thân”, Tứ muội không thể nào tự xử được đâu! Được rồi, ta không là Môn chủ của Tứ muội vì một lẽ đơn giản, Tứ muội không còn là môn nhân đệ tử của Lam Y môn nữa. Vậy... Hà Thạch Cúc, ngươi hãy nghe phán quyết của sư phụ đây: giao cho Thạch Kiện Toàn phế bỏ toàn bộ võ công của Hà Thạch cúc và đẩy y thị xuống ghềnh Giải Oan làm mồi cho kình ngư.

Thạch Kiện Toàn không thèm bận tâm đến sắc mặt toàn thể mọi người đang biến sắc một lượt nữa khi nghe hắn nhắc tiếp với Hà Tứ Cô, như muốn bày tỏ nỗi lòng thương xót của hắn vậy! Hắn nói :

- Hà Tứ Cô, không, Hà muội... dẫu rằng trước đây Hà muội chấp nhận lời thỉnh cầu của họ Thạch này, dẫu Hà muội đồng ý lời cầu hôn của ta, hoặc ngay lúc này Hà muội có đổi ý đi chăng nữa, ta cũng không sao dám cãi lời phán quyết của sư phụ lão nhân gia được! Vậy... Hà muội còn có lời gì muốn nói, muốn trối lại cho bọn ta không? Hà muội có muốn gì nữa không?

Vẻ đau đớn lộ rõ trên gương mặt Hà Tứ Cô, nhưng nàng cố gượng đè nén xuống khi nhìn thấy chúng huynh đệ còn lại đều đang ngơ ngác và đau buồn! Hà Tứ Cô biết bọn họ còn chưa rõ nàng đã phạm tội gì tày đình đến nỗi Môn chủ Lam Y môn quyết định như thế? Còn đau buồn thì rõ ràng là chuyện đương nhiên vì từ nay họ sẽ mất nàng vĩnh viễn. Nhưng nàng quyết không thể để bọn họ nghi kỵ nàng, nghĩ xấu, nghĩ sai về nàng, dẫu nàng sẽ phải chết. Chấp nhận cái chết mà sư phụ đã phán quyết không một lời biện minh. Do đó Hà Tứ Cô bèn lên tiếng :

- Thạch Đại Kha, muội... họ Hà này có thể nói ra lỗi lầm của mình để mọi người nghe được không?

- Không được, đây là ý tứ của sư phụ, lão nhân gia cho đây là hành vi làm điếm nhục gia môn nên chỉ trừ khi Hà muội không nhận tội thì ta bắt buộc phải phơi bày, còn ngược lại, như tình thế từ nãy tới giờ muội không bị oan uổng thì tốt hơn muội đừng nhắc đến việc này! Thế muội không giã biệt mọi người ư?

Nghe đến từ “điếm nhục gia môn”, Hà Tứ Cô muốn tự vận đi cho rồi, vì trái với ý muốn của nàng, thế là bọn người đồng môn tha hồ nghĩ xấu về nàng mà nàng không sao giãi bày được! Chỉ có chết mới mong chấm dứt tình trạng này... nàng quyết định chọn ghềnh Giải Oan làm nơi giải thoát thay cho những lời nàng định biện minh là nàng đúng là có phần nào bị oan uổng, do đó nàng chỉ nói gọn :

- Muội xin giã biệt ân sư và mọi người. Thạch Đại Kha hành sự đi.

- Hà muội cứ thong thả, ta tin rằng muội không trốn tránh đâu, vậy chúng ta cứ đến ghềnh Giải Oan đã.

Đoạn vị Thạch Đại Kha liền quay người đi trước rời khỏi sảnh đường. Hắn tin rằng Hà Thạch Cúc sẽ theo chân, và hắn cũng tin rằng bọn đệ muội sẽ không theo chân Hà Thạch Cúc, sẽ không tiễn biệt Hà Thạch Cúc đến nơi an nghỉ cuối cùng vì không phải hắn đã nói là phán quyết của sư phụ rồi sao? Sư phụ chỉ trao trọng trách này cho mỗi mình hắn thôi mà!

Đúng như hắn nghĩ, chỉ có hai bóng người lao đi vùn vụt giữa làn hơi nước mờ mờ từ mặt đại dương bao quanh tỏa ra đi về phía Hậu đảo!

Là năm đảo riêng biệt, những tưởng khoảng cách giữa đảo này đến đảo kia là xa lắm, nhưng không phải thế, những người cư ngụ trên Thạch Cúc đảo biết rằng có những chỗ họ có thể nhảy trên đầu các tảng đá cách nhau độ hai trượng hơn để đưa họ từ đảo này sang đến đảo kia mà không cần thuyền bè gì cả!

Do có lợi thế như vậy về mặt địa hình nên môn nhân Lam Y môn dễ dàng phát hiện bất kỳ nhân vật nào xâm nhập lên Thạch Cúc đảo. Và cũng bởi vì thế Thạch Đại Kha càng yên tâm hơn khi suốt chặng đường dài đi đến Hậu đảo hắn không phát hiện ra bất kỳ ai đi theo chân hắn ngoài Hà Thạch Cúc.

... Ghềnh Giải Oan nằm ở cuối Hậu đảo, nó là chốn hiểm địa vô lường mà thiên nhiên dành sẵn cho những ai tìm đến để được siêu thoát! Và phần nhiều những người chọn lối siêu thoát là những người lâm vào bước đường cùng, hay nói đúng hơn là họ không còn cách nào khác ngoài cái chết. Họ chọn cái chết để được minh oan nếu đúng là họ bị oan. Hoặc họ đồng ý chết là giải pháp để họ được giải thoát nếu đúng họ có tội! Giải thoát và minh oan là mục đích của nhiều người chết tại đây, từ đó phát sinh ra danh tự ghềnh Giải Oan.

... Ghềnh Giải Oan là một phần đá tự nhiên biến mất hẳn ở phần cuối của Hậu đảo. Nó không như phần lớn những vị trí khác của Thạch Cúc đảo. Thay vì thấp dần, thấp dần chạm vào mặt biển thì ghềnh Giải Oan cao hơn mặt biển độ hai mươi trượng, từ trên ghềnh Giải Oan nhìn xuống chỉ thấy mặt biển đen ngòm, phần chân của ghềnh Giải Oan thì lại hõm vào do sóng dữ đánh liên tục vào ghềnh đá tự bao đời nay! Phần chìm xuống mặt biển thì... cũng sâu hun hút, không biết đến đâu là đáy. Do đó chỗ nước sâu như thế này là nơi tụ tập của những loài kình ngư hung dữ. Không những thế tại ghềnh Giải Oan này lâu lâu lại có người bị ném xuống, gieo người xuống, tùy theo họ muốn giải thoát hay muốn minh oan - nên bọn kình ngư lại càng lấy làm khoái chí khi có nguồn thực phẩm cho chúng xâu xé và sinh sống!

Càng hợp tình hợp lý hơn khi ngay phía trên ghềnh lại có sẵn một cái động đá thiên nhiên, được dân bản địa gọi là động Khốc Biệt (Khốc: khóc, Biệt: vĩnh biệt). Động Khốc Biệt là nơi mà người sắp chết thường tá túc ở đó chỉ để than khóc khi họ bị oan uổng, hoặc để chia tay vĩnh viễn với người thân lần cuối lúc họ bị xử quyết.

... Khi đặt chân đến ghềnh Giải Oan, vị Thạch Đại Kha có tên là Thạch Kiện Toàn bước ngay vào động Khốc Biệt.
Hành động bất thường này của Thạch Kiện Toàn khiến cho Hà Thạch Cúc không sao hiểu được ý nghĩ của hắn! Vì người cần phải vào động Khốc Biệt nếu muốn thì phải là Hà Thạch Cúc mới đúng, chứ đâu phải là Thạch Kiện Toàn.

Tuy vậy Hà Thạch Cúc vẫn theo chân Thạch Kiện Toàn tiến vào động Khốc Biệt.

Vừa bước vào động Hà Thạch Cúc ngỡ ngàng khi thấy trên nền động có sắp sẵn một mâm thức ăn. Có chén, có đũa, có cơm, có canh, có cả rượu nữa. Tất cả đều được tính toán sẵn, kể cả hai cái chén, hai đôi đũa và hai chung để rót rượu.

- Thế là thế nào, Thạch Đại Kha?

Không đáp vội, Thạch Kiện Toàn ngồi ngay xuống nền động, một phía của mâm cơm, hướng mặt ra cửa động. Sau đó Thạch Kiện Toàn mới nói bằng giọng buồn buồn :

- Vậy... Hà muội không muốn nâng ly cùng ta lần sau cuối ư?

Không lưỡng lự, không muốn lưỡng lự, Hà Thạch Cúc vẫn đứng khi đáp lại :

- Được rồi, Thạch Đại Kha rót rượu đi!

Đưa tay cầm lấy bầu rượu, Thạch Kiện Toàn không vội rót, chỉ đưa tay còn lại xòe ra, mời Hà Thạch Cúc, hắn nói với nụ cười gượng gạo :

- Thì Hà muội cứ ngồi xuống đi đã! Ta không gấp thì tại sao Hà muội lại gấp rút kia chứ? Muội không muốn cùng ta tâm tình một lần chót sao?

Nhún vai ra vẻ bất cần, Hà Tứ Cô ngồi ngay xuống :

- Còn gì nữa để mà tâm tình hở Đại Kha? Không phải muội là người sắp chết đó ư?

- Không đúng, muội tuy là người sắp chết nhưng muội chưa chết, muội không muốn tâm tình cùng ta nhưng ta lại muốn muội hiểu lòng ta! Muội có đồng ý cho ta nói không nào?

Nhìn thấy Hà Thạch Cúc lẳng lặng suy nghĩ và lẳng lặng gật đầu, Thạch Kiện Toàn bèn rót rượu ra đầy hai chung, đoạn nâng chung rượu lên ngang mày, Thạch Kiện Toàn thúc giục :

- Được rồi, vậy muội hãy cùng ta uốn chung rượu này rồi ta nói.

Khi biết mình không sao tránh khỏi cái chết, Hà Thạch Cúc cứ dửng dưng như không, Thạch Kiện Toàn bảo nàng uống thì nàng cứ uống, Thạch Kiện Toàn muốn nàng nghe thì nàng cứ nghe. Nghe để rồi quên đi tất cả! Không quên cũng không được.

Thạch Kiện Toàn liền hỏi :

- Vì là sư phụ ngăn cấm, nên ta không cho Hà muội nhắc đến lỗi lầm của Hà muội cho bọn họ nghe, còn riêng ta, thì ta muốn nghe, muốn hiểu. Vậy Hà muội hãy nói đi, hãy trút hết ra đi cho thanh thản nỗi lòng, Hà muội đồng ý không?

Không biết đây có phải là lời nói thật lòng hay không, có phải đây là ân huệ cuối cùng dành cho tử tội hay không, nhưng Hà Thạch Cúc vẫn nghe bàng hoàng cả người. Nàng nhìn chăm chăm vào Thạch Kiện Toàn với cái nhìn hàm ý biết ơn. Đoạn không một lời mào đầu, Hà Tứ Cô vắn tắt kể lại chuyện đã xảy ra cho nàng vào một đêm giông tố. Giông tố trên mặt đại dương, giông tố ngay trên bề mặt Thạch Cúc đảo và giông tố ngay trong phòng của nàng. Nàng nói :

- ... Vào một đêm tối trời, ba tháng trước đây đến lượt muội đi tuần phòng, trời thì giông bão, mưa cứ như trút nước, muội không muốn đi ra ngoài trời bão chút nào nhưng không đi không được, vì muội nghe có tiếng cầu cứu vang lên trong đêm tối, ngay trên mặt biển gần với Thạch Cúc đảo, biết là có người mắc nạn do thuyền bị đắm trong đêm giông bão, muội không đành lòng bèn lao vào bóng đêm hầu kịp thời cứu cấp...

- Chuyện này ta biết rồi! Không phải ngay sáng hôm sau muội đã tường trình lại cho sư phụ và bọn ta biết hay sao? Ta biết ngay trong đêm đó muội cứu được hai người, nhưng một người thì do quá kiệt sức, nên đã chết ngay trong đêm đó, còn một người thì sáng hôm sau đã không một lời từ giã, trốn đi mất biệt. Nhưng lần đó, sư phụ lão nhân gia đâu có bắt tội bất cẩn của Hà muội. Hà muội không muốn nói cho ta nghe về lỗi lầm của Hà muội hay sao?

Hà Tứ Cô đã muốn thật vắn tắt, thuật lại cho ngắn gọn mà xem chừng Thạch Kiện Toàn còn muốn nàng nói gọn hơn nữa, muốn nàng thuật ngay vào chính để sớm chừng nào tốt chừng ấy hơn, đã vậy nàng liền đáp nhanh :

- Thì lỗi lầm của muội đã xảy ra ngay đêm đó!

- Ngay đêm đó? Điều gì đã xảy ra? Sao trước đây Hà muội không chịu nói ra?

- Muội không thể nói vì không có bằng chứng, ai có thể tin lời muội? Vả lại, muội đã nín lặng vì nghĩ rằng sau đó sẽ không xảy ra hệ quả gì, ai ngờ...

- Vậy thì muội hãy nói ra đi, ta đang nôn nóng đây Quả thật Hà Tứ Cô nhìn thấy rõ ràng là Thạch Kiện Toàn đang nôn nóng thật, nôn nóng đến độ máu dồn hết cả lên mặt họ Thạch, nàng gầm đầu xuống và nói :

- Đêm đó, sau khi đã cứu hai người bị nạn xong, muội về lại phòng mình để thay đổi y phục vì nó đã bị ướt hết cả rồi, muội còn định sau đó sẽ mang rượu đến cho hai người bị nạn dùng để họ được ấm lại, nhưng phần vì do muội vội nên không kịp cài then cửa, và có lẽ một phần do muội bị mệt mỏi quá cho nên... muội vừa cởi hết y phục xong thì muội thấy hai mắt díp cả lại, muội chỉ kịp thổi đèn cho tắt hẳn rồi buông mình vào giường, muội đã ngủ như chết không còn biết trời đất gì cả! Đến khi thức dậy, muội thấy trong người khang khác, bây giờ đã là chuyện qua rồi nên muội nói cho Đại Kha nghe mà không thấy ngại ngùng gì cả, Đại Kha đừng nghĩ muội có tư tưởng xằng bậy! Sáng hôm đó, sau khi thấy người có vẻ khác lạ, muội lại cho rằng đấy là do muội đã quá mệt mỏi mà có cảm giác như thế. Nhưng sau đó, sau khi muội và chư huynh đệ phát hiện người bị nạn còn lại đã trốn mất, muội hồ nghi, nên đã vội về lại phòng để tìm kiếm một lần nữa xem muội có mất mát gì không. Và không lâu la gì, muội đã dựa vào dấu vết còn lại trên giường muội mới biết là muội đã bị mất đi... muội không còn là xử nữ nữa. Nhưng là ai đã gây ra cho muội thì muội không sao khẳng định được. Đại Kha có tin lời muội nói không?

Vẫn cúi gằm đầu xuống, Hà Thạch Cúc nghe có tiếng nuốt nước bọt khá rõ từ người đối diện vang lên, rồi có tiếng Thạch Kiện Toàn nói :

- Vậy là quá rõ rồi còn gì, Hà muội có lỗi khi Hà muội không chịu đề phòng, không cài then cửa! Có lẽ là tên còn sống đó đã theo chân muội, hắn đã nhìn thấy... nhìn thấy lúc muội, lúc muội... và hắn đã lạm dụng hại đời muội! Và sau đó hắn trốn biệt!

- Không phải thế đây, Đại Kha. Muội e rằng không có khả năng đó, vì muội tin chắc rằng người đó đã hoàn toàn kiệt lực, trừ khi hắn có ý đồ và hắn đã giả vờ là kiệt lực, muội không biết.

Nói xong, Hà Thạch Cúc người mắt lên nhìn Thạch Kiện Toàn với định ý là xem xét xem Đại Kha có tin lời nàng nói không khi nàng đã bảo là nàng không biết việc gì đã xảy ra cho nàng. Không biết ai là thủ phạm hái hoa. Nhưng nàng phải vội trốn ánh mắt kỳ lạ của Thạch Kiện Toàn đang nhìn chằm chằm vào nàng. Hà Thạch Cúc lại cúi đầu xuống

- Té ra nguyên thủy mọi việc là đây. Hóa ra chỉ vì lỗi lầm này của Hà muội mà hôm nay muội phải chịu như thế này. Hà muội, đúng là Hà muội có lỗi, nhưng chưa phải là tội chết, đúng là ta nghĩ vậy đó!

- Đại Kha nghĩ thế ư? Đúng là Đại Kha nghĩ là muội không đáng chết thật sao?

Không cầm được niềm vui đang trào dâng trong lòng Hà Thạch Cúc mất hẳn vẻ ngại ngùng và nàng ngước lên nhìn và chờ đợi Thạch Kiện Toàn khẳng định lại cho nàng nghe!

Và Thạch Kiện Toàn khẳng định thật, hắn nói rõ ràng :

- Đúng là ta nghĩ thế, nhưng Hà muội ơi, làm sao ta dám bất tuân lệnh của sư phụ? Hà muội cũng như ta chắc cũng biết rằng một lời sư phụ nói ra là lời phán quyết sau cùng hay sao?

Hà Thạch Cúc thất vọng, cúi đầu, che giấu tiếng thở dài chán nản, nhưng sau đó nàng lại nghe khấp khởi mừng vì Thạch Kiện Toàn lại nói :

- Nhưng... ta có ý định như thế này, không biết Hà muội có đồng ý không?

- Ý định gì, Đại Kha? Đại Kha định giúp muội đến nói lại với...

- Không, không phải như thế đâu, muội đã biết ý tứ của sư phụ rồi kia mà, việc mà ta định nói tuy có hơi khó nghe, nhưng lại là dịp duy nhất để muội có thể tránh khỏi cái chết, muội có chịu nghe ta nói hết không?

- Là việc gì Đại Kha? Dù việc khó đến đâu, miễn muội còn giữ được sanh mạng này thì muội không ngại gì nghe theo. Đại Kha cứ nói đi, muội xin nghe đây.

Được Hà Thạch Cúc mở lời như thế, nhưng có lẽ là việc khó nói thực nên Thạch Kiện Toàn lúng túng một lúc mới ngắc ngứ nói ra :

- E hèm... Hà muội... tâm ý của ta đối với muội thế nào Hà muội cũng đã rõ.! Ta thật lòng thương muội... tiếc rằng giữa chúng ta... đã không sao kết thành phối ngẫu...

- Đại Kha...!

- Muội cứ để ta nói, cứ nghe ta nói hết đã. Do ta thương muội, nên... nên ta, ta đã sắp xếp như thế này. Muội nhìn đây cũng đủ biết ta đã sắp đặt như thế nào cho muội. Mâm cơm này và... một chiếc thuyền nhỏ ở dưới kia. Ngay dưới chân ghềnh Giải Oan! Tất cả là của muội, dành sẵn cho muội một con đường sống. Đương nhiên là ta sẽ ưu ái dành lại cho muội một phần chân lực, để muội có thể... có thể làm theo ý ta và để muội có đủ năng lực trong đường thoát chạy, muội có đồng tình trong việc ta đã sắp xếp không? Muội có tin ta không?

- Thế Đại Kha muốn muội làm việc gì cho Đại Kha?

Trong mơ hồ, Hà Tứ Cô có phần nào đoán được ý định của Thạch Kiện Toàn, nhưng nàng hoàn toàn bất ngờ khi nghe Thạch Kiện Toàn nói lên một việc khác, khác hẳn so với ý nghĩ của nàng. Hắn nôn nóng bảo nàng :

- Hà muội... Hà muội hãy chìu ta một phen, được không?

Té ra là việc đó, Hà Thạch Cúc không ngờ Thạch Kiện Toàn muốn chính cái điều đó. Nàng không ngờ nàng phải đem chính bản thân ra để làm điều kiện trao đổi. Nhưng như thế cũng được, nàng cần phải sống, sống để tìm ra được hung phạm. Nàng cần phải rửa nhục, rửa nhục cho bằng được để hy vọng có ngày nàng có thể trở về hầu hạ bên gối ân sư, đáp lại công lao dưỡng dục của ân sư! Đời nàng kể như đã bỏ đi, vậy còn luyến tiếc gì nữa đối với... một người hèn hạ như Thạch Kiện Toàn!

Nàng dứt khoát bảo :

- Được, muội tin ở Đại Kha, muội sẵn sàng chiều ý Đại Kha, Đại Kha ra tay đi, Đại Kha hành sự đi!

Vừa nói Hà Thạch Cúc vừa đứng lại đồng thời nhắm tịt mặt lại như buông xuôi tất cả, chỉ một ý định quyết sống còn, quyết tâm rửa nhục là sợi dây duy nhất giữ nàng đứng lại đây. Bằng không nàng đã lao ra ngoài động Khốc Biệt để tự ném mình xuống ghềnh Giải Oan rồi!

Hự!

Tiếng rít của chỉ phong từ phía Thạch Kiện Toàn phóng tới điểm vào phế huyệt của Hà Thạch Cúc khiến nàng không kiềm được tiếng kêu đau đớn khi công lực của nàng bị phế bỏ. Còn sau đó, với thính giác gần như một thường nhân Hà Thạch Cúc chỉ nghe được những tiếng thở ồ ồ của Thạch Kiện Toàn khi hắn lần mở khóa động đào.

Dù là một cư dân sống ở vùng hải đảo xa xôi với Trung Nguyên, nhưng Hà Thạch Cúc vẫn là một khuê nữ. Do đó, dù vội đến đâu đi chăng nữa, Thạch Kiện Toàn phải mất một lúc lâu mới cởi được y phục của nàng.

Hắn trầm trồ và rin rít những tiếng gì trong cuống họng, Hà Thạch Cúc không màng nghe khi hắn dìu nàng đi vào phía trong thêm một quãng nữa.

Nền đá lạnh nhưng toàn thân hắn lại như phát nhiệt. Hà Thạch Cúc do đã định nhắm mắt đưa chân nên toàn thân nàng cũng lạnh trơ ra không khác nào đá Chỉ đến khi cơn giông tố một lần nữa sắp phủ chụp lấy đời nàng thì Hà Thạch Cúc bỗng giật mình đánh thót một cái khi tả thủ của nàng quờ đụng phải một nốt ruồi to bằng hạt đậu nằm ngang huyệt Ngọc Chẩm của hắn.

“Là hắn!”.

Dù đã bảo rằng đêm đó, đêm giông bão đó Hà Thạch Cúc không còn nhớ gì, không còn biết chút gì, nhưng những giác quan tinh nhạy của con nhà võ vẫn còn ghi lại một đặc điểm của tên trộm hái hoa. Đặc điểm này nàng sẽ không bao giờ nhớ đến nếu không có sự đụng chạm như thế này gợi lại trong tiềm thức của Hà Thạch Cúc.

Nàng mở bừng mắt ra nhìn vào gương mặt mãn nguyện và nụ cười đanh ác của hắn đang cách nàng độ thước mộc, nàng bật thốt lên :

- Là ngươi, việc đêm đó là ngươi, ta giết ngươi!

Huyệt Ngọc Chẩm là một tử huyệt nằm ngay giữa hai bờ vai, nối ruồi mọc ngay đó nếu hắn không tự cởi y phục thì không có bất kỳ ai quan sát phát hiện được.

Tiếng kêu kinh hoàng và lời định tội đầy căm phẫn của Hà Thạch Cúc đã làm cho Thạch Kiện Toàn sửng sốt. Nhưng do công phu của Hà Thạch Cúc đã bị phế bỏ hết chín phần và thân thủ của hắn lại quá nhanh nhẹn nên hắn đã kịp thoát ra trước khi Hà Thạch Cúc vận hết sức tàn bấm vào huyệt Ngọc Chẩm của hắn

Hắn lượn người ra xa và định thần nhìn lại Hà Thạch Cúc, hắn không thể nào ngờ được việc làm kín đáo hết sức của hắn lại bị Thạch Cúc phát hiện. Nhưng nàng đã phát hiện bằng cách nào hắn không sao biết được, chỉ biết là hành động vừa rồi của hắn đã tự cáo giác tội lỗi của hắn thì hắn chỉ còn cách sát nhân diệt khẩu mà thôi. Hắn không thể lưu lại mạng sống cho Hà Tứ Cô để rồi chính nàng hủy hoại đi tiền đồ của hắn.

Hắn lạng thân lại nơi hắn để y phục. Hắn chộp nhanh thanh Lam Chủy lệnh ném về phía Hà Tứ Cô khi thấy nàng đang lồm cồm bò dậy!

Và khi thanh Lam Chủy lệnh vừa thoát ra khỏi tay hắn thì hắn mới nghĩ ra, mới nhớ tới một điều, và hắn thấy hối tiếc. Hắn tiếc vì hắn đã phí phạm một vưu vật của trời đất, hắn nhớ ra là nàng bây giờ đã gần như một phế nhân rồi còn gì nữa. Nếu hắn đừng quá hốt hoảng, thần hồn nát thần tính, thì hắn đã dễ dàng chế ngự nàng, dễ dàng chiếm đoạt nàng, rồi sau đó sanh mạng của nàng nằm trong lòng bàn tay hắn, hắn muốn giết nàng lúc nào mà chẳng được, nhưng bây giờ đã là quá muộn rồi.

Vút...

Phập...

Trên vóc ngọc thân ngà đang lồ lộ của Hà Thạch Cúc đã cắm vào ngọn Lam Chủy lệnh, lệnh phù tối cao của Môn chủ Lam Y môn, như là Tử lệnh.

Nhưng Hà Thạch Cúc không chết ngay như hắn tưởng, với một phần chân lực còn lại nàng đã kịp nâng người lên cao thêm một chút để sau cùng nàng hứng chịu ngọn Lam Chủy lệnh vào ngực nhưng chệch khỏi yếu huyệt độ một thốn.

Một tay nàng chộp giữ phần chuôi của thanh Lam Chủy lệnh, còn lại một tay thì nàng run run chỉ vào hắn, với bao uất khí trong người nàng lanh lảnh kêu lên :

- Sư phụ...

Hồn bất phụ thể, gã họ Thạch quay đầu nhìn lại phía sau xem có phải là Hà Thạch Cúc đã nhìn thấy sư phụ của hắn đã đến đây hay không!

Không thấy ai cả, nhưng hắn vẫn nơm nớp lo sợ nên hắn vẫn tồng ngồng như trẻ sơ sinh tiến lần ra phía ngoài động Khốc Biệt

Và không biết hắn đã nhìn thấy điều gì nhưng hắn đã lộ vẻ kinh hoàng đến độ không nói được thành lời, hắn hộc tốc lao vào trong, chụp vội lấy y phục của hắn cầm trên tay, rồi phi thân vọt ra ngay.

Còn lại Hà Thạch Cúc, nàng thấy cử chỉ và gương mặt thất thần của hắn, nàng không nghĩ là sư phụ đến đây thật, vừa rồi nàng đã vọt miệng kêu lên như thế là chỉ muốn hăm dọa hắn thôi, không ngờ hắn lại sợ mà bỏ chạy như thế.

Bây giờ, dù nàng muốn quay về đầu cáo với sư phụ thì e rằng không sao làm được. Với sức lực hiện thời nàng không thể từ Hậu đảo quay về Tọa đảo được. Dù không mang vế thương chí mạng trên người thi nàng cũng thể thể trở về Tọa đảo mà thoát được sự ám hại của hắn.

Hắn sẽ không đời nào buông tha nàng. Rồi đây, hắn sẽ trở lại đây cùng với sư phụ, hắn sẽ tâu hót với sư phụ là nàng đã kháng lại lệnh của sư phụ, nàng sẽ không thể biện minh được, huống chi, với vết thương này, liệu nàng có qua được hôm nay không? Nói gì đến việc đối chất và tố cáo ngược lại hắn? Có khi nàng đã chết lạnh người trong cơ thể lõa lồ này khiến cho tiếng nhơ nhuốc sẽ còn đeo đẳng mãi, mà nàng không sao gột rửa được

Không, bằng mọi giá nàng phải sống, phải thoát được nơi này, có thoát được, có sống được mới mong đến một ngày nàng rửa được nhục, gột được vết nhơ.

Nhớ đến chiếc thuyền nhỏ mà tên ác tặc đã nói đang neo dưới chân ghềnh Giải Oan, Hà Tứ Cô cố cắn răng nhịn đau, nàng trỗi dậy tiến đến chỗ y phục của nàng, nàng khoác vội lên người che kín thân thể và che kín luôn ngọn Lam Chủy lệnh. Nàng lững thững bước đi ra ngoài động Khốc Biệt. Nàng gieo người xuống phía dưới ghềnh Giải Oan, tuy rằng không phải để tìm chết mà là để tìm đường thoát.

Nhưng ngay lúc toàn thân còn đang lơ lửng trong khoảng không thì Hà Tứ Cô biết rằng mình khó mà thoát chết, chỉ vì một lẽ đơn giản là không có một chiếc thuyền nhỏ nào ở dưới chân ghềnh cả, hắn đã dối gạt nàng, hắn quyết lòng giết chết nàng dù nàng có làm theo ý hắn hay không

Hắn là tên đại gian, đại ác, gã họ Thạch...

Chương 2: Máu loang Diệp Lạc miếu

Chỉ mới vào đầu canh một thôi, thế mà những nhân vật giang hồ đi lại trên sơn đạo dẫn vào Lữ Lương sơn đã phải hờm hờm sẵn trên tay những món binh khí tùy thân rồi.

Đã qua lâu lắm rồi cảnh thanh bình hoan lạc trên võ lâm Trung Nguyên, dù ai ai cũng biết rằng mọi chuyện xảy ra chỉ mới có mười năm lại đây.

Đầu tiên là cái chết đột ngột không thể nào lý giải được của La minh chủ, tiếp theo sau là làn sóng phân rẽ khích bác lẫn nhau giữa các môn phái. Dù đã được vị Phó minh chủ đương nhiệm là Từ Kính Nhân hết lòng phân giải khuyên ngăn nhưng làn sóng tranh chấp lẫn nhau giữa các môn phái vẫn ngấm ngầm phát triển.

Tình hình đêm nay còn nghiêm trọng hơn khi hầu hết các lộ số giang hồ đều đổ dồn về Lữ Lương sơn để tranh giành nhau Diệp Lạc kinh.

Diệp Lạc kinh là bí kíp của tiền nhân nào lưu lại, điều này không ai biết. Hình dáng của Diệp Lạc kinh ra sao, không ai rõ. Đến độ từ nguồn thông tin nào mà hầu như là cùng một lúc toàn thể nhân vật trên giang hồ biết được nơi tọa lạc của Diệp Lạc kinh tại Lữ Lương sơn cũng không ai biết.

Nhưng đã là bí kíp võ học thì hấp lực của nó không phải là không có. Phàm là người giang hồ ai lại không muốn võ công bản thân được tinh tiến? Huống chi sự tranh chấp giữa các môn phái đang xảy ra ngày càng trầm trọng thì bảo sao mọi người không đổ xô đến đây hòng chiếm đoạt bằng được bí kíp võ học cho môn phái mình, cho bang phái của mình hay cho chính bản thân họ?

Do đó, không khí càng lúc càng khẩn trương hơn khi họ bắt đầu tiến sâu dần vào Lữ Lương sơn.

Hơn một dặm đường dẫn lên Diệp Lạc miếu nằm ở lưng chừng núi, nơi mà theo truyền thuyết có chứa Diệp Lạc kinh. Chốc chốc lại nghe tiếng binh khí chạm nhau nảy lửa và tiếng la hét khủng khiếp. Đó là bọn người thuộc đủ các môn phái động thủ với nhau với ý đồ càng ít người đi đến đích, cơ hội chiếm đoạt bí kíp về tay họ càng nhiều hơn. Cũng có khi không phải vì thế mà chỉ vì một lời tranh hỏi nào đó khiến hai bên phật lòng nhau.

Trong số hơn trăm con người đó có một nhân vật mà võ công chỉ vào hạng ba trên giang hồ cũng đơn thương độc mã len lỏi lên Diệp Lạc miếu. Nhân vật đó hồ như chỉ là hạng vô danh tiểu tốt nhưng lại có danh hiệu rất kêu là Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào.

Có lẽ do tự tin ở bản lĩnh của mình hay do Cừu Dĩ Đào nghĩ rằng sẽ không ai làm gì nếu họ Cừu không động chạm gì đến ai được cả nên Cừu Dĩ Đào vừa phiêu thân lạng qua lạng lại giữa bọn người đang động thủ với thanh trường kiếm vẫn còn cắm trên lưng, ló khỏi vai chừng một thước, ung dung đi lần lên.

Dù thế Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào cũng biết rằng minh thương dễ tránh còn ám tiễn thì khó phòng nên lúc nào Cừu Dĩ Đào cũng vận sẵn chân lực trong người lên, thính lực và mục lực được Cừu Dĩ Đào vận dụng lên đến độ chót. Để khi nào có bất kỳ một bóng người nào thấp thoáng qua khóe mắt hay có bất kỳ một tiếng động nào có vẻ khả nghi thì Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào liền dừng chân lại, giả vờ như kẻ bàng quan đúng mực chỉ vui chân đi đến đây thôi, ngoài ra không có ý định nào khác như là tranh giành bí kíp, tranh chấp tiếng tăm, tranh hơi hơn kém!

Và cũng nhờ chỉ làm đến thế thôi nên Cừu Dĩ Đào vẫn còn nguyên vẹn đến bây giờ, không một lần bạt kiếm, không một lần động thủ để rồi phải... bôn đào!

Nhưng chuyện bôn đào là chuyện mà họ Cừu kiên quyết sẽ không cho nó xảy ra. Biết khả năng bản thân không bằng người thì chẳng thà tránh đi chuyện giao thủ. Bằng ngược lại, đã cố tránh mà không được thì họ Cừu quyết thà chết chứ không bỏ chạy lấy thân. Vì họ Cừu được thân sinh đặt cho danh tánh là Cừu Dĩ Đào kia mà.

Do đó, khi đến gần cuối canh hai thì Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào đã có mặt tại Diệp Lạc miếu.

Dưới ánh trăng khi mờ khi tỏ, Cừu Dĩ Đào cố công tìm đến đây đi nữa cũng không sao tìm được ba chữ Diệp Lạc miếu nằm đâu đó trên cổng tam quan vẫn còn sừng sững trơ gan cùng tuế nguyệt.

Một vòng người đứng thành hình vòng cung ngay trước cổng tam quan ước độ khoảng ba mươi người, ngay trước mặt họ đã có đến năm xác chết nằm sóng soài trên vũng máu. Và khoảng lư bằng còn lại ngoài phạm vi các thây người chỉ thấy toàn là lá. Lá của cây Bồ đề trồng ở giữa sân, ngay phía sau cổng tam quan chừng hai trượng và cách Diệp Lạc miếu cũng khoảng hai trượng.

Từng lớp lá vàng rơi rụng đầy khoảng trống và chốc chốc lại còn rơi xuống nữa khiến mọi người đều hiểu danh tự Diệp Lạc miếu là do đó mà có.

Nhưng nếu nghĩ là vậy thì... Không lẽ ngôi Diệp Lạc miếu này không có người trụ trì ư? Vì nếu có người trụ trì thì chẳng lẽ họ lại để lá rơi đầy sân mà không quét dọn gì sao?

Như vậy thì không đúng, và đã nghĩ là không đúng thì danh tự của ngôi miếu này là gì? Không ai biết được!

Có lẽ là do lâu lắm không có được ba trượng thì đã phải thất kinh chững người lại. Vì đã có nhiều tiếng quát vang lên và một tiếng thét kinh khiếp cất lên rồi nhỏ dần và... im bặt. Chen chân về phía trước để nhìn cho rõ thì Cừu Dĩ Đào đếm được tất thảy là sáu thây người. Vậy là thêm một nhân vật nữa đã tự tìm lấy cái chết khi định xông vào tìm kiếm Diệp Lạc kinh.

Vận hết mục lục đưa lên, Cừu Dĩ Đào nhìn rõ trong lòng bàn tay hữu của người vừa chết có nắm một chiếc lá Bồ đề khô. Và trên chiếc lá giữa màu vàng bợt, Cừu Dĩ Đào nhìn thấy có những chấm đen li ti. Những chấn đen đó dễ khiến mọi người lúc đó thoạt nhìn vào ngỡ là kinh văn. Chẳng trách nhân vật đó vừa nhìn thấy đã quên cả nguy hiểm để nhảy vào và chộp lấy. Nhưng theo nhận định của Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào thì những chấm đen nhỏ đó chỉ là những sợi gân lá còn lại mà chiếc lá Bồ đề sắp nhũn tạo nên, chứ nó không là kinh văn gì cả.

Qua sự việc này, Cừu Dĩ Đào càng tin chắc rằng Diệp Lạc kinh nếu có chắc chắn được cất giữ ở bên trong Diệp Lạc miếu chứ không thể khác được. Thế là Cừu Dĩ Đào lại lùi ra tiếp tục dịch chuyển thân hình về mé hữu.

Đến chỗ cuối cùng của vòng người hình cánh cung thì Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào thấy bên kia đều có địa hình giống nhau, nghĩa là Diệp Lạc miếu được người xưa xây cất trên bờ một hố sâu, không sao ước đoán được.

Nhưng theo một nhận định nữa của Cừu Dĩ Đào thì mười phần đến chín có khả năng Diệp Lạc kinh được cất dưới hố sâu đó

Thế là Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào bèn đứng yên đó, vận dụng hết tâm trí hy vọng tìm được kế nào đó trong thiên phương bách kế để lẻn xuống hố sâu, hầu thám thính thực hư.

Còn đang suy tính thì Cừu Dĩ Đào nghe có một giọng nói chợt cất lên, lúc này trời đã vào canh ba rồi.

- Chư vị bằng hữu! Tại hạ là Hoàng Cao Sơn người của Côn Luân phái...

Tức thì có tiếng nói chen ngang :

- Câm mẹ cái miệng lại đi! Bọn Côn Luân thối các ngươi có gì hay mà lên tiếng!

Ngay lập tức có nhiều giọng nói đồng loạt vang lên :

- Bọn Không Động các ngươi mới chính là bọn thối!

- Im đi! Để xem họ Hoàng nói gì nào?

- Sủa gì mà sủa lắm thế! Ai mà thèm để ý vào mắt cái bọn Không Động!

- Bọn Côn Luân thối...

- Bọn Không Động thối...

- ...

Mỗi người mỗi phách, không ai nhịn ai! Cuộc tranh hơi tranh tiếng này ắt sẽ còn kéo dài nữa nếu không có người với nội lực hùng hậu chợt lên tiếng cắt ngang :

- Câm ngay! Hừ! Các ngươi có biết bây giờ là canh ba rồi không? Các ngươi còn định đứng lại đây đến bao giờ nữa chứ? Tên họ Hoàng kia ngươi có cao kiến gì thì cứ nói, sau đó sẽ liệu sau! Nói đi!

Vòng người lập tức im phăng phắc, nhưng chỉ là tịnh khẩu thôi chứ không thể tịnh thân, tịnh ý! Họ vẫn len lén dịch người xoay ngang xoay ngửa để nhìn xem người vừa lên tiếng phát thoại với trung khí mạnh mẽ thế là nhân vật nào?

Và một khi họ đã nhận diện ra được nhân vật này, tất cả đều tỏ vẻ kinh cung chi điểu. Vì nhân vật đó đã thành danh trên giang hồ không ai mà không biết, chỉ cần nghe đến danh xưng Huyết Trảo Đoạt Mạng Tề Côn thì không ai lại không e dè!

Hóa ra đêm nay không những có mặt bọn người tự xưng là Bạch Đạo lại còn có những kẻ thuộc Hắc đạo nữa. Chính Huyết Trảo Đoạt Mạng Tề Côn là một người thuộc hàng cao thủ của phe Hắc đạo.

Mười sáu năm trước, lúc thịnh danh của La minh chủ còn vang rền khắp bốn bể thì những kẻ như Tề Côn hầu như phải mai danh ẩn tích nếu không muốn chuốc nhục bại phải bị phế bỏ võ công vào tay La minh chủ. Còn bây giờ, sau khi La minh chủ đột tử được mười năm, thì bọn người như Tề Côn bắt đầu rục rịch xuất hiện, thoạt tiên còn xuất hiện lẻ tẻ, nhưng khi tình thế trên giang hồ ngày càng xáo trộn do phân tranh với nhau thì bọn chúng lại xuất hiện ồ ạt hơn.

Chúng xuất hiện công khai hơn, như trường hợp đêm nay là bằng chứng cụ thể minh xác nhất.Tuy mọi người có phần nào e dè trước sự xuất hiện của Huyết Trảo Đoạt Mạng Tề Côn, nhưng không vì thế mà Tề Côn dám làm ẩu. Thử Tề Côn xông đại vào bên trong thử xem sẽ biết đá biết vàng ngay. Bởi thế Tề Côn đâu có dại gì mà xông vào đem thân nhục thể làm bia cho mọi người tập kích, dẫu có lấy được Diệp Lạc kinh thì cũng phải xuống Khổng Tử thành mà thôi!

Do đó Huyết Trảo Đoạt Mạng Tề Côn chỉ dám phô trương nội lực để bắt mọi người thôi ngay cái trò đấu võ miệng mà để chờ nghe xem Hoàng Cao Sơn có cao kiến gì khả dĩ thi hành được không trong tình thế khẩn trương này.

Được một người như Huyết Trảo Đoạt Mạng Tề Côn ủng hộ, Hoàng Cao Sơn cũng không lấy gì làm cao hãnh lắm nhưng dù sao đây cũng là một dịp để được giãi bày, nên Hoàng Cao Sơn liền tranh thủ nói :

- Chư vị bằng hữu võ lâm! Cao kiến thì tại hạ không dám nhận, nhưng theo thiển ý của tại hạ thì... Lạc Diệp kinh gì đó nếu có thì phải được đặt để đâu đó trong ngôi miếu kia, chứ không thể nào nằm lẫn giữa muôn ngàn chiếc lá như thế này! Nếu chư vị bằng hữu võ lâm tin ở lời tại hạ thì tại hạ xin được trình bày một ý thô thiển sau đây...

- Đúng lắm! Hoàng bằng hữu nói phải lắm! Vậy chúng ta phải làm gì nào, xin Hoàng bằng hữu chỉ giáo cho!

Mọi người gần như nhao nhao lên, nói những ý tương trợ, nên Hoàng Cao Sơn càng thích chí hơn, Hoàng Cao Sơn bước lấn lên phía trước vòng người một bước, đoạn xoay người lại theo cung cách mà Hoàng Cao Sơn thường thấy La minh chủ đồng môn sư thúc dùng đến mỗi khi nói chuyện với số đông nhân vật võ lâm.

Nghĩ là Hoàng Cao Sơn vòng tay lại, thủ lễ giáp một vòng, đoạn sang sảng nói tiếp :

- Muốn khẳng định được điều này thì ngay bây giờ tất cả chúng ta hãy chỉ định ra một hoặc hai nhân vật. Hai nhân vật này sẽ xông vào trong miếu để tìm kiếm thử xem liệu có thấy Lạc Diệp kinh hay không?

- Không được!

- Sao lại là hai mà không là ba, là bốn hay là năm người?

- Thế nếu tìm được mà hai người này lại giấu đi nói là không có thì biết phải làm sao đây?

- Tại sao chúng ta không xông vào một lúc? Ai có phúc phận thì tìm được? Và ai tìm được thì người đó là chủ sở hữu của Diệp Lạc kinh...

- Cứ cho là tìm được đi, vậy sau đó thì chia nhau làm sao đây? Hoàng bằng hữu nói thử xem?

Chừng như đã liệu định trước là sẽ có những câu chống đối này, nên Hoàng Cao Sơn vẫn giữ nguyên dáng vẻ trầm tĩnh, đúng phong độ giữa người thuộc võ lâm chính phái, đợi cho tiếng náo nhiệt lơi dần đi vì những người vừa gây nhiệt náo đó đã nhìn thấy thái độ vững như bàn thạch của Hoàng Cao Sơn nên họ biết rằng họ Hoàng đã có ý định sẵn, do đó họ phải kiềm lòng lại chờ nghe xem nhân vật thuộc Côn Luân phái sẽ nói thế nào?

Hoàng Cao Sơn bèn nói tiếp như muốn đề tỉnh mọi người :

- Chư vị bằng hữu, đúng là tại hạ cũng không biết giải quyết thế nào trong trường hợp mà chư vị nêu ra nếu chư vị không tin nhau, luôn nghi kỵ lẫn nhau. Duy có một điều không hiểu chư vị có nhìn ra không? Đó là chư vị sẽ phải làm gì nếu ở đây không có Diệp Lạc kinh gì hết?

Toàn trường rộng hơn hai mươi trượng vuông kể cả ngôi Diệp Lạc miếu nhỏ bé cũ kỹ với nhân số lúc này lên đến gần bốn mươi người đều lặng im như tờ, mặc dù tất cả vừa xôn xao đó khi nghe Hoàng Cao Sơn bảo là không có hướng giải quyết nào sau đó nếu phát hiện được Diệp Lạc kinh.

Lúc này tất cả đều suy nghĩ đến vấn đề mấu chốt mà họ Hoàng thay mặt cho phái Côn Luân vừa nói ra...

Biết lời nói của mình đã có tác dụng, họ Hoàng bèn phân tích rạch ròi hơn :

- Chư vị thử nhớ lại xem là ai đã nói với chư vị rằng ở đây có Diệp Lạc kinh? Chư vị có ngạc nhiên không khi không hẹn mà đồng thời chúng ta có mặt ở chỗ này? Chư vị có cho rằng đây là kiếp vận của võ lâm không nếu mọi người trong chúng ta hàm hồ đấu đá nhau để tranh giành một vật không hề có? Tại hạ đã có linh cảm về việc này, bây giờ tại hạ còn thấu triệt hơn nữa. Vậy tại sao chúng ta không cử ai đó đầy đủ tín cẩn để giao phó việc kiểm chứng này? Nếu chư vị cho lời tại hạ nói là không đúng thì cứ tự tiện, chư vị cứ xông vào, ùa nhau xông vào bằng thích. Còn phái Côn Luân tại hạ xin đứng vòng ngoài, miễn cho sự tranh giành này.

Mọi người cùng nhau chiêm nghiệm những lý lẽ mà Hoàng Cao Sơn vừa đưa ra, họ càng chiêm nghiệm thì càng thấy rằng những lời của họ Hoàng quả là hữu lý. Và càng hữu lý hơn khi họ nghe Hoàng Cao Sơn bảo rằng phái Côn Luân của y sẽ đứng vòng ngoài, không đặt chân vào vũng nước xoáy, điều này, có nghĩa là, theo họ nghiệm ra, phái Côn Luân sẽ để mặc tình cho mọi người xâu xé và tranh giành, còn họ, bọn Côn Luân thối tha sẽ ở thế “Bang Duật tướng trì, ngư ông đắc lợi”.

Vỡ lẽ được điều này, không ai bảo ai mà trong thâm tâm mọi người ngấm ngầm tán đồng phương thức do họ Hoàng đề ra. Họ không dại gì mà không ở thế Tọa sơn quan hổ đấu như bọn Côn Luân quỷ quyệt!

Và cũng tự trong thâm tâm, chỉ biểu lộ qua những tròng mắt đảo lên lộn xuống của mọi người, họ bắt đầu dò xét lẫn nhau, tìm hiểu lẫn nhau để xem họ nên chọn nhân vật nào đây để giao phó trọng trách này? Nhân vật nào đủ cho tất cả mọi người tín nhiệm đây?

Cứ để mặc cho mọi người tại đấy chiêm nghiệm dò xét, chọn mặt gửi vàng, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào vẫn tiếp tục vận dụng chút trí khôn linh mẫn của mình để mưu tìm phương cách đoạt Diệp Lạc chân kinh hầu thỏa mãn tham vọng ấu trĩ của bản thân

Sau cùng, đến lúc mà Cừu Dĩ Đào định bỏ cuộc, thì một dịp may đã đến với Cừu Dĩ Đào. Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào cực kỳ cao hứng khi thấy vòng người đang đứng lặng đó bỗng xôn xao nhộn nhịp hẳn lên vì có một nhân vật đang đưa bước chân chen lấn vào vòng người. Vừa chen lấn nhân vật này vừa lên tiếng rổn rảng.Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào không bỏ lỡ dịp may hiếm có, nhân cơ hội đó vòng người đang náo động vừa lùi hẳn về phía sau, chếch hẳn về phía hữu, vừa dõng tai lên nghe xem nhân vật đó nói gì?

Cừu Dĩ Đào nghe nhân vật đó bảo :

- Bản nhân xin gánh lấy trọng trách này!

Liền ngay sau đó có nhiều tiếng cười khả ố và châm chọc nổi lên :

- Hố hố hố... ở đâu ra một cô nương có nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn cỡ quỷ Dạ Xoa thế này vậy? Hố hố hố...

- Ha ha ha! Xú cô nương ơi, cô nương có phu quân chưa vậy? Sao cô nương không ở nhà mà hầu hạ phu quân? Cô nương không sợ đấng phu quân của cô nương lẻn nhà đi tìm thê thiếp khác hay sao? Ha ha ha...

- Này, này! Thị tì đó là ai vậy? Bộ ả ta không hiểu rằng chúng ta cần một nhân vật đầy đủ uy tín hay sao? Bộ dạng của ả có uy tín gì với ai mà chen chân chen mồm vào đây vậy kìa?

Cừu Dĩ Đào không nhìn thấy gì nên không biết nhan sắc của cô ả ra sao mà có người lại chê là Quỉ Dạ Xoa? Nhưng Cừu Dĩ Đào biết chắc chắn ả ta không đẹp gì cho cam, và điều thứ hai mà Cừu Dĩ Đào biết chắc nữa, đó là ả nọ ắt phải nổi xung lên khi nghe những lời chói tai từ cửa miệng của những tay bại hoại đó phát ra.

Đúng là như vậy, vì Cừu Dĩ Đào nghe có một tiếng gió rít và... một vật trăng trắng bé nhỏ bỗng xuất hiện ngay trên cổng Tam quan.

Phập!

Vật đó vừa xuất hiện thì thần tình của mọi người đều ngẩn ngơ, tất cả đều sững sờ nhìn vào vật trắng đó không một ai lên tiếng nữa.

Họ không lên tiếng vì mọi người hầu như đã biết vật đó là vật gì rồi. Hoặc nếu không nghe biết đến vật đó như bản thân Cừu Dĩ Đào chẳng hạn, thì chỉ cần người đứng kề bên phụ nhĩ một câu ngắn gọn thì người ấy sẽ hiểu ra và tất nhiên là phải kiêng dè.

Không phải thế hay sao, vì chính bản thân Cừu Dĩ Đào chỉ cần nghe loáng thoáng có hai chữ thôi mà đã nghe rụng rời tay chân rồi còn gì.

Và Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào có dự cảm tình thế hôm nay càng lúc càng nguy kịch. Nguy kịch đến nỗi nếu Cừu Dĩ Đào không khéo léo ắt sẽ mất mạng như chơi.

Vì vật trắng đó chính là tiêu ký của một nhân vật giang hồ vào hàng thượng đẳng trên giang hồ cách đây bốn mươi năm dư. Nhân vật này nửa tà nửa chính, không bao giờ giết người vô tội nhưng hễ ai mà nhân vật này cho là có tội thì bất kể là Bạch đạo hay Hắc đạo, tà hay chính gì bất cần, nhân vật đó cũng hạ thủ ngay. Và thường thì mỗi khi nhân vật đó hạ thủ thì đối phương hết sống tức khắc.

Đó chính là Bạch Phướng Khô Lâu Ký. Và chủ nhân của nó là Bạch Phát bà bà (trước đây Bà bà là Bạch Phát Xú Cô, nhưng sau đó, khi La minh chủ chính thức đảm nhận chức vụ Minh chủ thì Bạch Phướng Xú Cô liền ẩn tích giang hồ, chỉ để lại vài lời cho La minh chủ đại ý nói: “Đã có La minh chủ giữ gìn giềng mối võ lâm, nên Bạch Phướng Khô Lâu Ký không cần xuất hiện nữa” Và phần thụ danh thay vì Bạch Phát Xú Cô, lại ghi là Bạch Phát bà bà. Lúc đó mọi người không ai hiểu lý do việc tự đổi danh xưng này, nhưng bây giờ họ đều hiểu. Thì ra Bạch Phướng Khô Lâu Ký không phải là biệt tích hẳn giang hồ, và vào thời điểm tái xuất hiện đó mọi người sẽ gọi chủ nhân của Bạch Phướng Khô Lâu Ký là gì nếu không gọi là Bạch Phát bà bà? Điều này cũng có nghĩa là vị cô nương vừa xuất hiện hoặc là hậu nhân hoặc là truyền nhân của Bạch Phát bà bà rồi). Không cần phải nói, Cừu Dĩ Đào tin rằng những tên bại hoại giang hồ rồi đây sẽ phải khốn khổ bởi Bạch Phướng Khô Lâu Ký, nhất là những kẻ độc mồm độc miệng, phát ngôn bừa bãi, không trông trước trông sau vừa mới rồi.

Rồi Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào nghe có tiếng Hoàng Cao Sơn cất lên :

- Cô nương đây là... Cô nương là gì của chủ nhân Bạch Phướng?

- Là gì cũng được! Các hạ xem thử xem Bạch Phướng Khô Lâu Ký đó là thật hay giả vậy? Bản nhân liệu có đủ tín nhiệm để nhận trọng trách này hay không? Hay là cần chứng nghiệm võ công? Nào!

Giọng nói cô ả đúng là rổn rảng khó nghe. Thanh đã thế thì sắc ắt phải tệ, tuy nhiên, uy lực của Bạch Phướng Khô Lâu Ký không phải là không còn, dù đã vắng mặt trên giang hồ những bốn mươi năm, cho nên Hoàng Cao Sơn đã khéo léo chống chế :

- Việc chứng nghiệm võ công thì... theo tại hạ chắc là không cần đâu. Vì không lẽ cô nương lại dám lòe thiên hạ bằng thủ đoạn thô thiển này? Vả lại, nếu phải ấn chứng võ học tại đây thì hóa ra tại hạ lại mâu thuẫn với lời nói của tại hạ khi nãy sau? Tuy vậy, tuy tại hạ tín nhiệm ở cô nương, nhưng còn mọi người ở đây thì sao? Nếu tất cả đều tín nhiệm ở cô nương, thì tại hạ không còn lý do gì để nói cả.

Rốt cuộc, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào cũng đã tụt người xuống cái hố sâu ngay phía sau Diệp Lạc miếu một cách an toàn và bí mật.

Trong khi Cừu Dĩ Đào tìm đường leo xuống sâu hơn nữa (không biết phải xuống sâu đến độ nào đây?) thì Cừu Dĩ Đào đã phải sửng sốt khi nghe tân chủ nhân của Bạch Phướng Khô Lâu Ký lên tiếng :

- Bản nhân nói thế thôi, chứ bản nhân không giành quyền đó cho bản nhân đâu. Đây là bản nhân chỉ muốn cảnh cáo sơ thôi, nếu nhân vật nào có được chỉ định và muốn giở trò thì đừng trách bản nhân đã không nói trước. Còn bây giờ bản nhân muốn đề cử một người đây, có được không?

- Xin cô nương cứ nói, nếu nhân vật mà cô nương chỉ định được mọi người tín nhiệm thì...

Hoàng Cao Sơn vừa nói được đến đây thì Cừu Dĩ Đào đã nghe vị cô nương nọ ngắt ngang lời để nói :

- Bất tất phải lắm lời, người mà bản nhân đề cử không ai khác hơn là các hạ, các hạ nghĩ sao?

Nghe đến đây, Cừu Dĩ Đào liền nghe tất cả mọi người đang đứng trên lư bằng đều nhốn nháo tán đồng.

Nhân đó Cừu Dĩ Đào tiến sâu xuống hơn được một trượng nữa, và Cừu Dĩ Đào ngay tức khắc phát hiện được một chỗ hõm sâu vào vách đá cheo leo dưới chân Diệp Lạc miếu, chỗ hõm sâu đó là do thiên nhiên tạo thành chứ không phải do con người tạo nên vì Cừu Dĩ Đào mò mẫm bằng tay đều cảm nhận được vách đá trong hõm đó đều liền trơn không có dấu hiệu đục đẽo. Tuy vậy, Cừu Dĩ Đào cũng tạm dừng chân ở đó, Cừu Dĩ Đào hy vọng tìm được điều khác lạ nào đó đang ẩn giấu trong chỗ hõm này.

Cũng trong lúc này, Cừu Dĩ Đào nghe mọi tiếng động ở bên trên im bặt, điều này có nghĩa là tất cả bọn họ đều đồng ý với giải pháp mà vị cô nương nọ đề xướng. Không phải họ đồng ý vì tín nhiệm gì ở người Côn Luân là Hoàng Cao Sơn mà là họ tín nhiệm ở Bạch Phướng Khô Lâu Ký thì đúng hơn. Thử hỏi, Hoàng Cao Sơn có ba đầu sáu tay gì mà dám qua mặt chủ nhân Bạch Phướng Khô Lâu Ký? Có họa là họ Hoàng quá tham, tham đến mờ mắt, mờ cả lý trí nên mới dám ghẹo vào người thừa kế Bạch Phướng Khô Lâu Ký. Điều này chắc hẳn là sẽ không bao giờ xảy ra.

Tuy nhiên, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào vẫn băn khoăn ở mỗi một điểm, liệu khi họ Hoàng báo tin là có Diệp Lạc kinh thì tình thế lúc bấy giờ sẽ ra sao? Hoặc trong trường hợp ngược lại nghĩ là khi họ Hoàng bảo là không có Diệp Lạc kinh thì bọn họ liệu có tin không? Tin thì dễ rồi, còn nếu như tất cả đều không tin thì... cuộc xô xát ắt sẽ phải diễn ra mặc cho họ Hoàng can ngăn, mặc cho uy lực của Bạch Phướng Khô Lâu Ký đang hiện diện ở đó.

Nghĩ đến đây Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào mới biết là mình dại, đã lỡ leo xuống đây rồi thì dù trên đó có hay không có Diệp Lạc kinh thì Cừu Dĩ Đào cũng phải ẩn thân dưới này, đợi cho đến khi mọi người tàn sát với nhau xong thì Cừu Dĩ Đào mới được quyền leo lên. Có nghĩa là nếu ở trên quả thực có có Diệp Lạc kinh thì Cừu Dĩ Đào hoàn toàn không có cơ hội để tranh đoạt.

Ôi! Thiên số! Khốn khổ thay cho sự linh mẫn của Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào đã tự dụ mình vào hoàn cảnh này.

Thế là Cừu Dĩ Đào bèn ngồi lỳ tại chỗ hõm đó ngưng thần dồn hết mọi thính lực lên để nghe ngóng kết quả ở bên trên cái đã, sau đó sẽ tính tiếp.

Tâm tự trầm năng, Cừu Dĩ Đào ở bên dưới cùng chung một tâm trạng với bọn người bên trên. Tất cả đều im lặng và chờ đợi. Sự chờ đợi làm thời gian như kéo dài hơn. Và tất cả đều bồn chồn lo lắng khi thấy đã quá lâu rồi mà vẫn không thấy Hoàng Cao Sơn xuất hiện, mặc dù lúc này vẫn còn là canh ba, vẫn chưa hết canh ba.

Khốn khổ nhất trong tất cả mọi người tại đương trường là Cừu Dĩ Đào, người ta chờ đợi vì người ta còn có hy vọng, còn Cừu Dĩ Đào thì không.

Chưa hết! Dưới này đã tối như hũ nút thế mà vầng trăng đang tỏ trên kia lại lần lần chui vào một đám mây dày đặc, khiến cho Cừu Dĩ Đào đã căng hết mục lục ra mà vẫn không nhìn được gì.

Bỗng... sự im lặng đang tồn tại đột nhiên bị một tiếng kêu lớn vang lên phá vỡ.

Đó là âm thanh của Hoàng Cao Sơn, môn nhân của Côn Luân phát ra.

Chương 3: Ẩn náu vô tình chiếm được Diệp Lạc kinh

- Đây rồi! Diệp Lạc kinh đây rồi!

Vừa nghe được âm thanh này, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào giậm chân thình thịch như vừa giẫm phải rắn.

Sự ồn ào nổi lên ở bên trên cùng một lúc với sự thất vọng nổi lên trong lòng Cừu Dĩ Đào.

Do giận dữ, do lo giẫm chân thình thịch nên Cừu Dĩ Đào không biết bên trên đã xảy ra những cuộc đối thoại gì sau khi họ Hoàng phát hiện được Diệp Lạc kinh.

Chỉ đến khi có tiếng khí giới chạm nhau chát chúa và tiếng la hét vang lên dậy cả đất trời thì Cừu Dĩ Đào mới bình tâm lại.

Cừu Dĩ Đào thầm nghĩ :

“Chưa hẳn ta đang ở đây là họa, và có những người ở bên trên chưa hẳn là có phúc hơn ta, ngỡ rằng mọi người sẽ có những giải pháp êm đẹp để giải quyết Diệp Lạc kinh không ngờ lại diễn ra những trận quyết tử như thế. Có khi ngư ông đắc lợi chính là ta đây. Rõ ràng là thiên số đã định sẵn. Hay lắm! Phen này có khả năng dưỡng tử của ta là Cừu Thạch được một phen mở mày mở mặt với thiên hạ, nếu ta được hoàng thiên ngó lại ban cho Diệp Lạc kinh”.

Nghĩ thế nên Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào đã bình tâm lại càng càng bình tâm hơn. Cừu Dĩ Đào lắng tai nghe tiếng xô xát càng lúc càng rộ lên nhiều hơn. Và hầu như mọi chỗ ở trên lư bằng đều có người giao đấu. Chốc chốc, Cừu Dĩ Đào lại nghe có người kêu rằng :

- Huynh đệ đâu! Mau mau bảo vệ cho Hoàng sư huynh mau! Cố bảo vệ Diệp Lạc kinh.

- Chạy đâu cho khỏi, hử? Hãy đưa Diệp Lạc kinh đây!

- Ái chà! Gớm nhỉ? Bọn Võ Đang lại còn có đòn đánh trộm nữa à?

- Mau mau dừng tay! Úy! Cô nương kia, sao không bảo mọi người đình thủ lại? Thế cô nương không định tranh đoạt Diệp Lạc kinh sao? Cô nương không thấy gã họ Hoàng giở trò đó sao? Cô nương không phải đã lên tiếng cảnh cáo trước rồi đó sao?

- Việc gì bản nhân phải làm thế? Bản nhân đâu có thấy gã họ Hoàng giở trò gì đâu? Là tại họ đấy chứ? Họ Hoàng vừa mới kêu lên thì họ đã ào ào lên như thiêu thân lao vào lửa vậy! Cứ để mặc họ tranh giành nhau, đúng là lũ bại hoại đáng chết cả!

Nghe đến đây, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào đã hiểu phần nào sự việc. Hóa ra vì lo sợ họ Hoàng nuốt trọn Diệp Lạc kinh nên đã có nhiều người xông càn lên làm ẩu. Và vì sự liều lĩnh này nên trường náo nhiệt này mới phát sinh ra như vậy. Vậy là Hoàng Cao Sơn không có lỗi gì cả, chẳng trách nào vị cô nương kia - chủ nhân Bạch Phướng Khô Lâu Ký đã không chịu ra tay trừng trị

Và bây giờ, sự tình đã diễn ra đến thế thì dù có Bạch Phướng bà bà đích thân xuất hiện tại đây thì cũng không sao giải quyết xuể. May ra thì chỉ có những nhân vật vào hạng thượng đỉnh như Phó minh chủ Từ Kinh Nhân, như Hư Không thánh tăng, Tùng Hạc Tiên Kiếm, Không Động Thần Quyền hoặc giả là Loạn Pháp Đả Cẩu Cổ Khả Lạc thì mới có cơ cứu vãn nổi tình thế này. Chứ nếu không là những nhân vật này, thay vào đó là các nhân vật chưởng giáo các môn bang phái khác thì cũng phải chịu bó tay thôi.

Trong tình thế này, ai khôn thì cố giữ mình đừng để sa chân vào vũng nước xoáy mới có hy vọng. Ngược lại, thì dù bất kỳ là ai đi chăng nữa hễ cầm giữ được Diệp Lạc kinh trên tay sẽ biến thành bia cho mọi người nhắm vào. Và như thế thì cái chết như đã nắm chắc trên tay không sao tránh khỏi.

Đúng là thế! Ngay lúc đó đã có một bóng người lao ầm ầm vượt qua chỗ ẩn thân của Cừu Dĩ Đào rồi mất hút vào khoảng không vô tận không thấy tăm hơi đâu cả. Kể cả tiếng phản âm từ đáy vực vọng lên Cừu Dĩ Đào cũng không sao nghe được.

Do tối mịt nên Cừu Dĩ Đào không biết kẻ vừa đẩy rơi xuống đó là ai, nhưng qua tiếng kêu thất thanh ở bên trên đưa xuống thì Cừu Dĩ Đào thừa khả năng để biết.

Tiếng kêu bên trên đã thất thanh hô lên :

- Hoàng sư huynh! Trời! Hoàng sư huynh bị hại rồi! Giết! Giết hết bọn chúng để báo thù cho Hoàng sư huynh!

Lẫn trong tiếng la thất thanh vẫn là tiếng chưởng kình, tiếng quyền phong và kể cả tiếng ám khí được ném ra.

- Chết! Cho mi chết!

- Đỡ này!

- Hự! Được! Xem kiếm đây!

Choang! Choang! Choang!

- Chạy đâu? Mau để lại Diệp Lạc kinh!

- Đừng hòng! Đỡ này!

- Ha ha ha... chạy đâu cho thoát!

Bùng! Bùng! Bùng!

- Teen kia! Buông bí kíp xuống!

Ầm!

Thế là trường nhiệt nào càng lúc càng sôi động, Diệp Lạc kinh không biết hình thù ra sao, nhưng đã thay đổi chủ nhân liền liền. Không một nhân vật nào cầm giữ được Diệp Lạc kinh đến hai cái chớp mắt.

Tiếp theo sau Hoàng Cao Sơn táng thây trong hố sâu muôn trượng là nhiều người nữa.

Có người đã chết trước khi bị đẩy rơi xuống vực, có người còn sống hẳn hòi nhưng do sẩy tay sểnh chân nên đành vùi thân nơi vực sâu thẳm. Những người còn sống khi bị rơi xuống còn làm cho bầu không khí đang kinh khiếp thêm kinh khiếp bằng những tiếng kêu man dại và rùng rợn của họ. Tiếng kêu kéo dài mãi, tiếng kêu của người này nối tiếp tiếng kêu của người khác vọng lại thành một chuỗi tiếng thất thanh, nghe hoàn toàn giống như tất cả mọi người đang ở tại địa ngục a tỳ vậy.

Không phải nói, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào càng lúc càng khiếp đảm hơn. Chỗ ẩn thân của Cừu Dĩ Đào chỉ cách bên trên chừng trượng rưỡi, vì thế, dù bên trên lúc dầu sôi lửa bỏng, tiếng động vang lên khắp cả góc trời, nhưng lúc này Cừu Dĩ Đào hoàn toàn nín lặng không dám ngo ngoe, ngọ nguậy. Cừu Dĩ Đào bế khí, bế mục và gần như bế luôn cả thính giác, thế mà Cừu Dĩ Đào vẫn không thấy hết sợ. Vẫn không thể tách mình ra khỏi hoàn cảnh bên ngoài. Muốn định thần quên đi bản ngã trong trường hợp này phải là người có nội công tối thượng kia, phải là bậc đại thành có định lực cao, nội công phải đạt mức lô hỏa thuần thanh thì mới có hy vọng, chứ còn Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào chỉ là hạng vô danh tiểu tốt, công phu võ học chỉ vào loại sơ đẳng, tuy có thể trên bậc tiểu sư xoàng xoàng nhưng Cừu Dĩ Đào cũng chỉ là một hạt cát bé nhỏ trong sa mạc bao la vô tận.

Do không thể tách mình ra khỏi hoàn cảnh ngoại lại, nên Cừu Dĩ Đào tuy bế nhĩ, nhưng vẫn nghe tiếng gió xao động khi có người rơi sượt qua chỗ ẩn thân, những thây ma và những con người sống này hầu như là rớt ngay bên mình Cừu Dĩ Đào, đến nỗi Cừu Dĩ Đào muốn thì có thể chỉ cần với tay ra là có thể lôi giữ họ lại ngay lập tức.

Nhưng lôi giữ họ lại để làm gì khi chỗ hõm này không thể chứa được quá hai người? Không lẽ cứu một người còn bao nhiêu sanh mạng khác thì thôi sao? Tốt hơn hết là không cứu ai cả. Để chỗ ẩn thân càng kín đáo, càng tốt cho sinh mạng của Cừu Dĩ Đào hơn.

Số người rơi xuống càng lúc càng nhiều, Cừu Dĩ Đào khó có thể đếm được chính xác, mười người? Hay mười lăm? Có khi lại là hai mươi người thì đúng hơn.
Nhưng người ở đâu ra đông vậy? Nếu đã đến hai mươi người rơi xuống thì tại sao ở bên trên tiếng xô xát nghe vẫn nhiều như lúc đầu? Hay chỉ mới có năm, ba người rơi xuống thôi?

Điều này Cừu Dĩ Đào không thể biết vì không thể đếm. Cho nên Cừu Dĩ Đào không màng lo nghĩ đến điều này nữa. Điều mà Cừu Dĩ Đào quan tâm nhất vào lúc này là chừng nào cái đám bên trên thôi không giao đấu nữa? Nghĩa là chừng nào Cừu Dĩ Đào có thể thoát thân được? Canh tư hay canh năm? Hay là phải kéo dài hết ngày mai, ngày kia?

Điều này Cừu Dĩ Đào cũng không biết chắc, do không biết chắc nên tốt hơn là Cừu Dĩ Đào cứ ẩn thân cho kỹ, chuẩn bị tinh thần trong trường hợp phải ẩn thân lâu hơn dự định.

Để giết thời gian, Cừu Dĩ Đào thử lắng nghe và nhận định thử xem ở bên trên đang còn hiện diện bao nhiêu người, và là tùy thuộc bang phái nào hoặc lộ số nào trên giang hồ?

Nhưng sau một lúc lâu nghe ngóng, Cừu Dĩ Đào buồn lòng vì Cừu Dĩ Đào với kiến văn thô lậu và kém cỏi, Cừu Dĩ Đào không thể nào phân biệt được chiêu kiếm nào là Đạt Ma kiếm, là Thái Cực kiếm, Lưỡng Nghi kiếm, Kim Long kiếm hay Trường Xà kiếm pháp. Đó là những kiếm pháp thành danh trên giang hồ mà nếu là người nào khác có kiến văn uyên bác hơn, họ có thể nghe được theo kiếm phong mà đoán định được. Riêng với Cừu Dĩ Đào với hỏa hầu kém cỏi trong Hỏa Phong kiếm pháp được Cừu Dĩ Đào tự xưng là Nhất Kiếm Sưu Hồn thì không thể được vậy.

Đó là nói về kiếm pháp là lãnh vực sở trường của Cừu Dĩ Đào mà còn như vậy, nói gì đến quyền pháp và chưởng pháp.

Quyền pháp thì Cừu Dĩ Đào có thể vanh vách các loại quyền pháp trứ danh. Đại để như Lôi Công quyền là quyền pháp trấn sơn của phái Không Động mà Tạ lão đã khổ luyện đến thập thành, đến mức được xưng tụng là Tạ lão thần quyền. Còn nữa, nào là La Hán quyền, Thái Cực quyền là những quyền phép khét tiếng đã được giang hồ truyền tụng.

Nhưng Cừu Dĩ Đào chỉ có thể kể ra bằng lời mà thôi, chứ làm sao Cừu Dĩ Đào có thể thấy mặt gọi tên, dù cho Cừu Dĩ Đào có tận mục sở thị đi chăng nữa cũng vậy.

Chưởng pháp cũng thế, Cừu Dĩ Đào biết có đến năm loại chưởng pháp mà sức công phá có thể nói là vô thượng. Nhưng biết chỉ để biết mà thôi, chứ bản thân Cừu Dĩ Đào đã được chứng kiến ắt Cừu Dĩ Đào không còn sống đến bây giờ. Là họa hay là phúc, Cừu Dĩ Đào không biết. Nhưng rõ ràng là Cừu Dĩ Đào còn quá kém cỏi, quá thua thiệt so với hàng ngàn người võ lâm giang hồ.

Nhưng dù sao, cũng có một điều khiến cho Cừu Dĩ Đào tìm được niềm an ủi, đó là bây giờ Cừu Dĩ Đào vẫn còn sống và có khả năng là người duy nhất còn sống sót đêm nay ở tại đây. Cừu Dĩ Đào hy vọng rằng sẽ được sống để sau này có thể kể cho mọi người nghe về diễn biến kinh hồn của đêm nay. Trong đó nổi cộm lên một nghi vấn mà Cừu Dĩ Đào vừa nghĩ ra là tại sao vào một đêm như thế này, trong dịp tranh đoạt một bí kíp võ học hãn thế thế này mà không hề có sự hiện diện của những tay đại cao thủ? Họ không nghe thông tin về Diệp Lạc kinh sao? Hay là trong sự việc này có ẩn chứa một ẩn tình nào đó mà họ đã biết trước, đã đoán biết được?

Nếu đã là thế thì Diệp Lạc kinh là việc có thật hay chỉ là một cái mồi giả nhằm phục vụ cho một âm mưu nào đó cực kỳ nguy hiểm cho mọi người?

Dù là giả, như Cừu Dĩ Đào vừa nghĩ, nhưng Cừu Dĩ Đào cũng phải bàng hoàng đến độ nổi gai đầy người khi nghe ở bên trên có tiếng kêu thất thanh của nhiều người cùng kêu lên :

- Ối! Mau chộp hắn lại! Hắn đang rơi xuống vực kia kìa! Mau mau! Diệp Lạc kinh đang ở trong tay hắn đó.

Người nào đó đang rơi xuống còn sống hay đã chết Cừu Dĩ Đào bất cần. Bây giờ mới tới lượt Cừu Dĩ Đào ra tay đây. Hay có thể nói là hoàng thiên bất phụ khổ nhân tâm. Thiên ý đã định sẵn, Cừu Dĩ Đào không cần tranh đoạt cũng vẫn có thể chiếm lấy Diệp Lạc kinh như thường, miễn là Cừu Dĩ Đào có phúc phần.

Đúng là Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào đã đến thời may mắn

Vù!

Soạt!

Phịch!

Tiếng gió xao động khi bóng người đó bay xuống, không có một âm thanh nào khác kèm theo, vậy là hắn hết sống.

Cừu Dĩ Đào chỉ cần nhắm hướng gió, đưa tay ra là đã chộp được đúng ngay thắt lưng của hắn, chỉ cần một cái lôi nhẹ là hắn đã nằm ngay ngắn trong hõm đá kề bên Cừu Dĩ Đào không sai chạy

Thật nhẹ nhàng và thật nhanh, Cừu Dĩ Đào gỡ được từ tay hắn một bọc vải có tẩm dầu rồi Cừu Dĩ Đào xô hắn một cái, thế là hắn tiếp tục con đường đi của hắn như lúc mới rồi.

Nếu ở bên trên có ai đó tiếc nuối Diệp Lạc kinh mà khom người nhìn xuống thì cũng không sao nhìn thấy gì trong bóng tối âm u. Còn nếu lắng tai để nghe thì người đó hoặc những người đó sẽ chỉ nghe thân người này vẫn tiếp tục rơi như không hề có lần gián đoạn ngắn nào cả.
Đúng như Cừu Dĩ Đào vừa nghĩ, ở bên trên có tiếng kêu của nhiều người lần lượt kêu lên :

- Thôi rồi! Vậy còn gì là Diệp Lạc kinh!

- Sao lại không còn? Cứ leo xuống dưới tìm thì làm sao lại không tìm được?

- Ngốc! Vực sâu đến ngày trượng, bộ dạng của ngươi mà leo xuống đó được sao?

- Ngươi nói ai ngốc? Cứ có đởm lược thì đừng nói là sâu đến ngàn trượng, dù là sâu hơn nữa ta vẫn dám leo xuống, có sao đâu!

- Đây! Thì ngươi cứ leo xuống đi, hay ngươi muốn ta giúp ngươi một tay?

- Giúp ta? Ngươi làm thế nào mà giúp ta được chứ? Ngươi có phương thế à?

- Cần gì phương thế? Chỉ cần một phát là ngươi sẽ xuống tới đó ngay kia mà!

- Ngươi...

- Ha ha ha...

- Thôi, nhị vị huynh đài đừng có mà đùa nữa được không? Chân kinh một khi đã rơi xuống đó thì không sao thu hồi lại được đâu!

- Sao lại thu hồi không được? Ngươi ngại nguy hiểm à?

- Không phải, là tại hạ muốn nói rằng dù nhị vị huynh đài có xuống được đáy vực thì Diệp Lạc kinh chỉ còn là đống nát vụn mà thôi, vì nó còn được làm bằng lá cây mà, chứ đâu phải bằng lụa hay bằng giấy gì đâu mà vẫn còn nguyên vẹn sau khi rơi xuống vực. Tại hạ nghĩ rằng thật là không đáng để leo xuống tận dưới đáy vực.

- Nói chí lý lắm! Diệp Lạc kinh đã nát bấy rồi chúng ta còn xuống đó làm gì, có khi đã nát bấy khi chúng ta tranh giành nãy giờ rồi

Nghe đến đây, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào phập phồng lo sợ, e rằng Diệp Lạc kinh đến tay thì cũng là vô dụng thôi, nên Cừu Dĩ Đào len lén nắn bóp nhè nhẹ bọc vải dầu mà Cừu Dĩ Đào đã nhét khá sâu vào bọc áo.

Đoạn Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào thấy tỉnh hồn lại ngay, bằng cảm xúc trên mười đầu ngón tay, Cừu Dĩ Đào cảm nhận được Diệp Lạc kinh vẫn còn nguyên vẹn. Thế là tốt lắm rồi! Rồi đây Nhất Kiếm Sưu Hồn sẽ đúng là Nhất Kiếm Sưu Hồn và dưỡng tử của Cừu Dĩ Đào là Cừu Thạch sẽ giương danh thiên hạ

Mải mừng vui nên Cừu Dĩ Đào không biết là bọn bên trên bỏ đi tự lúc nào, không gian ở bên trên và ở ngay chỗ ẩn thân của Cừu Dĩ Đào hoàn toàn im lặng, im đến độ Cừu Dĩ Đào ngỡ rằng đây là giấc chiêm bao mà thôi, chứ không phải là sự thật.

Bóp nhẹ tay một lần nữa, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào mới tin được những việc đã xảy ra đúng là sự thực, không phải mộng mị gì cả.

Có lẽ do số của Cừu Dĩ Đào còn may mắn, vì có chút ít ngờ vực nên Cừu Dĩ Đào vẫn còn nguyên vị tại chỗ cũ, nên việc Cừu Dĩ Đào vô tình chiếm được Diệp Lạc kinh không bị một ai phát hiện, nhất là đối với một nhân vật thần bí vừa mới đến.

Thân thủ của nhân vật thần bí này quả là bất phàm. Đúng là “Lai vô ảnh khứ vô hình”.

Chỉ khi nhân vật thần bí này phát lên một tràng cười dài đầy bí hiểm thì Cừu Dĩ Đào mới biết rằng bên trên vẫn còn có người hiện diện, không phải bọn họ đi hết như Cừu Dĩ Đào đã tưởng

Cố nén nhịn cái thở phào nhẹ nhõm, Cừu Dĩ Đào lại tiếp tục ngưng thần bế khí, Cừu Dĩ Đào e rằng không khéo che giấu hình tích thì Diệp Lạc kinh vừa mới vào tay sẽ bị kẻ khác chiếm đoạt mát, có khi sanh mạng cũng không còn nữa là đằng khác.

- Ha... ha... ha

Tràng cười của nhân vật bên trên càng lúc càng lớn và càng có vẻ rùng rợn hiểm độc hơn. Không những thế, với nội lực phổ vào tràng cười, Cừu Dĩ Đào tin rằng nhân vật đó là nhân vật chỉ vừa mới xuất hiện thôi. Bằng không nếu ngay từ đầu đã có sự hiện diện của nhân vật này thì làm gì đến phần Hoàng Cao Sơn lên giọng kể cả, làm gì đến lượt Bạch Phướng Khô Lâu Ký uy hiếp mọi người.

Hoặc giả nhân vật này đã xuất hiện ngay từ lúc đầu, nhưng cũng như Cừu Dĩ Đào, nhân vật này chỉ muốn ở bên ngoài quan chiến và hưởng lợi mà thôi. Nhưng nếu thế thì vô lý, nhân vật này sao lại cười thích thú như thế khi Diệp Lạc kinh không còn nữa?

Vậy thì không phải như Cừu Dĩ Đào ức đoán là nhân vật này muốn ở thế hưởng lợi về phần bí kíp rồi. Mà có thể là hưởng lợi về một số vấn đề khác, quan trọng hơn nhiều Diệp Lạc kinh. Nhưng đó là vấn đề gì?

Nghĩ mãi mà không sao lý giải được. Cừu Dĩ Đào thấy đầu óc bỗng trở nên mù mờ. Nhưng mù mờ đến mức nào đi nữa thì Cừu Dĩ Đào cũng mang máng có một linh cảm xấu. Nhưng xấu như thế nào thì Cừu Dĩ Đào không sao biết được. Có thể nhân vật đó đã phát hiện được Cừu Dĩ Đào chăng?

Lo sợ, Cừu Dĩ Đào càng nép mình sâu hơn, khuất hẳn vào chỗ lõm. Mặc dù tràng cười của nhân vật nọ đã tắt hẳn rồi. Và có khả năng là nhân vật đó đã bỏ đi rồi không chừng, nhưng đoán là đoán vậy, Cừu Dĩ Đào vẫn cứ tiếp tục ẩn thân, ẩn thân cho đến khi trời sáng hẳn.

Đã sáng bạch rồi, thế mà Cừu Dĩ Đào vẫn chưa dám lộ diện. Cừu Dĩ Đào e sợ bọn giang hồ còn quanh quẩn đâu đó ở dưới chân núi thì sao?

Đến chánh ngọ, Cừu Dĩ Đào vẫn kiên trì ẩn thân tiếp tục.

“Tốt hơn hết là chờ đến khi trời tối hẳn rồi ta hãy lên!”.

Nghĩ thế, nên Cừu Dĩ Đào đành chịu đói, chịu khát cho đến khi bóng đêm đổ ập xuống.

Thế là xong, Cừu Dĩ Đào an tâm khi bám lần vào vách đá leo lên

Đúng là không có ai là người sống ở tại Diệp Lạc miếu này nữa, chỉ còn lại độ mười cái thây ma mà thôi.

Không chút trù trì, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào quăng mình vào bóng đêm, nương theo bóng đêm ly khai hẳn Lữ Lương sơn Diệp Lạc miếu vẫn tiếp tục là Diệp Lạc miếu với từng chiếc lá lác đác rơi khi có cơn gió nhẹ đưa về...

Chương 4: Mưu sâu chước độc , Kinh quỷ khiếp thần

Vào một buổi sáng nọ, tại một bình đài nhỏ nằm lưng chừng một ngọn núi nhỏ có tên là Tiểu Thiên sơn, cùng với vầng dương đang ló dạng thì một tay thiếu niên vũ dũng cũng đã thức dậy.

Việc đầu tiên cần phải làm mà tay thiếu niên vũ dũng nọ thường vẫn làm trong sáu năm qua là chạy đến góc trong cùng của bình đài để bái lạy trước một nắm đất nhỏ. Sau khi nói lầm thầm gì đó trong miệng một lúc lâu, tay thiếu niên vũ dũng nọ liền đứng dậy, tiện tay vén lại cho gọn tà áo dài. Đoạn hét lên một tiếng lớn, tay thiếu niên bắt đầu vung tay múa chân theo từng thế từng thức quyền phát một

Quyền pháp càng về sau thì thân thủ của tay thiếu niên nọ càng trầm trọng hơn. Cũng như những giọt mồ hôi đang rịn trên khuôn mặt non tơ của chàng thiếu niên càng lúc càng lớn và nhiều hơn.

Để sau cùng, khi chấm dứt quyền pháp, tay thiếu niên đã tung mình bay ngược về phía sau, cùng lúc với động tác xoay người thì song quyền của tay thiếu niên ấy lần lượt tung ra nhanh như thoi đưa vào vách đá chắn lối phía sau bình đài.

- A!

Bình! Bình!

Công phu dùng cánh tay nhục thể vỗ như thôi sơn vào vách đá, gây lên hai tiếng chấn động ầm ầm, những tưởng làm cho tay thiếu niên nọ hài lòng mãn nguyện, nào ngờ tay thiếu niên đó chỉ xuýt xoa lắc đầu, biểu thị ý không được hài lòng khi nhìn vào vách đá, chỗ song quyền vừa chạm vào, vẫn phẳng lì không có vết tích gì cả.

Tuy không được hài lòng, nhưng không vì thế mà tay thiếu niên võ dũng nọ đình hoàn việc khổ luyện.

Lần này tay thiếu niên đó lại dùng hữu thủ với năm ngón tay xếp lại thẳng và nhọn như cương đao để bắt đầu sử những chiêu kiếm pháp

Soạt! Soạt!

Vèo!

Vù!

Phập!

Hết phạt ngang lại thích tới, xong lại chém sả xuống vào khoảng không. Đoạn lách ngang không cho tay chạm đất, tay thiếu niên nọ khéo léo đâm ngập bàn tay vào bó nứa được dựng ở một góc bình đài thay cho hình nhân.

Vẫn lắc đầu khi thấy đầu năm ngón tay không xuyên thấu bó nứa được bện chặt bằng dây thừng, tay thiếu niên vũ dũng lại rụt tay về, tiếp tục sử ra những chiêu thức khác.

Cứ thế, tay thiếu niên vũ dũng dường như không biết mệt, vẫn tiếp tục vừa sử kiếm vô hình, vừa xoay tròn quanh bó nữa để đâm ngập bàn tay vào bó nứa với khí thế dũng mãnh, y như là giao đấu với địch nhân thực thụ vậy.

Mãi đến khi mặt trời đã lên cao, chiếu xuống từng luồng ánh sáng gay gắt, tay thiếu niên nọ mới nghỉ tay.

Vừa xoay người lại định đi xuống khỏi bình đài, tay thiếu niên đó mới phát hiện có người đang đứng giữa bình đài. Người đó vẫn không lên tiếng, chỉ mỉm cười nhìn không chớp mắt vào thiếu niên nọ.

Thấy thế, tay thiếu niên bèn la lên một tiếng, đoạn phóng người như bay đến người nọ, lộ vẻ mừng rỡ khôn xiết :

- Dưỡng phụ đã về! A! Dưỡng phụ đã về rồi!

Người nọ - tuổi độ tứ tuần hoặc nhiều hơn một ít, trên đầu vai hữu ló lên một cái chuôi kiếm có cột một dải lụa màu xanh còn mới - cứ để cho tay thiếu hiện nọ vừa cầm tay vừa lắc lắc cho thỏa dạ vui mừng. Sau đó, vẫn im lặng, người đó xô nhẹ tay thiếu niên ra, rồi bước thẳng đến góc trong của bình đài. Dừng chân ngay trước nắm đất nhỏ, người đó đứng ngay người và nói :

- Hà muội! Đại huynh đã về đây rồi. Đại huynh đã hoàn thành sứ mệnh rồi. Chí nguyện bình sinh của Hà muội và của huynh đã có cơ thực hiện rồi. Thạch nhi của Hà muội rồi đây sẽ báo được thù. Cừu gia của huynh rồi đây sẽ được giương danh thiên hạ. Sao Hà muội không cố sống nữa với đại huynh, với Thạch nhi để nhìn thấy ngày hôm nay? Hà muội xem này! Hà muội xem Cừu Dĩ Đào này đem cái gì về cho Hà muội, cho Thạch nhi đây? Đây là bí kíp võ học Diệp Lạc kinh đây! Hà muội có nghe Cừu Dĩ Đào ta nói gì không? Hà muội thiên tại chi linh hãy phù hộ cho Thạch nhi để Thạch nhi báo cừu cho Hà muội. Hà muội có nghe ta nói không? Hà muội!

Tay thiếu niên nọ không hiểu từ lúc nào đã quỳ ngay bên cạnh người trung niên có tên là Cừu Dĩ Đào. Và lệ từ khóe mắt của tay thiếu niên đã từ lâu tuôn ra giọt vắn giọt dài theo lời độc thoại của vị trung niên.

Không! Không phải là độc thoại. Vì chính vị trung niên đang muốn nói với bộ hài cốt được vùi trong lòng đất thì đúng hơn.

Dứt lời thoại, vị trung niên quay sang nói với tay thiếu niên vũ dũng nọ :

- Thôi được rồi Thạch nhi, con hãy dập đầu lạy tạ mẫu thân con đi. Rồi theo ta về thảo lư, ta sẽ thuật lại mọi việc cho con nghe.

Y lời, tay thiếu niên có tên gọi là Thạch nhi bái lạy vong linh tiên mẫu, rồi với cái vẻ mặt buồn buồn, Thạch nhi theo chân Cừu Dĩ Đào

Tiếng là thảo lư nhưng thật ra là ngôi nhà khá rộng, khá tinh tươm. Mái bằng lá được bện bằng dây rừng, còn vách thì bằng đất nện. Cửa lớn cửa nhỏ thì bằng phên tre kết lại, vật dụng trong nhà thì hầu như không thiếu bất kỳ một món nào như những ngôi nhà khác. Đơn sơ, mộc mạc nhưng lại sạch sẽ khiến cho người lạ khi nhìn vào sẽ ngỡ rằng trong căn nhà này không thể thiếu vắng nữ chủ nhân.

Nhưng sự thật lại không phải thế, không hề có bất kỳ một nữ nhân nào hiện diện ở đây. Kể từ khi vị nữ nhân duy nhất đã khuất núi đến nay đã được sáu năm.

Chính vị trung niên có tên là Cừu Dĩ Đào đã nói lên điều này :

- Thạch nhi! Sáu năm qua, từ khi mẫu thân con lìa đời, ta nhận con làm dưỡng tử, ta không lúc nào nguôi được nỗi buồn, buồn nhất là việc ta không thể nào chỉ dạy con một thân võ học cao thâm để con có thể rửa hận cho mẫu thân con. Là nghĩa phụ như ta quá là hổ thẹn với thân mẫu con, càng hổ thẹn hơn khi thân là đại huynh kết nghĩa của thân mẫu con mà không thể báo thù cho nghĩa muội ta được. Thù nhân là ai, mẫu thân con không nói cho ta biết, nhưng ta cũng thừa hiểu là mẫu thân con lo sợ cho ta, sợ rằng ta nóng lòng rồi sẽ làm càn dẫn đến cái chết cho ta, nên mẫu thân con không nói. Nhưng kể từ hôm nay, ngay từ lúc ta lấy được Diệp Lạc kinh vào tay, ta tin rằng với võ công ta luyện được, ta sẽ tự tay báo thù cho mẫu thân con. Bằng như ta không làm được, không tìm được kẻ thù trong những ngày còn lại của ta thì sẽ đến lượt con. Thạch nhi! Con xem đây, đây là bí kíp Diệp Lạc kinh mà trời xanh đã thương tưởng ban tặng cho chúng ta.

Vừa nói Cừu Dĩ Đào vừa đặt bọc vải tẩm dầu lên bàn, ngay chính giữa hai người.

Phàm ai cũng thế, khi bắt được vật gì trân quý thì thường có hai cách để biểu lộ sự vui mừng. Đại đa số thì đã vội săm soi, ngắm nhìn, sờ tận tay thấy tận mắt, có như thế họ mới mãn nguyện hả lòng. Số ít người còn lại do điềm tĩnh hơn, thì cứ từ từ mà tận hưởng niềm vui. Có như thế, theo số người này họ mới thấm thía được niềm vui một cách trọn vẹn, Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào là loại người thứ hai và tay thiếu niên tên là Thạch nhi do được sự giáo dưỡng của họ Cừu nên cũng có thái độ tương tự.

Thạch nhi vẫn nhìn trân trối vào gói vải tẩm dầu đặt gần đó và lắng tai nghe dưỡng phụ thuật lại mọi chuyện.

Hóa ra, theo lời Cừu Dĩ Đào thuật thì theo lệ thường cứ sáu tháng thì Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào xuất sơn một lần, thời hạ dài ngắn không chừng. Có khi thì mười ngày, cũng có lúc Cừu Dĩ Đào vắng mặt đến cả tháng. Lần xuất sơn này, ngoài việc mua sắm lương thực, Cừu Dĩ Đào còn muốn tìm cho dưỡng tử mình một thanh trường kiếm để luyện tập. Nhưng không ngờ chỉ vì có ý tưởng này, Cừu Dĩ Đào phải đi quá xuống phía Nam một chút thì Cừu Dĩ Đào lại bắt được thông tin về Diệp Lạc chân kinh. Phần thì hiếu kỳ, phần thì cầu may, Nhất Kiếm Sưu Hồn bèn đi luôn đến Lữ Lương sơn. Và may mắn làm sao, Cừu Dĩ Đào lại chiếm được chân kinh bí kíp.

Suốt chặng đường dài từ Lữ Lương sơn về Tiểu Thiên sơn, Nhất Kiếm Sưu Hồn với bao nỗi lo toan đã đêm đi ngày nghỉ, đồng thời không lúc nào dám nảy ra ý mở bọc vải tẩm dầu ra xem thử qua Diệp Lạc kinh.

Cùng với nỗi lo này, Cừu Dĩ Đào cũng không sao ngăn được tâm trí mình khi cứ nghĩ đến tiếng cười quái đản vào đêm nọ tại Diệp Lạc miếu sau khi bọn giang hồ đã bỏ đi hết.

Với bao nỗi lo toan đó, nên đến ngày hôm nay tính ra đã hơn một tháng, Cừu Dĩ Đào mới về đến đây và đã quên mất việc phải tìm cho Thạch nhi một thanh trường kiếm như đã định trước.

Vừa nghe dưỡng phụ thuật lại xong, Thạch như bèn nói ngay theo ý nghĩ non nớt của nó :- Dưỡng phụ à! Đây đúng là có âm mưu gì đó rồi dưỡng phụ ạ!

- Thì ta cũng nhĩ thế, nhưng là âm mưu gì mới được? Phải chi việc Diệp Lạc kinh là không có thật thì ta còn có thể hiểu được, đằng này, rõ ràng là có Diệp Lạc kinh kia mà, biết bao người đã bỏ mạng vì Diệp Lạc kinh này vào đêm đó con có biết không, Thạch nhi?

- Hài nhi không biết là âm mưu gì, nhưng hài nhi có thể nói đây là trò ném đá giấu tay, giống hệt như kế nhất tiễn xạ song điêu vậy đó. Không chừng đâu là một âm mưu cực kỳ hiểm độc lắm thì phải.

- Hiểm độc ư? Ta biết con thừa hưởng được của mẫu tuân con sự minh mẫn hiếm có, nhưng sao ta không nghĩ ra cái trò gì hiểm độc vậy cả? Liệu có lầm không, Thạch nhi!

Dường như Thạch nhi rất tự tin vào nhận định của nó nên nó bằng giọng quả quyết :

- Một là người đó muốn lập một cái bẫy khiến quần hùng xâu xé nhau, còn người đó thì cười cợt sự ngu ngốc và tham lam của mọi người. Không phải hài nhi muốn nói đến dưỡng phụ đâu. Vì gặp phải trường hợp như dưỡng phụ, chắc hài nhi cũng làm vậy thôi. Vả lại, dưỡng phụ đã khôn khéo tránh được hiểm nguy rồi còn gì.

- Ừa! Thì ta đâu có trách gì hài nhi. Vả lại, đúng là ta đã khôn ngoan thực sự, nếu không thì ta đâu có diễm phúc này. Rồi! Cứ cho đây là cái bẫy của ai đó đi, nhưng không lẽ nhân vật đó đành không bỏ một chân kinh bí kíp như thế này sao? Vấn đề này thì con luận làm sao đây?

Vẫn không một chút khó khăn, Thạch nhi giải thích :

- Nếu mà bẫy này do hài nhi liệu tính thì điều chắc chắn mà hài nhi phải làm là sẽ không buông bỏ chân kinh đâu.

- Thế nhưng Diệp Lạc kinh đích thực đang ở đây, đang ở trong tay chúng ta đây, con nói sao nào?

- Không chắc đã là Diệp Lạc kinh thật. Có khi chỉ là vài chiếc là Bồ đề khô họ bỏ vào đó giả làm chân kinh vậy thôi.

- Ta không tin đâu. Thạch nhi, đừng làm ta lo chứ. Được rồi! Để ta xem thử xem, có khi là con đoán đúng, âu cũng là bài học cho ta vậy Nói xong Thạch nhi hồi hộp nhìn Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào mở lần bọc vải tẩm dầu và lôi ra một xấp lá Bồ đề còn tương đã ngả sang màu vàng úa. Và đúng là trên mặt chiếc lá đầu tiên có xâm lên một hàng chữ khá to: Diệp Lạc Chân Kinh

- Ha ha ha! Vậy thì cái gì đây? Có đúng là Diệp Lạc... Úy! Sao lạ vậy? Thạch nhi, mau tránh ra nào!

Soạt! Phập!

Thạch nhi nhìn được rõ ràng, nó thấy dưỡng phụ nó rút soạt thanh trường kiếm trên vai hữu xuống bằng tay tả, và cũng bằng tay tả, dưỡng phụ nó tự chém đứt cánh tay hữu ngay khuỷu tay.

Đoạn tay đó với bàn tay còn nắm chặt cuộn lá Bồ đề độ chừng mươi lá rơi ngay xuống nền đất đánh thịch. Và ngay trước mắt nó và dưỡng phụ, đoạn tay dần dần rỉ ra toàn máu đen bầm, đồng thời còn bốc lên một màn khói màu lam nhạt, khói lam bốc lên thì ít nhưng mùi hôi thối lại tỏa ra khắp nhà, khiến cho Thạch nhi và Cừu Dĩ Đào ngửi vào bắt buồn nôn.

Và chỉ trong chớp mắt, đoạn tay đã tiêu hết thịt lẫn da, còn trơ lại xương trắng hếu. Ngũ chỉ cũng thế, cũng còn là những đốt xương đang nắm giữ Diệp Lạc kinh. Trông mà phát khiếp đến kinh hãi

- Độc!

- Diệp Lạc kinh bị tẩm độc!

Cả hai đồng thời kêu lên như thế. Tiếng kêu của Thạch nhi thì như ngạc nhiên, như vừa vỡ lẽ ra một điều gì đó, mà đến bây giờ nó mới hiểu, còn tiếng kêu của Cừu Dĩ Đào thì tràn đầy nỗi uất hận cho kẻ nào đã quá thâm độc ngoài chỗ tưởng tượng của bản thân Cừu Dĩ Đào.

Cừu Dĩ Đào miệng méo xệch lai, nói thêm cho rõ :

- Thạch nhi! Xem ra đây đúng là mưu chước hiểm độc thật, người nào bày ra trò này xem ra còn tàn độc, còn tỏ ra thâm hiểm hơn con nghĩ nhiều. Hà! Vô độc bất trượng phu! Ta... ta quả là vô dụng, vô dụng và bất tài nữa.

Nhìn khuôn mặt của dưỡng phụ là Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào mà Thạch nhi bắt sợ. Trên khuôn mặt đó ngoài biểu hiện buồn chán, tuyệt vọng và phẫn uất ra, Thạch nhi còn nhìn thấy một vẻ nào đó quái đản lắm. Thạch nhi thấy rõ ràng còn có một vệt đen. Không lẽ dưỡng phụ đã tự đoạn tay một cách cấp tốc như thế mà chất kịch độc vẫn không ngăn chặn nổi sao? Thạch nhi bèn lên tiếng :- Dưỡng phụ! Dường như chất độc vẫn còn...

- Đúng vậy! Vì thế nên ta mới bảo là vô độc bất trượng phu. Thạch nhi! Số mạng ta thế là hết. Trách nhiệm của ta đối với con mà ta đã hứa với mẫu thân con thế là hỏng rồi. Con đừng quá bi thương như vậy, ta còn mấy lời muốn nói với con đây, con hãy nhớ cho kỹ.

- Dưỡng phụ đừng nói nữa, dưỡng phụ mau mau ngồi xuống và vận công trục độc đi. Mau đi dưỡng phụ.

- Thạch nhi! Điều con nói đó chỉ đúng với những chất độc bình thường, chỉ đúng với những ai có nội công vào hàng thượng đỉnh kia. Chứ còn bản lĩnh của ta thì... Ha ha ha... bản lĩnh của ta thì chỉ là đom đóm so sánh với vầng nguyệt, thì làm sao có thể tự vận công bức độc được? Bởi thế ta mới bảo là ta vô dụng, ta bất tài. Không xong rồi, Thạch nhi! Con, con hãy nghe... hãy nghe dưỡng phụ nói đây...

Lúc này hầu hết cả gương mặt của Cừu Dĩ Đào đã xạm đen hẳn lại, không còn chút nào hồng hào và quắc thước của Nhất Kiếm Sưu Hồn nữa.

Thất kinh tám đởm, Thạch nhi dù tâm linh mẫn tiệp đến đâu cũng không sao nghĩ được cách nào khác để cứu mạng cho dưỡng phụ. Cứu thế nào được mà cứu khi chính nó...

(Mất một trang)

- Này. Con... con hãy nhớ cho kỹ... cho kỹ nha Thạch nhi!

Dù không nhìn thấy Thạch nhi gật đầu hay có phản ứng gì, nhưng với chút lý trí sáng suốt còn lại Cừu Dĩ Đào tin chắc rằng Cừu Thạch dưỡng tử của ông sẽ tuân giữ đúng những lời dặn dò cuối cùng này. Cũng như lời khuyên bảo kế tiếp của ông, Cừu Dĩ Đào nấc lên một tiếng rồi cố nói thêm cho hết :

- Ự! Thạch nhi! Con hãy ly khai... ly khai nơi này. Hãy... hãy cố công khổ luyện, hãy cố tìm cho được... cho được minh sư. Bản lãnh của ta kém cỏi, nên sở học ta truyền... truyền cho con không là gì cả. Trong khi con còn phải... phải báo thù cho... cho mẫu thân con và báo thù... cho... cho... cho ta nữa

Không còn duy trì được nữa, thân hình vô hồn của Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào như một thân cây bị phạt ngang đã gãy gập xuống, đổ ụp xuống nằm gấp đôi lại trên nền nhà, từng mảng da thịt lần lần mủn ra, tiêu đi, khiến cho bộ y phục vốn đang phồng lên bởi thân người của Cừu Dĩ Đào bây giờ xẹp xuống, bẹp gí xuống dính sát vào khung xương cốt trông rất thảm hại.

Dù thương xót dưỡng phụ rất nhiều, dù đang trong tâm trạng cực kỳ bi phẫn nhưng Cừu Thạch nào dám nhào đến ôm chầm lấy thi thể dưỡng phụ. Không phải vì sợ chết mà Cừu Thạch không làm việc đó, mà chỉ vì Cừu Thạch không được quyền chết vào lúc này, Cừu Thạch còn trọng trách trên vai, mối thù cần phải báo phải gột rửa

Đau thương lắm thì Cừu Thạch chỉ còn cách ôm mặt la hét lên kinh hoàng căm hận, Cừu Thạch chỉ được quyền khóc, chỉ được quyền nói hết những gì chất chứa trong lòng, nói trong phẫn nộ, nói trong giận dữ, đầy nuối tiếc :

- Dưỡng phụ! Sao dưỡng phụ lại bỏ hài nhi đi như thế này? Sao dưỡng phụ không cố sống với hài nhi? Sao dưỡng phụ không chờ đến ngày hài nhi đền ân đức của dưỡng phụ? Hài nhi còn thay mặt mẫu thân mà đền đáp lại nghĩa cử cao đẹp của dưỡng phụ kia mà? Dưỡng phụ! Dưỡng phụ nhắm mắt rồi mà dưỡng phụ vẫn không biết lòng kính yêu của mẫu thân hài nhi đối với dưỡng phụ. Dưỡng phụ đâu biết rằng chỉ vì mẫu thân hài nhi cảm thấy bất xứng nên đã không dám chấp thuận sự bảo bọc của dưỡng phụ trong nghĩa phu thê. Nhưng trong thâm tâm mẫu thân đã luôn xem dưỡng phụ là phu quân, vẫn tự xem là thê tử của dưỡng phụ. Hài nhi cũng vậy, hài nhi luôn nghĩ rằng dưỡng phụ không chỉ là dưỡng phụ mà còn thâm trọng hơn thế nhiều. Kẻ thù hãm hại mẫu thân là ai? Dưỡng phụ biết không? Hắn chính là đồng môn sư huynh của mẫu thân hài nhi. Hắn đã táng tận lương tấm, mất hết thiên tính và nhân tính khi cưỡng hiếp và cố tình giết hại mẫu thân hài nhi. Hắn là thú chứ không phải là con người nữa. Lam Y môn! Hắn bây giờ là Môn chủ Lam Y môn. Vì hận hắn, vì không muốn phản bội sư tổ nên mẫu thân hài nhi không dám thổ lộ cho dưỡng phụ biết điều này, không dám truyền thụ lại cho hài nhi công phu võ học của Lam Y môn, dù rằng công phu võ học đó cao thâm hơn sở học một đời của dưỡng phụ. Hài nhi đã hứa với mẫu thân vào hơi thở cuối cùng của mẫu thân là hài nhi không được làm hại gì đến Lam Y môn ngoại trừ một mình hắn. Cũng như hài nhi đã hứa là sẽ không thổ lộ điều này cho dưỡng phụ biết. Nhưng lúc này, lời hứa đó đã không còn giá trị nữa rồi. Dưỡng phụ ơi, dưỡng phụ tha thứ cho hài nhi, hài nhi đành bất tuân ý định của dưỡng phụ thôi. Hài nhi sẽ phải đáp ứng lời trăng trối cuối cùng của mẫu thân. Mẫu thân muốn được táng chung một huyệt với dưỡng phụ. Để kiếp sau, mẫu thân và dưỡng phụ sẽ là phu thê của nhau, phu thê vĩnh viễn! Không phải dưỡng phụ từng mong muốn điều này sao? Dưỡng phụ...

Bi thương lắm rồi cũng phải đến lúc nguôi. Trời đã sập tối một cách nhanh chóng. Thi thể của Cừu Dĩ Đào không còn gì nữa ngoài bộ cốt khô.

Không dám trì trệ, vì Cừu Thạch sợ rằng chỉ chậm trễ một chút đến khi an táng cho dưỡng phụ thì đến một lóng xương cũng không còn. Mức độ hủy hoại của chất kịch độc này có thể đạt được đến điều này lắm chứ chẳng thể không.

Việc đầu tiên cần làm là Cừu Thạch lao ra ngoài tìm hai nhánh củi khô dùng như đôi đũa. Đoạn Cừu Thạch gắp từng đốt xương, từng đoạn xương nguyên là của dưỡng phụ bỏ gọn vào trong y phục của dưỡng phụ. Xong đâu đó, Cừu Thạch lưỡng lự trước khi lưu lại Diệp Lạc kinh giả để làm bằng. Rồi vẫn bằng hai nhánh cây khô, Cừu Thạch mang nguyên bọc hài cốt lên bình đại.

Không dám sử dụng trường kiếm của dưỡng phụ e chất kịch độc đã bám vào thân kiếm, Cừu Thạch lấy từ trong người ra một thanh chủy thủ nhỏ ánh lên màu lam... Đó chính là Lam Chủy lệnh, khi xưa mẫu thân của Cừu Thạch đã bị hại bằng thanh Lam Chủy lệnh này và cũng đã chống chọi với kình ngư dưới ghềnh Giải Oan bằng thanh Lam Chủy lệnh này. Cừu Thạch dùng thanh Lam Chủy lệnh là phương tiện để quật mộ mẫu thân, để an táng dưỡng phụ và mẫu thân chung một huyệt. Táng luôn thanh trường kiếm đã theo bên mình dưỡng phụ hằng ấy năm trời.

An táng xong thì trời đã vào canh ba. Trời đang lặng gió, tiếng rì rào của côn trùng rỉ rả vang lên. Sau đó, gió đang lặng vụt xuất hiện, tiếng côn trùng đang rỉ rả chợt im đi khi Cừu Thạch dùng lửa thiêu hủy căn nhà, chốn nương náu suốt mười mấy năm trường của ba người thân cận nhau là Nhất Kiếm Sưu Hồn Cừu Dĩ Đào, của Hà Thạch Cúc và của Cừu Thạch đứa con vô sinh hữu dưỡng của Cừu Dĩ Đào và là đứa con hữu sinh vô dưỡng của Hà Thạch Cúc.

Nhìn ngọn lửa ngày càng bốc cao, Cừu Thạch một lầ nữa ngập ngừng nửa muốn quẳng Diệp Lạc kinh vào thiêu hủy đi, nửa muốn lưu lại để làm bằng cớ tố giác một âm mưu hiểm độc của ai đó.

Cuối cùng Cừu Thạch vẫn quyết định lưu nó lại.

Vẫn bằng nhánh củi rừng, Cừu Thạch lợi dụng ánh sáng lửa chạy thành ngọn để xem xét kỹ lại chân kinh Diệp Lạc.

Đúng là chân kinh giả, được ngụy tạo thành bí kíp hòng phục vụ âm mưu hiểm ác của kẻ tàn độc. Xấp lá Bồ đề gồm mười hai lá, ngoài lá trên cùng có xăm hàng chữ Diệp Lạc kinh thì những chiếc lá bên trong đều có xăm hai chữ “Xọa tử” (đồ ngốc). Càng xem càng phẫn uất, Cừu Thạch những muốn phá hủy đi cho rồi, nhưng với quyết tâm sắt đá, Cừu Thạch cố dằn lòng nóng giận, đặt Diệp Lạc kinh giả vào bọc vải tẩm dầu như cũ.

Thò tay để rút bó lá Bồ đề từ bọc vải tẩm dầu ra hay để nhét vào thì rất dễ, nhưng khi chỉ dùng hai nhánh cây khô để cất vào thì quả là gian nan. Chỉ cần sơ ý một tí, chỉ cần khẽ chạm tay vào lá Bồ đề thì ngay tức khắc sẽ “Ô hô! Ai tai!” ngay.

Cập rập một lúc, không hiểu một sự tình cờ nào đó mà Cừu Thạch làm rơi từ trong bọc vải tẩm dầu ra một tờ hoa tiên nhỏ được xếp lại rất gọn.

Hồ nghi, Cừu Thạch dùng hai nhánh cây khô, một chặn một mở để trải rộng tờ hoa tiên ra. Và cuối cùng, Cừu Thạch đã đọc được những hàng chữ không đầu không đuôi, gần như vô nghĩ vậy. Những chữ đó là :

“Cửu chuyển! Hồng môn qua tả càn... tiền khảm thối hậu khôn... Trung cung đạp hữu chấn... tiền tam hậu tứ... tả nhất hữu nhị...”.

Và ở cuối cùng có ai đó, bằng nét chữ khác hẳn những nét chữ trên đã phê vào thêm hai chữ Xọa tử (đồ ngốc).

Cừu Thạch cau mày lại, lẩm nhẩm lại những câu chữ trên, để cuối cùng Cừu Thạch cũng phải công nhận rằng ai đã để lại những hàng chữ này đúng là xọa tử.

Xọa tử! Đúng rồi! Kẻ nào đã bày ra âm mưu hiểm độc này đã vô tình để lẫn vào đây mảnh hoa tiên này, chỉ là vô tình thôi. Và biết đâu, nhờ sự vô tình ngẫu nhiên này mà Cừu Thạch có khả năng khám phá được thủ phạm trong vụ âm mưu này.

Nhẩm lại một lần nữa những câu chữ vô nghĩa, Cừu Thạch hất mảnh hoa tiên vào đống lửa, hủy đi chứng cớ tố giác có nguy cơ trở thành phản tác dụng nếu để cho thủ phạm biết được việc này mà đề phòng.

Cố lại một lần nữa để nhét bó lá Bồ đề vào bọc vải tẩm dầu, Cừu Thạch e ngại thử chạm khẽ vào bọc vải một cái, không sao! Nhờ vào lớp dầu tẩm, chất kịch độc đã không còn nguy hiểm nữa. Yên tâm, Cừu Thạch cất vào bọc áo.

Nhìn lại mình, Cừu Thạch chỉ còn một thân trơ trọi, chỉ có duy nhất một bộ y phục dính da, chỉ có duy nhất thanh Lam Chủy lệnh làm vật tùy thân mà chưa chắc gì Cừu Thạch dám đem ra sử dụng. Với vài nén bạc trong người... Cừu Thạch không biết nên đi về đâu, phải đi về đâu bây giờ?

Nhưng, dẫu sao cũng phải ra đi, đã đến lúc phải ly khai chốn đau thương này rồi. Dù là Cừu Thạch phải đi về phương trời vô định.

Đi thôi!

Chương 5: Hội diện Bạch Phướng Khô Lâu Ký

Vào một buổi sáng, trong tiết trời ấm áp, chen chân giữa dòng người lũ lượt kéo nhau đi vào thành Giang Nam (thành này là một thành phố nhỏ ở ngay cửa ngõ đi vào miền Giang Nam rộng lớn và trù phú. Do là địa đầu của Giang Nam nên dân cư bản địa gọi tên thành này là thành Giang Nam hầu báo cho khách thập phương biết rằng, hễ đã đặt chân đến đây, đến thành này kể như là đã được đến Giang Nam rồi) là một hiệp khách thiếu niên.

Là hiệp khách vì thiếu niên này đang vận một bộ võ phục tuyền một màu đen tang tóc, vác trên vai một thanh trường kiếm đã bị han rỉ vài chỗ, đầu kia của thanh trường kiếm cũng được quấn gọn, nhỏ cũng bằng vải đen. Đầu tóc được búi gọn, cuộn lại thật chặt bằng một dây vải cũng màu đen. Gọi chàng là hắc y hiệp khách thì mới đúng nghĩa. Với vẻ ngoài lạ đời đó, thanh kiếm kỳ quặc đó, Hắc y hiệp khách cố giữ khuôn mặt non tơ thật trầm tĩnh mỗi khi bắt gặp cái nhìn khó chịu và chòng chọc của người đi đường xạ vào.

Và càng khó chịu hơn khi có người chẳng những nhìn mà còn nói lời châm chích :

- Xem thằng oắt con đó kìa, tài cán bao nhiêu mà dám vác kiếm đi nghênh ngang thế kia. Hừ! Trông thật chướng mắt!

- Ha ha ha! Ngươi không có mắt sao? Thanh kiếm cùn đó mà võ nghệ gì? Có chăng là hắn ta đang định đem kiếm đi bán thì có. Ha ha ha...

- Bán? Ai mua thanh kiếm rỉ đó mà hắn bán? Giết kiến còn không được thì họa là có điên mới có người mua.

- Hà... hà... hà... không điên đâu, thanh kiếm đó vẫn còn chỗ diệu dụng đấy chứ.

- Diệu dụng gì mà diệu dụng, hay là ngươi đã nhìn được đó là kiếm báu? Vô lý! Ngữ đó mà có kiếm báu sao?

- Ha ha ha! Báu đâu mà báu, là ta muốn nói là nếu đem thanh kiếm đó làm dao chẻ củi thì cũng diệu dụng. Ha ha ha...

- Ha ha ha... hữu lý, hữu lý!

Cứ thế đám khách nhân giang hồ đó gồm một bọn ba tên, lưng cũng mang trường kiếm, vừa đi ngay phía sau hắc y hiệp khách vừa cợt nhả châm chọc, rõ là bọn chúng muốn kiếm chuyện gây hấn rồi. Nhưng bọn chúng dần dần cụt hứng khi thấy đã châm chọc đến thế mà tay nọ vẫn như để ngoài tai, vẫn không nổi giận, không phản ứng gì.

Dường như không muốn bỏ dịp vui này là vui vẻ với bọn chúng, nên bọn chúng không nhanh không chậm vẫn tiếp tục đi theo hắc y hiệp khách nọ.

Việc đang diễn tiến không hiểu Hắc y hiệp khách biết hay không mà tay hiệp khách Hắc y đó vẫn cứ điềm tĩnh dấn bước.

Ở phía sau, bọn ba tên vẫn lải nhải châm chọc :

- Oắt con này chắc không nghe bọn mình nói gì đâu, có lẽ hắn bị điếc rồi.

- Không những điếc mà có lẽ hắn cũng câm nữa.

- Ha ha ha... Lung Á hắc y đại hiệp! Ha ha ha...

- Lung đại hiệp, Á đại hiệp! Hay lắm! Danh hiệu này cũng oai đấy chứ, Ha ha ha...

Tay hắc y hiệp khách dẫu có nghe đi chăng nữa vẫn cứ một mực điềm tĩnh, giả tảng như không hay, không biết, cứ tiếp tục đi.

Nhưng bọn ở phía sau vẫn không chịu buông tha, cứ tiếp tục chọc ghẹo.

Tay Hắc y hiệp khách chừng như không chịu nổi nữa, đã phải dừng chân lại.

Bọn ở phía sau hí hửng, ngỡ rằng đã đến lúc sôi nổi hào hứng rồi

Nhưng không phải thế, tay Hắc y hiệp khách một là không dám gây sự, hai là muốn tránh xa bọn người này bèn tạt ngang bước thẳng vào một tửu điếm nhỏ bên đường. Vào giờ này, chỉ mới là giờ thìn mà tay Hắc y hiệp khách đặt chân vào tửu điếm đúng là tréo ngoe cẳng ngỗng. Nhưng chỉ còn mỗi cách thế và Hắc y hiệp khách cũng biết thế, nên hy vọng rằng bọn kia sẽ không theo chân trừ phi bọn chúng cố tình gây hấn, cố tình làm một điều kỳ cục là bước vào tửu điếm vào giờ này như Hắc y hiệp khách.

Quả là như vậy, đúng là bọn kia cố tình muốn kiếm chuyện thật, khiến cho tay quản lý và mấy tên tửu bảo trong tửu điếm hết sức kinh ngạc.

Hai tên tửu bảo cố kiềm nén sự kinh ngạc mà chạy ra, lăng xăng lau bàn lau ghế và rối rít hỏi :

- Khách nhân dùng gì?

- Mời ngồi! Mời ngồi! Khách nhân muốn dùng điểm tâm à?

Không hiểu tay Hắc y hiệp khách có đúng là lung á như bọn kia đã nhận định hay không, chỉ lẳng lặng gật đầu, hàm ý tán đồng với lời gợi ý dùng điểm tâm của tên tửu bảo.

Còn ba tên nọ bắt buộc phải lên tiếng vì tên tửu bảo thứ hai đã hỏi xem bọn chúng muốn dùng gì kia mà. Một tên trong bọn bèn nói :

- Có món nào điểm tâm được thì mang lại đây cho bọn ta. Còn đứng đó hỏi cái gì, Đi!

Là tửu bảo thì làm gì dám đụng chạm với bọn giang hồ được, nên tên tửu bảo nọ đã phải cúi đầu vâng dạ trước tính khí thất thường của ba tên đó.

Đúng là tính khí thất thường thật, vì một tên trong bọn đã quay lại đầu đề cũ lúc nãy.

Hắn bảo đồng bọn :

- Ê! Hay là tên tiểu tử đó điếc thật?

- Điếc sao mà điếc? Ngươi không thấy tên tiểu tử đó nghe được tên tửu bảo nói đó sao?

- Vậy là hắn khinh thường bọn mình, hắn không xem Hoa Sơn phái chúng ta ra gì hết. Các ngươi tính sao đây? Có nên dạy cho hắn ta bài học không hử?

- Thôi! Bỏ đi! Nhìn kìa! Có đối tượng khác để làm trò rồi kìa.

- Đâu? Đối tượng nào khác đâu?

- Đó, không phải có người đang bước vào đó sao? Nhìn xem xem, xem có giống không?

Cả ba tên đồng quay nhìn ra cửa, tay Hắc y hiệp khách đúng là không có điếc cũng đã nghe và cũng quay đầu nhìn ra.

Một giai nhân có vóc dáng đẹp tuyệt trần đang từ từ bước vào tửu điếm, nhưng gương mặt của giai nhân đó thì đúng là không thể nào xấu hơn được. Thân thì thân ngọc, vóc thì vóc ngà, mảnh mai như tơ liễu, mà nhan sắc thì không khác nào xú quỷ. Quá xấu, xấu không thể tưởng, thảo nào tên nọ vừa hỏi đồng bọn xem giai nhân có giống không? Là ý hắn muốn hỏi có giống ác quỷ không đấy mà!

Hai tên kia vừa nhìn thấy nhan sắc này, bèn khả ố cười lên trêu cợt :

- Hố! Hố! Hố...

- Hí! Hí! Hí... Xú cô nương! Xú cô nương từ động tiên nào lạc bước lên dương trần vậy? Hí hí hí... hay là xú cô nương muốn tìm cho mình một đấng phu quân? Đây, đây! Tại hạ xin tự nguyện là ông tơ bà nguyệt dẫn tiến quý cô nương một vị lang quân xứng đôi nhé. Hí hí hí...

- Phải rồi,! Hay lắm, một đàng là xú cô nương, một bên là... Ha ha ha... một bên là Lung Á đại hiệp, quả là xứng đôi, đúng là trai tài gái sắc...

- Câm ngay, Bọn ngươi đúng là phường bại hoại, thối tha! Ai động chạm gì các ngươi mà bọn ngươi lắm mồm thế? Người ta tuy là quỷ diện nhưng lại có nhân tâm, còn bọn ngươi thì ngược lại, bọn ngươi có nhân diện nhưng lại chứa đầy quỷ tâm. Ta hận không thể giết hết những hạng người như bọn ngươi.

Hóa ra là Hắc y đại hiệp khách không lung, không á, không điếc, không câm. Hắc y hiệp khách đã không chịu nổi thái độ vô sỉ này của bọn chúng. Chẳng thà bọn chúng châm chọc Hắc y hiệp khách thì Hắc y hiệp khách còn cố chịu được, nhưng đây lại là chòng ghẹo một nữ nhân chân yếu tay mềm, vô phương thế tự vệ. Do đó, Hắc y hiệp khách đã vỗ mạnh vào cái bàn cắt ngang những lời khó nghe của bọn chúng lại còn mắng như tát nước vào bọn chúng nữa khiến cho bọn chúng ba tên đỏ mặt phừng phừng lên vì thẹn và vì giận nhưng đúng như lời Hắc y đại hiệp vừa nói, dù có muốn giết bọn này không sao thực hiện được vì... lực bất tòng tâm!

Hiểu được điều này, hiểu được sự yếu thế của tên tiểu tử láo xược, ba tên nọ rừng rừng đứng lên. Cả ba đều chạy đến vây kín quanh tay Hắc y hiệp khách lại.

Một tên nhanh tay đã vỗ ra một quyền vào chính diện của Hắc y hiệp khách :

- Cho ngươi chết này!

Vù! Bình!

Dù sao, Hắc y hiệp khách cũng không hổ là người trong giới giang hồ khi dám vác trên vai thanh trường kiếm. Hắc y hiệp khách vội vàng khoa tay, gạt quyền của tên nọ ra, đồng thời đáp lễ lại tên nọ một quyền! Nhưng tên nọ đâu dễ gì chịu ở thế hạ phong. Khi thấy hữu quyền bị cái khoa tay của đối phương gạt đi, hắn bèn tống nhanh tả quyền, chọi thẳng vào hữu quyền của Hắc y hiệp khách đang lao đến. Hai quyền chạm vào nhau kêu lên một tiếng rõ to. Và sự thắng bại lập tức được minh định.

Tên nọ thì vẫn đứng yên một chỗ, thân hình bất động, còn Hắc y hiệp khách thì bị đẩy lùi ra sau. Bị vấp vào chiếc ghế ngay sau lưng nên tay Hắc y hiệp khách liền ngã ngửa ra, chổng bốn vó lên trời.

Ầm! Xoảng...

Hai tên còn lại, một tên thì tung cước đá bay chiếc bàn làm thức ăn bên trên bay văng tứ tung, còn một tên thì lao nhanh thanh trường kiếm mà hắn đã kịp thời rút ra, dù bọn chúng đông nhân số hơn, đâm vào người Hắc y hiệp khách.

Vút...

May nhờ cái ngã ngửa bất ngờ nên Hắc y hiệp khách đã tránh được mũi kiếm của tên võ sĩ nọ trong gang tấc!

Nhưng kiếm pháp Hoa Sơn đâu chỉ có thế. Tên nọ thấy đối phương may mà tránh thoát, hắn bèn gầm lên một tiếng, đồng thời kéo thanh trường kiếm xuống phía dưới, định chỉ một nhát lia ngang là sẽ tiện đứt hạ thân đối phương.

- Chết này!

Vút... Vút...

Những tưởng Hắc y hiệp khách chịu thúc thủ, nào ngờ sẵn hai chân đang đưa lên cao, Hắc y hiệp khách cong vút lên trên đầu, nhượng cho trường kiếm của tên kia chém hụt vào khoảng không, rồi nhanh như chớp giật, Hắc y hiệp khách búng hai chân mạnh về phía trước, với sức đẩy của song thủ, thân hình Hắc y hiệp khách lập tức đứng ngay dậy ngay khi trường kiếm của tên kia lướt qua. Nhân đà, Hắc y hiệp khách vỗ vào Đan Điền của tên nọ một quyền cực mạnh.

Đã nói về quyền pháp ắt phải nói đến quyền phong, phải nói nội lực. Chỉ cần quan sát cú chạm quyền ngay lúc đầu tên nọ đã biết ngay cân lượng của Hắc y hiệp khách. Do đó hắn đã không một chút nao núng khi cố tình vận khí về Đan Điền, chịu cho quyền phong của Hắc y hiệp khách chạm mạnh vào.

Bùng...Đối phương thì bình chân như vại, còn Hắc y hiệp khách lại có cảm giác là cánh tay đã không còn là của mình nữa. Hữu thủ rát bỏng lên sau khi chạm vào luồng nội kình được đối phương đưa xuống Đan Điền, còn các khớp xương thì như rã rời ra, đau không thể tưởng.

Còn chưa hết, còn đang nhăn mày nhăn mặt vì đau thì Hắc y hiệp khách thấy thân hình chợt như hóa đá vì trường kiếm của đối phương đang lao nhanh như chớp vào ngay tâm thất của bản thân.

- Thế là hết đời rồi Cừu Thạch ơi!

- A!

- Ái! Cái gì vậy?

- Hự! Ối chao!

Cừu Thạch, Hắc y hiệp khách chính là Cừu Thạch đang trên đường xuôi Nam do biết rằng đời mình đến đây đã tận nên nhắm tịt mắt lại không dám chứng kiến thanh trường kiếm oan nghiệt kia đâm vào người. Và Cừu Thạch không kiềm được tiếng hét kinh hoàng vì không những đang bị trường kiếm phía trước uy hiếp sanh mạng mà thôi, ở phía sau, Cừu Thạch cũng đã kịp phát hiện có tiếng kình phong xô đến. Thế là tiền hậu gì cũng bị giáp công làm sao Cừu Thạch lại không kinh hoàng.

Thế nhưng tiếng hét vừa phát ra khỏi miệng thì Cừu Thạch đã nghe liền một lúc hai tiếng la hoảng nữa. Mà chủ nhân của hai tiếng la đó không ai khác chính là hai tên đang công vào Cừu Thạch

Quá đỗi bất ngờ, Cừu Thạch liền hé mắt nhìn thì thấy tên đứng trước mặt mày nhăn nhó, trường kiếm vẫn còn cầm trên tay, nhưng lại buông rũ xuống, còn tại hổ khẩu tay cầm kiếm của hắn thì đang phấp phới một dải vải trắng nhỏ dài độ hai thốn

Liếc nhìn lại phía sau Cừu Thạch phát hiện ra có đến ba người. Hai người thì là đồng bọn với tên cầm kiếm đứng trước mặt Cừu Thạch. Hai tên này thì một đang dùng tay chụp lấy bờ vai hữu của hắn, vì bờ vai hữu của hắn ngay huyệt Kiên Tĩnh cũng đang phấp phới dải vải trắng giống như trường hợp tên cầm kiếm, còn tên kia thì mặt mày xám ngoét, vừa liếc nhìn đồng bọn trong phút chốc đã bị người hạ thủ, vừa len lén nhìn người thứ ba là một nữ nhân đang đứng im ngay trước mặt hắn

Nữ nhân này, theo hướng nhìn của Cừu Thạch là nhìn nghiêng, nhưng Cừu Thạch cũng dễ dàng đoán được nữ nhân nọ chính là người mà bọn chúng vừa trêu chọc là Xú cô nương

Hóa ra nữ nhân đó không phải là hạng chân yếu tay mềm như Cừu Thạch nghĩ, trái lại, bản lãnh Trích Diệp Phi Hoa của cô nàng vào bậc này còn cao hơn Cừu Thạch không biết bao lần mà nói. Vậy mà do Cừu Thạch là hạng ếch ngồi đáy giếng đã vội vàng ra tay nghĩa hiệp, chút nữa là đã chuốc họa vào thân rồi

Ngượng chín người vì bị hố, thẹn đỏ mặt vì bản thân là nam nhi đại trượng phu thế mà bản lãnh không ra gì so với nữ nhân nên Cừu Thạch lách người sang một bên, nhặt lấy thanh kiếm rỉ và tay nải, không nói một lời, bỏ đi một mạch!

Vừa đặt chân đến ngưỡng cửa, Cừu Thạch có hơi khựng người lại một chút khi nghe một trong ba tên nọ lên tiếng ấp úng hỏi nữ nhân kia :

- Cô nương đây là... là... là Bạch Phướng chủ... chủ nhân?

Cừu Thạch càng thấy rúng động tâm can hơn khi nghe giọng nói khó nghe của nữ nhân kia đáp lại :

- Phải, tội xúc phạm đến bản nhân các ngươi có biết sẽ bị xử như thế nào không?

Trong thâm tâm, Cừu Thạch hiểu được ngay đây là Xú cô nương mà dưỡng phụ đã nói đến khi người cùng bọn giang hồ có mặt tại Diệp Lạc miếu Lữ Lương sơn để tranh đoạt Diệp Lạc kinh. Và vì Cừu Thạch đã nghe dưỡng phụ nhắc đến tuyệt kỹ và bản tánh ghét kẻ ác như kẻ thù của chủ nhân Bạch Phướng Khô Lâu Ký nên Cừu Thạch không còn lý do nào để lưu lại nữa. Bọn bại hoại kia thế nào cũng bị trừng phạt không sao tránh khỏi. Cừu Thạch còn có việc phải làm, có chủ đích để đi nên không thể lưu lại ở đây xem hết tấn tuồng này

Thế là tay nải treo trên kiếm, trường kiếm vác trên vai, Cừu Thạch xăm xăm bước đi

Được ước chừng năm dặm đường thì Cừu Thạch bỗng thấy có người đứng chắn lối đi, ngước nhìn lên, Cừu Thạch kinh ngạc kêu lên một tiếng :

- Là cô...

Ngừng ngang tiếng kêu vì Cừu Thạch thấy đối phương không có một biểu hiện gì là vui mừng hay biết ơn sau những hành động mới rồi của Cừu Thạch, ngoài cái gườm gườm xạ vào người Cừu Thạch

Do không hiểu ý tứ của đối phương, nên Cừu Thạch bèn lên tiếng :

- Ra cô nương là chủ nhân Bạch Phướng Khô Lâu Ký, hân hạnh! Bọn bại hoại nọ chắc cô nương đã xử trí xong

Nửa như chào mà như không chào, nửa như hỏi mà như không hỏi. Thế mà Cừu Thạch nói xong vẫn thấy thần sắc đối phương vẫn không thay đổi. Ngoại trừ việc đối phương đã chịu lên tiếng :

- Nghe ngươi nói thì hay lắm, nào là Xú diện Nhân tâm, thế nhưng ngươi cũng không dám tiếp cận ta. Tại sao vậy? Miệng ngươi nói một đằng mà lòng ngươi thì nghĩ một nẻo ư?

- Tiếp cận? Cô nương nói gì tại hạ không hiểu? Ai nói một đằng nghĩ một nẻo chứ?

- Vậy sao khi ngươi được ta giải vây xong, không nói một lời cảm tạ đã bỏ đi? Còn nữa, khi ngươi nghe thấy ta là chủ nhân Bạch Phướng Khô Lâu Ký thì ngươi lại còn bỏ đi nhanh hơn hử? Không phải là ngươi không muốn tiếp cận ta là vì ta là Xú diện hay sao?

Sắc mặt đã khó coi, thanh đã khó nghe, vậy mà lời lẽ của cô nàng xem ra còn khó nghe hơn gấp bội. Cừu Thạch như muốn dở khóc dở cười khi nghe cô nàng hỏi thật trớ trêu nghịch nhĩ. Cừu Thạch phải kiềm lòng lắm mới không phá cười lên và đáp :

- Lời cô nương trách thoạt nghe thì hữu lý lắm, nhưng tại hạ xin hỏi cô nương mấy điều. Thứ nhất, vì ai mà tại hạ phải ra tay, đến nỗi biết mình không bằng người, biết rằng sẽ phải chuốc họa vào thân mà tại hạ cũng phải ra tay? Thứ hai, thân phận cô nương là thế, võ công cô nương là thế mà bảo tại hạ phải tiếp cận cô nương là sao? Cô nương không thấy là cô nương đã dụ tại hạ vào tình thế khó xử đó sao? Tiên trách kỷ hậu trách nhân. Cô nương nên nhớ cho điều này, còn nữa. Thứ ba là... Mà thôi, ngôn xuất bất tận ý. Tại hạ không nói chắc cô nương cũng tự hiểu. Cáo từ!

- Đứng lại, Hừ! Không lượng sức mình, hậu hoạn tự gánh lấy, còn bảo là vì ta, còn quay ngược lại trách cứ ta! Điều thứ ba ngươi muốn nói là điều gì? Ngươi hãy mau nói mau, không đừng trách bản nhân ta hạ thủ không dung tình

Vừa lách người sang một bên định tiếp tục đi thì Cừu Thạch đã phải quay ngoắt người lại, đối diện với cô nàng, không chút sợ sệt dù cho cô nàng đã lên tiếng hăm dọa, Cừu Thạch trầm tĩnh hỏi lại :

- Cô nương thật lòng muốn nghe?

- Ngươi cứ nói, nếu ngươi không muốn chết!

- Ha... ha... ha...

- Câm ngay! Tại sao ngươi lại cười? Hay là ngươi đã chán sống rồi?

- Hừ! Vậy mà tại hạ lại nghe người trong giang hồ đồn rằng chủ nhân Bạch Phướng Khô Lâu Ký tuy có ra tay rất tàn độc nhưng không hề giết người vô tội. Hóa ra lại không phải là như vậy! Hừ!- Sao lại không phải chứ?

- Tại hạ đã phạm tội gì với cô nương? Hay là cô nương ỷ vào bản lãnh hơn người, muốn gán ghép tội cho ai cũng được?

- Thì ngươi...

- Tại hạ sao? Nước sông nước giếng đâu chạm nhau. Đường tại hạ đi, tại hạ đi. Tại hạ đụng phạm gì với cô nương mà hễ mở miệng ra là cô nương đòi giết chứ? Tại hạ nói không đúng sao?

- Được, mồm mép của ngươi cũng khá lắm, đởm lược cũng khá lắm. Nhưng... dù sao, ngươi có gan sao không nói luôn điều thứ ba cho ta nghe xem sao?

- Nói chứ! Nếu cô nương muốn nghe. Tại hạ đường đường là nam tử hán, đầu đội trời chân đạp đất, điều mình cho là đúng tại sao lại không dám nói cơ chứ? Nghe đây, điều tại hạ muốn nói là... ước mong sao cô nương tuy là Xú diện nhưng đừng có Quỷ tâm là được rồi! Bằng không...

- Ngươi...

- ... Bằng không cô nương có khi còn tệ hơn bọn người nhân diện quỷ tâm kia! Cáo biệt!

Bước đi được mười trượng hơn Cừu Thạch mới nghe hú hồn, như người vừa vượt qua được Quỷ môn quan vậy! Rõ ràng là Cừu Thạch đã quá liều lĩnh, gan dạ đến mức xem trời bằng vung. Nếu như vị cô nương nọ không vì quá sững sờ, không vì đuối lý khi nghe những lời nói xuất ngôn như phá thạch của Cừu Thạch thì có lẽ tính mạng của Cừu Thạch kể như là xong!

Thoát lần này, Cừu Thạch thầm hứa với lòng, Cừu Thạch sẽ không ngu dại như thế nữa. Chọc cho một người phải nổi xung lên thì có khi họ sẽ không còn nghĩ gì đến đạo lý nữa. Đến lúc đó, dù cho Cừu Thạch có trưng ra thật nhiều đạo lý đi chăng nữa thì cũng bằng thừa mà thôi. Một lần này thôi là quá đủ rồi

Soạt!

- Dừng lại đã nào!

Vậy là, tưởng đã thoát nhưng mà không phải. Một lần nữa sanh mạng của Cừu Thạch đang trong tình thế chỉ mành treo chuông!

Bậm gan Cừu Thạch lên tiếng hỏi khi nhìn thấy vị cô nương nọ đã lao đến và đứng chắn ngang đường :

- Cô nương còn điều gì muốn chỉ giáo?

- Đởm lược lắm! To gan lắm! Lần thứ nhất trong đời, ta mới thấy có người đứng trước mặt ta nói lên như vậy!

- Cô nương thứ cho! Trung ngôn nghịch nhĩ!

- Ngươi không sợ ta à?

- Sợ cũng chết, không sợ cũng chết, nếu cô nương cứ làm, bất chấp đạo lý!

- Ngươi không khinh ta?

- Tại sao lại khinh, khi cô nương là người có nhân tâm?

- Ngươi không ghét ta sao?

- Tại sao lại ghét?

- Vì ta là... Xú nữ?

- Hừ! Cô nương nói sai rồi! Đành rằng phàm những ai có sắc diện đẹp đẽ thường làm cho mọi người thương mến. Và đã là người thì ai mà lại không chuộng cái đẹp. Nhưng tại hạ thì khác, tại hạ nghĩ khác.

- Vậy ngươi có chịu kết bạn với ta không?

- Không!

- Ngươi...

- Khoan đã! Cô nương hãy chờ nghe tại hạ giải thích đã!

- Giải thích đi! Nếu ngươi nói không thông thì...

- Cô nương lại hăm dọa nữa rồi! Há cô nương không biết rằng tại hạ vốn là người không thích bị hăm dọa hay sao?

- ...

- Cô nương... nghe đây! Phàm những ai muốn kết bạn thì phải có những cái chung. Còn giữa cô nương và tại hạ không có cái gì chung cả. Mục đích thì đương nhiên khác nhau, hoàn toàn riêng biệt. Cô nương là nữ, tại hạ là nam. Khác nhau! Cô nương có võ công cao cường, tại hạ quá kém cỏi. Khác nhau! Vậy đó! Còn nếu giữa những người không có điểm nào chung lại muốn kết bạn với nhau tất có ý đồ, có mưu cầu một điều gì đó có lợi cho mình. Cô nương kết bại với tại hạ thì cô nương hoàn toàn bất lợi vì tại hạ không có cái gì để cô nương lợi dụng. Vật trân quý thì không có, võ công thì thua sút so với cô nương, xuất thân thì hèn kém. Ngược lại, được kết bạn với cô nương, tại hạ có muôn vàn điều lợi, nhưng tại hạ không có ý lợi dụng ai, không thích cầu cạnh ai. Nên xin cô nương đừng giận khi tại hạ bảo tại hạ không muốn kết bạn với cô nương!

- Nhưng chính đây là ta tự nguyện kia mà!

- Cũng vậy! Cầu cạnh hay được giúp đỡ thì cũng như nhau. Tại hạ vẫn kiên quyết từ chối!

- Vậy theo ngươi thì chừng nào ngươi mới dám kết bạn cùng ta?

- Khi nào giữa hai chúng ta có một điểm nào đó chung, hoặc giả tại hạ có võ công cao bằng hoặc hơn cô nương thì lúc đó tại hạ mới dám nghĩ đến điều này.

- Sao lại cao hơn? Nhỡ khi do ta lại bảo là ta không muốn cầu cạnh ngươi nên không thèm kết bạn cùng ngươi thì ngươi nghĩ sao?

- Nữ hơn nam là điều khó coi. Còn nam hơn nữ đó là chuyện thường tình

- Được! Lý lẽ hay lắm! Để xem lúc đó ngươi có giữ lời không cho biết, kẻo lại trách ta là...

- Cô nương lại hăm dọa...

- Ta quên! Vả lại ta đã quen miệng mất rồi, vì không phải người khác có cách đối xử như ngươi đâu! Nè! Ngươi tên là gì vậy? Còn danh tánh của ta là là Khả Mỹ Dung! Ngươi xem, giữa danh tánh và sắc diện của ta có tức cười không, có thấy chênh lệch quá đáng không?

- Không! Dung ở đây là chỉ về tấm lòng, chứ không phải là chỉ sắc diện bên ngoài. Khả Mỹ Dung, cái tên mới hay làm sao, có ý nghĩa lắm. Nếu cô nương giữ đúng như lời tại hạ vừa nói lúc nãy thì đúng là cô nương có tấm lòng Khả Mỹ Dung! Được rồi, dù sao tại hạ cũng biết tên của cô nương, vậy thì tại hạ xin đáp lễ lại... Cừu Thạch là đơn tánh, đơn tánh của tại hạ. Cô nương thấy thế nào?

- Cừu Thạch? Có họ Cừu ư?

- Có chứ! Dưỡng phụ của tại hạ là Cừu Dĩ Đào kia mà!

- Dưỡng phụ? Thế còn phụ thân ngươi đâu? Sao không mang họ của đấng sinh ra mình? Lạ vậy?

- Gia gia của tại hạ là... vô danh. Tiên mẫu đã bảo thế thì tại hạ đành biết thế.

- Tiên mẫu, hóa ra ngươi...

- Phải! Tại hạ đã nói rồi, xuất thân tại hạ hèn kém lắm! Cáo biệt!

Dường như không chịu nổi những câu hỏi liên tu bất tận của Khả Mỹ Dung và không muốn nàng gợi lại cái chết bi thương của mẫu thân và dưỡng phụ nên Cừu Thạch đã một lần nữa lách người bước đi

Lần này Khả Mỹ Dung không ngăn cản. Nàng ta chỉ kêu lên hỏi với theo Cừu Thạch :

- Ê! Ngươi định đi đâu vây?

- Kim Lăng!

Kim Lăng là một vùng phụ cận của Giang Nam, nằm chệch về phía Bắc, không cần hỏi thêm Khả Mỹ Dung cũng đã hiểu Cừu Thạch tại sao lại đi về đó rồi!

Vì chỉ độ mười lăm ngày nữa thì một cuộc thịnh hội võ lâm sẽ được diễn ra tại Kim Lăng. Và thịnh hội lần này nếu diễn ra tốt đẹp thì hiện tình võ lâm Trung Nguyên sẽ trở lại thời kỳ thanh bình trước đây dưới thời La minh chủ. Bằng ngược lại, những phân tranh giữa các môn phái với nhau, giữa hai phe Hắc đạo và Bạch đạo sẽ lại tiếp diễn với tình hình mỗi lúc mỗi gay gắt hơn, nguy hiểm hơn.

Đó là thịnh hội để chọn cho võ lâm Trung Nguyên một Minh chủ

Đứng nhìn theo bóng dáng của Cừu Thạch, Khả Mỹ Dung nhoẻn miệng cười thần bí, đoạn nàng vút bổng người lên cao, phi thân đuổi theo chàng!

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau